G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 49
Hai Cửa Phải Đóng, Hai Cửa Phải Mở

Tương Ưng Chánh Cần

Sammappadhānasaṃyutta — SN 49 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộTương Ưng Chánh Cần

Người ta thường nghĩ tinh tấn trong đạo Phật là một việc: cố gắng thêm. Đức Phật chia nó ra làm BỐN. Và bốn ấy không phải bốn mức mạnh yếu của cùng một sức đẩy — mà là bốn CÔNG VIỆC khác nhau, xếp theo một thứ tự cố định.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Đại Phẩm, chương 49; gồm 54 bài kinh
  • Năm phẩm — Sông Hằng Rộng Thuyết (12 bài) · Không Phóng Dật (10) · Việc Làm Cần Sức Mạnh (12) · Tầm Cầu (10) · Bộc Lưu (10). Cộng lại: 12 + 10 + 12 + 10 + 10 = 54.
  • Chỗ đứng — một trong bảy nhóm của ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đứng cạnh Niệm Xứ (SN 47), Như Ý Túc (SN 51), Căn (SN 48), Lực (SN 50), Giác Chi (SN 46)Đạo (SN 45)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bốn chánh cần được kể ra bằng một câu công thức lặp lại suốt năm mươi bốn bài kinh, không đổi một chữ. Vị Tỳ-kheo, đối với các ác bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Đối với các ác bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận. Đối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi. Đối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn. Xin để ý cái khung: ácthiện nhân với chưa sanhđã sanh — hai lần hai là bốn. Không thừa một ô, không thiếu một ô. Đó là lý do có đúng bốn chánh cần, không phải ba, không phải năm. Và xin để ý một điều nữa mà bản Việt giữ rất kỹ: mỗi việc trong bốn việc ấy đều bắt đầu bằng “khởi lên Ý MUỐN” — Pāli là chandaṁ janeti. Rồi mới tới tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Nghĩa là chuỗi năm động từ ấy khởi đi từ lòng muốn, chứ không khởi đi từ sự nghiến răng. Còn năm mươi bốn bài kinh thì nói gì? Đây là chỗ người mới đọc hay ngỡ ngàng: chúng nói cùng một điều. Đây là một “chuỗi lặp” (peyyāla) — một cách trình bày rất riêng của Tương Ưng Bộ. Phẩm đầu lấy ví dụ sông Hằng: sông Hằng thiên về phương Đông, hướng về phương Đông, xuôi về phương Đông; cũng vậy, vị Tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần thì thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Sáu bài cho sáu con sông xuôi về phương Đông, rồi sáu bài cho sáu con sông xuôi ra biển — chính bài kệ tóm tắt trong kinh văn ghi “cha ninnā ca samuddato”, sáu bài xuôi phương Đông và sáu bài xuôi ra biển. Cộng lại đúng mười hai bài của phẩm thứ nhất. Bốn phẩm sau đổi ví dụ mà giữ nguyên bốn chánh cần: phẩm Không Phóng Dật, phẩm Việc Làm Cần Sức Mạnh, phẩm Tầm Cầu, phẩm Bộc Lưu. Người biên tập thời xưa không viết lại cả bài; họ ghi một dòng chỉ dẫn — chính kinh văn Pāli còn giữ dòng ấy: “Chuỗi lặp sông Hằng của Tương Ưng Chánh Cần cần được khai triển theo bốn chánh cần.”

Bốn chánh cầnHai lần hai, không thừa không thiếu một ô

Pháp ÁC, bất thiệnPháp THIỆN
CHƯA sanh1. Ngăn — không cho sanh khởi (saṁvarappadhāna)3. Khởi — làm cho sanh khởi (bhāvanāppadhāna)
ĐÃ sanh2. Dứt — đoạn tận (pahānappadhāna)4. Nuôi — an trú, không vong thất, tăng trưởng, quảng đại, viên mãn (anurakkhaṇāppadhāna)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 49.1:1.3–1.4
“Cattārome, bhikkhave, sammappadhānā. Katame cattāro?
—Này các Tỷ-kheo, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn?
“Mendicants, there are these four right efforts. What four?
SN 49.1:1.5 (chánh cần thứ nhất · NGĂN)
Idha, bhikkhave, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise.
SN 49.1:1.6 (thứ hai · DỨT)
Uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities that have arisen are given up.
SN 49.1:1.7 (thứ ba · KHỞI)
Anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities arise.
SN 49.1:1.8 (thứ tư · NUÔI — câu dài nhất)
Uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất (asammosāya), làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed.
SN 49.1:2.1–2.2 (ví dụ sông Hằng)
Seyyathāpi, bhikkhave, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu cattāro sammappadhāne bhāvento cattāro sammappadhāne bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro.
Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
The Ganges River slants, slopes, and inclines to the east. In the same way, a mendicant who develops and cultivates the four right efforts slants, slopes, and inclines to extinguishment.
SN 49.12:3.1 (dòng chỉ dẫn còn trong kinh văn)
(Sammappadhānasaṁyuttassa gaṅgāpeyyālī sammappadhānavasena vitthāretabbā.)
(Chuỗi lặp sông Hằng của Tương Ưng Chánh Cần cần được khai triển theo bốn chánh cần.)
(The Ganges repetition series of the Right Efforts should be elaborated in terms of the right efforts.)
SN 49.12:4.2 (kệ tóm tắt — đếm ra 12 bài)
…cha ninnā ca samuddato;
…sáu bài xuôi về phương Đông, và sáu bài xuôi ra biển.
…six slanting east, and six to the ocean.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sammappadhānachánh cần — sự cố gắng đúng hướngsammā (chánh) + padhāna (nỗ lực); bản Việt dịch “chánh cần”, có nơi gọi “tứ chánh cần”
chandaṁ janetikhởi lên ý muốnchữ đứng ĐẦU cả bốn việc — lòng muốn có trước, sức cố gắng theo sau
vāyamatitinh cần, ra sứccùng gốc với vāyāma trong chánh tinh tấn của Bát Chánh Đạo
vīriyaṁ ārabhatiphát khởi tinh tấnārabhati = bắt đầu, khởi sự
cittaṁ paggaṇhātinâng tâm lên, quyết tâmnghĩa đen: nhấc cái tâm lên
padahaticố gắng, dốc sứccùng gốc với padhāna
anuppanna / uppannachưa sanh / đã sanhhai cột của cái bảng bốn ô
asammosakhông vong thất, không quên mấtchữ riêng của chánh cần thứ tư
nibbānaninna · nibbānapoṇa · nibbānapabbhārathiên về · hướng về · xuôi về Niết-bànba chữ của ví dụ dòng sông
peyyālachuỗi lặp, phần chép tắtlối trình bày làm nên 54 bài của chương này

Xin thưa điều thứ nhất, cũng là điều dễ bỏ sót nhất. Bốn chánh cần là BỐN CÔNG VIỆC KHÁC NHAU, không phải bốn mức mạnh yếu của cùng một sức đẩy.

Và bốn ấy sinh ra từ một cái bảng hai nhân hai. Ácthiện, nhân với chưa sanhđã sanh. Hai lần hai là bốnkhông thừa một ô, không thiếu một ô.

Xin thưa cho dễ nhớ: HAI CỬA PHẢI ĐÓNG, HAI CỬA PHẢI MỞ. Ngăn cái ác chưa tới, dứt cái ác đã tớiđó là đóng. Khởi cái thiện chưa có, nuôi cái thiện đã cóđó là mở.

Và xin để ý điều này, vì nó nói đúng bệnh của phần đông chúng ta. Người ta thường chỉ làm việc thứ HAIchữa cái ác đã lỡ xảy ra. Việc thứ NHẤT, ngăn từ khi chưa sanh, thì ít ai để ý.

Xin để ý câu thứ tư, vì nó DÀI NHẤT trong bốn câu. Nó kể sáu chữ liền: an trú, không vong thất, tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn. Kinh văn dài như vậy là có ý.

Và cái ý ấy rất thật với đời sống đoàn. Làm cho một điều thiện SANH KHỞI là việc của một hôm. GIỮ cho nó khỏi mất là việc của nhiều năm. Chánh cần thứ tư nói riêng về chuyện giữ.

Xin thưa chữ hay nhất của bài kinh: cả bốn việc đều mở đầu bằng “KHỞI LÊN Ý MUỐN”chandaṁ janeti.

Nghĩa là LÒNG MUỐN đi trước, sức cố gắng theo sau. Không phải nghiến răng trước rồi mong lòng muốn tới sau. Đây là chỗ Phật giáo không dạy khổ hạnh ép xác.

Còn năm mươi bốn bài kinh thì sao? Xin thưa thẳng, vì bác đọc sẽ thấy ngay: CHÚNG NÓI CÙNG MỘT ĐIỀU.

Đây là một “CHUỖI LẶP” (peyyāla)lối trình bày rất riêng của Tương Ưng Bộ. Đổi ví dụ, giữ nguyên giáo pháp.

Phẩm đầu lấy dòng sông làm ví dụ. Sáu bài cho sáu con sông xuôi về phương Đông, sáu bài cho sáu con sông xuôi ra biểnvà chính bài kệ tóm tắt trong kinh văn đếm giùm ta: “cha ninnā ca samuddato”. Sáu với sáu là mười hai, đúng số bài của phẩm.

Và xin dừng lại ở chính hình ảnh ấy, vì nó là bài học chứ không phải đồ trang trí. Sông Hằng không CỐ chảy về phương Đông. Nó nghiêng về phương Đông.

Cũng vậy, bốn chánh cần tu tập lâu ngày KHÔNG ĐẨY người ta tới Niết-bàn. Chúng làm cho người ta NGHIÊNG về phía ấy. Xin thưa, đó là hai chuyện rất khác nhau — và đó là lý do bài kinh chọn con sông chứ không chọn cỗ xe.

  • “Chánh cần là cố gắng cho nhiều.” Không — là bốn việc khác nhau, và biết lúc này đang cần việc nào trong bốn.
  • “Tinh tấn là dẹp bỏ ý muốn.” Cả bốn việc đều mở đầu bằng chandaṁ janeti — KHỞI LÊN ý muốn. Lòng muốn thiện là chỗ bắt đầu, không phải chỗ phải trừ.
  • “Năm mươi bốn bài là năm mươi bốn bài giảng.” Đây là chuỗi lặpmột giáo pháp, nhiều ví dụ. Chính kinh văn còn giữ dòng chỉ dẫn “cần được khai triển theo bốn chánh cần”.
  • “Điều thiện đã có rồi thì xong việc.” Chánh cần thứ tư là câu DÀI NHẤT, và nó nói trọn về chuyện GIỮ.
  • Ngành Oanh. Vẽ một ngôi nhà bốn cửa: hai cửa phải đóng (điều xấu chưa tới, điều xấu đã tới) và hai cửa phải mở (điều tốt chưa có, điều tốt đã có).
  • Ngành Thiếu. Cho các em điền cái bảng bốn ô bằng chuyện tuần này của chính mình. Ô nào các em bỏ trống nhiều nhất? Thường là ô thứ nhất — ngăn từ khi chưa sanh.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về chánh cần thứ tư của cả đơn vị: nếp tốt nào mình đã khởi được rồi để mất? Và giữ bằng cách nào?
  • Kể bốn chánh cần, và cái bảng hai nhân hai sinh ra chúng.
  • Chữ nào đứng đầu cả bốn việc, và vì sao điều ấy đáng để ý?
  • Vì sao câu thứ tư dài hơn ba câu kia?
  • Vì sao một giáo pháp lại có tới năm mươi bốn bài kinh?
  • Vì sao bài kinh chọn hình ảnh dòng sông chứ không chọn cỗ xe?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên từng câu của công thức bốn chánh cần. Số bài đã cộng lại hai cách: năm phẩm 12 + 10 + 12 + 10 + 10 = 54, đúng bằng khoảng 49.1–49.54; và số bài của phẩm đầu đếm theo chính bài kệ tóm tắt trong kinh văn (cha ninnā ca samuddato — sáu và sáu). Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem theo năm phẩm: 49.1–12 · 13–22 · 23–34 · 35–44 · 45–54. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.