G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 46.51
Tương Ưng Giác Chi · Nuôi Lửa Hay Dập Lửa

Kinh Món Ăn

Āhāra Sutta — SN 46.51 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Món Ăn

Bài kinh hỏi một câu rất thực tế: cái gì làm năm triền cái lớn lên, và cái gì làm bảy giác chi lớn lên? Rồi ví bằng đống lửamuốn cháy thì bỏ củi vào, muốn tắt thì đừng bỏ.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Giác Chi (SN 46), bài 51
  • Cấu trúcmón ănkhông phải món ăn cho mỗi pháp
  • Đếmnăm triền cáibảy giác chi

Kinh Ðồ Ăn (Āhāra Sutta, SN 46.51) được Thế Tôn giảng tại Sāvatthi. Ngài mở đầu: "Ta sẽ giảng cho các Ông, này các Tỷ-kheo, các món ăn và không phải món ăn của năm triền cái và bảy giác chi. Hãy lắng nghe." Ý chính rất giản dị và rất thực tế cho người tu: tâm ta giống như một cái gì đó được nuôi bằng thức ăn. Năm triền cái (dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi hoặc) và bảy giác chi (niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả) đều lớn lên nhờ được "cho ăn", và đều yếu đi khi bị "bỏ đói". Món ăn ấy chính là cách ta để tâm. Kinh chia làm bốn phần rõ ràng. Phần một: món ăn nuôi lớn năm triền cái — tịnh tướng nuôi dục tham, chướng ngại tướng nuôi sân, sự không hân hoan biếng nhác chán nản ăn quá no tâm uể oải nuôi hôn trầm thụy miên, tâm chưa được chỉ tịnh nuôi trạo hối, các pháp trú xứ của nghi hoặc nuôi nghi hoặc — tất cả đều qua "phi như lý tác ý được làm cho sung mãn". Phần hai: món ăn nuôi lớn bảy giác chi, cũng những nền tảng ấy nhưng qua "như lý tác ý được làm cho sung mãn". Phần ba: cái không phải món ăn của năm triền cái — bất tịnh tướng, từ tâm giải thoát, phát cần giới tinh cần giới dõng mãnh giới, tâm chỉ tịnh, phân biệt pháp thiện và bất thiện. Phần bốn: cái không phải món ăn của bảy giác chi — chính là không tác ý đến những pháp trú xứ ấy. Bài học cho Huynh trưởng và đoàn sinh: giữ giới, tránh nhìn ngắm nuôi tham, tập từ tâm để dứt sân, siêng năng để hết lười, làm tâm lắng lại để hết bồn chồn, học hỏi phân biệt thiện ác để hết nghi — đó là cách "bỏ đói" phiền não và "nuôi lớn" các yếu tố giác ngộ mỗi ngày.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Lời mở đầu và nhân duyên — "Tất cả nhân duyên ở Sāvatthi…" Thế Tôn tuyên bố sẽ giảng "các món ăn và không phải món ăn của năm triền cái và bảy giác chi" (đoạn Vi-n 1–3; Pāli sn46.51:1.1–1.3).
  • Món Ăn Của Các Triền Cái — Năm đoạn, mỗi đoạn nêu món ăn của một triền cái: dục tham (tịnh tướng), sân (chướng ngại tướng), hôn trầm thụy miên (không hân hoan, biếng nhác, chán nản, ăn quá no, tâm uể oải), trạo hối (tâm chưa được chỉ tịnh), nghi hoặc (các pháp trú xứ của nghi hoặc) — qua phi như lý tác ý làm cho sung mãn. (Vi-n 4–8; Pāli 1.4–5.4)
  • Món Ăn Cho Các Giác Chi — Bảy đoạn, mỗi đoạn nêu món ăn của một giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả — qua như lý tác ý được làm cho sung mãn. (Vi-n 9–15; Pāli 6.1–12.4)
  • Không Phải Món Ăn Cho Các Triền Cái — Năm đoạn: bất tịnh tướng (đối với dục tham), từ tâm giải thoát (sân), phát cần giới - tinh cần giới - dõng mãnh giới (hôn trầm thụy miên), tâm chỉ tịnh (trạo hối), các pháp thiện và bất thiện… (nghi hoặc) — qua như lý tác ý được làm cho sung mãn. (Vi-n 16–20; Pāli 13.1–17.4)
  • Không Phải Là Món Ăn Cho Các Giác Chi — Bảy đoạn: cũng những pháp trú xứ ấy, nhưng nếu "phi như lý tác ý được làm cho sung mãn" (bản Pāli: amanasikārabahulīkāro — không tác ý đến chúng) thì các giác chi không sanh khởi, không được viên mãn. (Vi-n 21–27; Pāli 18.1–24.4)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Vi-n 3 (Pāli sn46.51:1.2–1.3)
“Pañcannañca, bhikkhave, nīvaraṇānaṁ sattannañca bojjhaṅgānaṁ āhārañca anāhārañca desessāmi; taṁ suṇātha.
—Ta sẽ giảng cho các Ông, này các Tỷ-kheo, các món ăn và không phải món ăn của năm triền cái và bảy giác chi. Hãy lắng nghe.
“Mendicants, I will teach you what fuels and what starves the five hindrances and the seven awakening factors. Listen …
Vi-n 4 (Pāli sn46.51:1.4–1.7)
Ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā kāmacchandassa uppādāya, uppannassa vā kāmacchandassa bhiyyobhāvāya vepullāya? Atthi, bhikkhave, subhanimittaṁ. Tattha ayonisomanasikārabahulīkāro—ayamāhāro anuppannassa vā kāmacchandassa uppādāya, uppannassa vā kāmacchandassa bhiyyobhāvāya vepullāya.
—Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có tịnh tướng, này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
And what fuels the arising of sensual desire, or, when it has arisen, makes it increase and grow? There is the feature of beauty. Frequent irrational application of mind to that fuels the arising of sensual desire, or, when it has arisen, makes it increase and grow.
Vi-n 6 (Pāli sn46.51:3.1–3.4)
Ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā thinamiddhassa uppādāya, uppannassa vā thinamiddhassa bhiyyobhāvāya vepullāya? Atthi, bhikkhave, arati tandi vijambhitā bhattasammado cetaso ca līnattaṁ. Tattha ayonisomanasikārabahulīkāro—ayamāhāro anuppannassa vā thinamiddhassa uppādāya, uppannassa vā thinamiddhassa bhiyyobhāvāya vepullāya.
Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Không hân hoan, biếng nhác, chán nản, ăn quá no, tâm uể oải. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
And what fuels the arising of dullness and drowsiness…? There is discontent, sloth, yawning, sleepiness after eating, and mental sluggishness. Frequent irrational application of mind to that fuels the arising of dullness and drowsiness, or, when they have arisen, makes them increase and grow.
Vi-n 9 (Pāli sn46.51:6.1–6.4)
Ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā satisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā satisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā? Atthi, bhikkhave, satisambojjhaṅgaṭṭhānīyā dhammā. Tattha yonisomanasikārabahulīkāro—ayamāhāro anuppannassa vā satisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā satisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā.
—Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn.
And what fuels the arising of the awakening factor of mindfulness, or, when it has arisen, fully develops it? There are things that are grounds for the awakening factor of mindfulness. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of mindfulness, or, when it has arisen, fully develops it.
Vi-n 11 (Pāli sn46.51:8.1–8.4)
Ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā vīriyasambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā? Atthi, bhikkhave, ārambhadhātu nikkamadhātu parakkamadhātu. Tattha yonisomanasikārabahulīkāro—ayamāhāro anuppannassa vā vīriyasambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā.
Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Có phát cần giới, này các Tỷ-kheo, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
And what fuels the arising of the awakening factor of energy…? There are the elements of initiative, persistence, and exertion. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of energy, or, when it has arisen, fully develops it.
Vi-n 16 (Pāli sn46.51:13.1–13.4)
Ko ca, bhikkhave, anāhāro anuppannassa vā kāmacchandassa uppādāya, uppannassa vā kāmacchandassa bhiyyobhāvāya vepullāya? Atthi, bhikkhave, asubhanimittaṁ. Tattha yonisomanasikārabahulīkāro—ayamanāhāro anuppannassa vā kāmacchandassa uppādāya, uppannassa vā kāmacchandassa bhiyyobhāvāya vepullāya.
—Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có bất tịnh tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
And what starves the arising of sensual desire, or, when it has arisen, starves its increase and growth? There is the feature of ugliness. Frequent rational application of mind to that starves the arising of sensual desire, or, when it has arisen, starves its increase and growth.
Vi-n 17 (Pāli sn46.51:14.1–14.4)
Ko ca, bhikkhave, anāhāro anuppannassa vā byāpādassa uppādāya, uppannassa vā byāpādassa bhiyyobhāvāya vepullāya? Atthi, bhikkhave, mettācetovimutti. Tattha yonisomanasikārabahulīkāro—ayamanāhāro anuppannassa vā byāpādassa uppādāya, uppannassa vā byāpādassa bhiyyobhāvāya vepullāya.
Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có từ tâm giải thoát. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
And what starves the arising of ill will, or, when it has arisen, starves its increase and growth? There is the heart’s release by love. Frequent rational application of mind to that starves the arising of ill will, or, when it has arisen, starves its increase and growth.
Vi-n 19 (Pāli sn46.51:16.1–16.4)
Ko ca, bhikkhave, anāhāro anuppannassa vā uddhaccakukkuccassa uppādāya, uppannassa vā uddhaccakukkuccassa bhiyyobhāvāya vepullāya? Atthi, bhikkhave, cetaso vūpasamo. Tattha yonisomanasikārabahulīkāro—ayamanāhāro anuppannassa vā uddhaccakukkuccassa uppādāya, uppannassa vā uddhaccakukkuccassa bhiyyobhāvāya vepullāya.
Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có tâm chỉ tịnh. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
And what starves the arising of restlessness and remorse…? There is the settled mind. Frequent rational application of mind to that starves the arising of restlessness and remorse, or, when they have arisen, starves their increase and growth.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
āhāramón ăn, đồ ăn (cái nuôi dưỡng)Bản Minh Châu dịch "món ăn"; Sujato dịch "fuels" (nhiên liệu nuôi lớn).
anāhārakhông phải món ănSujato: "starves" — cái làm cho đói, không nuôi dưỡng.
nīvaraṇatriền cái (chướng ngại che lấp tâm); ở đây là năm triền cái
bojjhaṅga / sambojjhaṅgagiác chi (yếu tố giác ngộ); bảy giác chi
kāmacchandadục thamBản Việt ghi chú Pāli ngay trong kinh văn: "dục tham (kàmacchanda)".
byāpādasân
thinamiddhahôn trầm thụy miên
uddhaccakukkuccatrạo hối (dao động và hối tiếc)
vicikicchānghi hoặc
yonisomanasikāranhư lý tác ýNghịch nghĩa: ayonisomanasikāra = phi như lý tác ý.
bahulīkāralàm cho sung mãn, làm cho nhiềuTrong kinh: "…tác ý được làm cho sung mãn".
subhanimittatịnh tướng (tướng đẹp, tướng tịnh)
asubhanimittabất tịnh tướng
paṭighanimittachướng ngại tướngBản Việt ghi "chướng ngại tướng (patighanimittam)".
mettācetovimuttitừ tâm giải thoát
ārambhadhātu, nikkamadhātu, parakkamadhātuphát cần giới, tinh cần giới, dõng mãnh giới
kāyappassaddhi, cittappassaddhithân khinh an, tâm khinh an
samathanimitta, abyagganimittatịnh chỉ tướng, bất loạn tướng
sati, dhammavicaya, vīriya, pīti, passaddhi, samādhi, upekkhāniệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả (bảy giác chi)
kusalākusalā dhammācác pháp thiện và bất thiện
Sāvatthinidānaṁnhân duyên ở Sāvatthi (Xá-vệ)

Chữ “món ăn” (āhāra) là chỗ hay của bài kinh. Nó không nói triền cái từ đâu ra — nó nói cái gì đang nuôi chúng. Đã có rồi thì hỏi nuôi bằng gì, chứ không hỏi tại sao có.

Và cái nuôi chúng đơn giản đến bất ngờ. Tham dục lớn lên nhờ không như lý tác ý đối với tịnh tướng — tức cứ để tâm dừng lại ở chỗ dễ ưa. Sân lớn nhờ để tâm ở chướng ngại tướng. Hôn trầm lớn nhờ chán nản, uể oải, ăn quá no.

Chi tiết “ăn quá no” đáng để ý. Kinh không ngại nói chuyện rất thường. Nối thẳng với MN 39MN 107 về tiết độ trong ăn uống.

Bảy giác chi cũng có món ăn riêng. Niệm lớn nhờ các pháp làm chỗ trú cho niệm. Trạch pháp lớn nhờ các pháp thiện và bất thiện, có tội và không tội. Tinh tấn lớn nhờ phát cần giới, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Hỷ lớn nhờ các pháp trú xứ cho hỷ.

Chỗ then chốt: món ăn của giác chi là như lý tác ý. Cùng một cảnh, để tâm cách này thì nuôi triền cái, để tâm cách kia thì nuôi giác chi. Không phải đổi cảnh — mà đổi cách để tâm.

Ví dụ đống lửa nói hết ý. Muốn giữ lửa cháy thì bỏ cỏ khô, phân bò khô, củi khô vào, thổi hơi vào, đừng rắc bụi lên. Muốn dập lửa thì đừng bỏ củi vào nữa. Triền cái và giác chi cùng theo một quy luật ấy.

Vì sao ví dụ này dạy được ngay.bỏ hẳn cách nghĩ “diệt trừ phiền não” — nghe rất khó và rất xa. Nó thay bằng một câu hỏi làm được ngay: tôi đang bỏ củi vào cái nào?

Bài này lượt soi độc lập không tìm thấy lỗi nào. Cả tám đoạn trích, số đoạn, bố cục và thuật ngữ đều đúng nguyên văn.

  • “Phải diệt trừ phiền não.” Kinh hỏi cách khác: cái gì đang nuôi nó?
  • “Phải tránh cảnh xấu.” Kinh nói chỗ quyết định là cách để tâm, không phải cảnh.
  • “Ăn uống không liên quan tu hành.” Kinh kể ăn quá no là món ăn của hôn trầm.
  • Ngành Oanh. Đống lửa: muốn cháy thì bỏ củi, muốn tắt thì thôi bỏ.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: tuần này em đã bỏ củi vào cái nào?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Như lý tác ý — bàn kỹ: cùng một cảnh mà hai lối để tâm.
  • Chữ món ăn đổi câu hỏi như thế nào?
  • Cái gì nuôi lớn tham dục? Cái gì nuôi lớn niệm?
  • Vì sao ví dụ đống lửa dễ làm theo?
  • Hôm nay em bỏ củi vào cái nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.