G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 107
Trung Bộ · Học Có Thứ Lớp

Kinh Gaṇaka Moggallāna

Gaṇakamoggallāna Sutta — MN 107 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Gaṇaka Moggallāna

Một nhà toán số hỏi: nghề của ông học có thứ lớp, đếm một rồi hai rồi ba — vậy trong Pháp Luật này có thứ lớp như thế không? Đức Phật đáp , và kể ra từng bậc. Rồi ông hỏi một câu khó hơn nhiều.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 107
  • Người hỏi — Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna, gaṇaka nghĩa là người làm toán số
  • Nơi chốn — Sāvatthī, giảng đường Lộc Mẫu (Migāramātu)
  • Ba ví dụdạy ngựa, xây lầu, học đếm

Kinh Gaṇaka Moggallāna (Trung Bộ 107) trả lời một câu hỏi rất thiết thực cho người tu học: đạo Phật có lộ trình từng bước hay không? Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna là một nhà toán học. Ông thấy lâu đài Migāramātu phải leo từng bậc thang mới lên tới trên; học trò học toán phải đếm "một một, hai hai, ba ba..." rồi mới lên tới trăm; người bắn cung, người tụng đọc Vệ-đà cũng vậy. Ông hỏi Phật: trong Pháp và Luật này có tuần tự học tập, tuần tự công trình, tuần tự đạo lộ như thế chăng? Đức Phật trả lời: có. Ngài dùng ví dụ người huấn luyện ngựa thiện xảo: được con ngựa hiền thiện, trước hết tập cho nó quen mang dây cương, rồi mới tập thêm điều khác. Cũng vậy, Như Lai gặp người đáng được điều phục thì dạy theo thứ lớp: (1) giữ giới, sống chế ngự với giới bổn Pātimokkha, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt; (2) hộ trì các căn — mắt thấy sắc, tai nghe tiếng... chớ nắm giữ tướng chung, tướng riêng; (3) tiết độ trong ăn uống, thọ dụng món ăn với chánh tư duy, không phải để vui đùa hay trang sức mà chỉ để duy trì thân này hỗ trợ phạm hạnh; (4) chú tâm cảnh giác, tinh cần suốt ba canh, canh giữa nằm dáng sư tử; (5) chánh niệm tỉnh giác trong mọi cử chỉ đi đứng nằm ngồi, nói năng và im lặng; (6) lựa trú xứ thanh vắng; rồi ngồi kiết-già, đoạn trừ năm triền cái và chứng bốn thiền. Phật nói rõ: đó là lời giáo giới cho bậc hữu học; với bậc A-la-hán, các pháp ấy đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác. Điểm sâu sắc nhất là phần cuối. Bà-la-môn hỏi: nếu Niết-bàn có thật, con đường có thật, Thế Tôn có mặt khuyến khích, vì sao có người chứng đạt, có người không? Phật hỏi lại: ông rành đường đi Rājagaha; cùng một lời chỉ đường, người này đi lạc quay về hướng tây, người kia đến nơi an ổn — lỗi tại ai? Bà-la-môn đáp: con làm gì được, con chỉ là người chỉ đường. Phật dạy: "Như Lai chỉ là người chỉ đường" (maggakkhāyī tathāgato). Bài học cho Huynh Trưởng: có lộ trình, có người chỉ, nhưng phải tự bước. Cuối kinh Bà-la-môn tán thán lời Phật như hương chiên-đàn tối thượng và xin quy y trọn đời làm cư sĩ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna đến hỏi Phật (đoạn 1) — Phật trú tại lâu đài Migāramātu, Đông Viên, Sāvatthī. Bà-la-môn toán số gia đến chào hỏi rồi ngồi xuống một bên.
  • 2. Câu hỏi: các ví dụ về tuần tự (đoạn 2) — Bậc thang lâu đài, việc tụng đọc của Bà-la-môn, nghề bắn cung, nghề toán (đếm một một, hai hai... cho đến trăm và hơn nữa) đều có tuần tự học tập, tuần tự công trình, tuần tự đạo lộ. Trong Pháp và Luật này có như vậy chăng?
  • 3. Ví dụ người huấn luyện ngựa và bước thứ nhất: giới (đoạn 3) — Như người huấn luyện ngựa thiện xảo trước hết tập ngựa quen mang dây cương, Như Lai trước hết dạy người đáng điều phục giữ giới, sống chế ngự với giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt.
  • 4. Hộ trì các căn (đoạn 4) — Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý biết pháp — chớ nắm giữ tướng chung, tướng riêng, để tham ưu và các ác bất thiện pháp không chảy vào.
  • 5. Tiết độ trong ăn uống (đoạn 5) — Chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn: không phải để vui đùa, đam mê, trang sức, tự làm đẹp, mà chỉ để thân này tồn tại, để hỗ trợ phạm hạnh, diệt thọ cũ, không cho thọ mới sanh khởi.
  • 6. Chú tâm cảnh giác (đoạn 6) — Ban ngày và canh đầu đêm: kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các chướng ngại pháp; canh giữa nằm dáng sư tử về phía hông phải, chân gác lên chân, chánh niệm tỉnh giác, tác ý tưởng thức dậy; canh cuối thức dậy tiếp tục.
  • 7. Chánh niệm tỉnh giác (đoạn 7) — Tỉnh giác khi đi tới đi lui, khi nhìn thẳng nhìn quanh, co duỗi tay chân, mang y bát, ăn uống nhai nếm, đại tiểu tiện, khi đi đứng ngồi nằm thức ngủ, nói năng và im lặng.
  • 8. Trú xứ thanh vắng, đoạn trừ năm triền cái, chứng bốn thiền (đoạn 8-10) — Lựa chỗ thanh vắng (rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, khoảng trống, đống rơm...); sau bữa ăn khất thực trở về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt; từ bỏ tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi — năm triền cái làm ô nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ; rồi chứng và trú thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư.
  • 9. Lời giáo giới cho bậc hữu học; với bậc A-la-hán là hiện tại lạc trú (đoạn 11) — Với các Tỷ-kheo hữu học (sekha) chưa đạt được tâm nguyện, còn hướng đến vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, đó là lời giáo giới của Ta. Với các Tỷ-kheo A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc, các pháp ấy đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
  • 10. Vì sao có người chứng, có người không (đoạn 12-13) — Bà-la-môn hỏi: tất cả đệ tử được giáo giới như vậy đều chứng cứu cánh Niết-bàn chăng? Phật đáp: một số chứng, một số không. Bà-la-môn hỏi nguyên nhân, vì Niết-bàn có, con đường có, và Thế Tôn có mặt khuyến khích.
  • 11. Ví dụ con đường đi Rājagaha — Như Lai chỉ là người chỉ đường (đoạn 14) — Phật hỏi lại: ông rành con đường đi Rājagaha; hai người cùng hỏi đường, cùng được chỉ như nhau, một người đi lạc quay về hướng tây, một người đến Rājagaha an ổn. Nguyên nhân là gì? Bà-la-môn đáp: con làm gì được, con chỉ là người chỉ đường. Phật dạy: cũng vậy, Niết-bàn có, con đường có, Ta có mặt khuyến khích — Như Lai chỉ là người chỉ đường.
  • 12. Bà-la-môn tán thán và quy y (đoạn 15-17) — Bà-la-môn phân biệt hạng người xuất gia không vì lòng tin, không hộ trì căn môn, biếng nhác, thất niệm — mà Thế Tôn không sống chung; với hạng thiện gia nam tử xuất gia vì lòng tin, hộ trì căn môn, tinh cần, chánh niệm, có trí — mà Thế Tôn sống chung. Rồi tán thán bằng ví dụ hương: trong các căn hương, các lõi hương, các hoa hương đều có loại tối thượng — cũng vậy lời giáo giới của Tôn giả Gotama là tối thượng trong các pháp hiện tại. Cuối cùng ông xin quy y Phật, Pháp, Tăng, trọn đời làm cư sĩ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: phần này có 2 đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Phần Pāli và tiếng Anh thì đối chiếu được.
MN 107.1.1-1.2
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu
MN 107.2.12
Sakkā nu kho, bho gotama, imasmimpi dhammavinaye evameva anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā paññapetunti?
Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả Gotama, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy?
Is it possible to similarly describe a gradual training, gradual progress, and gradual practice in this teaching and training?”
MN 107.3.2-3.3
Seyyathāpi, brāhmaṇa, dakkho assadammako bhaddaṁ assājānīyaṁ labhitvā paṭhameneva mukhādhāne kāraṇaṁ kāreti, atha uttariṁ kāraṇaṁ kāreti; evameva kho, brāhmaṇa, tathāgato purisadammaṁ labhitvā paṭhamaṁ evaṁ vineti.
Ví như, này Bà-la-môn, một người huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương
Suppose a deft horse trainer were to obtain a fine thoroughbred. First of all he’d make it get used to wearing the bit. In the same way, when the Realized One gets a person fit for training they first guide them like this:
MN 107.3.4
'Ehi tvaṁ, bhikkhu, sīlavā hohi, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharāhi ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhassu sikkhāpadesū'ti.
Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn…
‘Come, mendicant, be ethical and restrained in the monastic code, conducting yourself well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, keep the rules you’ve undertaken.’
MN 107.4.2
'Ehi tvaṁ, bhikkhu, indriyesu guttadvāro hohi, cakkhunā rūpaṁ disvā mā nimittaggāhī hohi mānubyañjanaggāhī.'
Hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng.
‘Come, mendicant, guard your sense doors. When you see a sight with your eyes, don’t get caught up in the features and details.
MN 107.5.3-5.4
Paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreyyāsi—neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya.
Hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa…
Reflect rationally on the food that you eat: “Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.”’
MN 107.12.3
Appekacce kho, brāhmaṇa, mama sāvakā mayā evaṁ ovadīyamānā evaṁ anusāsīyamānā accantaṁ niṭṭhaṁ nibbānaṁ ārādhenti, ekacce nārādhentīti.
Một số đệ tử của Ta… chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.
“Some succeed, while others fail.”
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
MN 107.14 (mn107:14.30–14.32)
Ettha kyāhaṁ, brāhmaṇa, karomi? Maggakkhāyīhaṁ, brāhmaṇa, tathāgatoti.
Như Lai chỉ là người chỉ đường.
MN 107.16.1-16.4
Seyyathāpi, bho gotama, ye keci mūlagandhā, kālānusāri tesaṁ aggamakkhāyati… evameva bhoto gotamassa ovādo paramajjadhammesu.
Trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng… lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất.
Of all kinds of fragrant root, spikenard is said to be the best. Of all kinds of fragrant heartwood, red sandalwood is said to be the best.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
MN 107.17.4
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatanti.
Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
anupubbasikkhātuần tự học tập — sự học theo từng bước, từng lớpĐi chung với anupubbakiriyā (tuần tự công trình) và anupubbapaṭipadā (tuần tự đạo lộ)
anupubbapaṭipadātuần tự đạo lộ — con đường thực hành theo thứ lớp
assadammako / purisadammangười huấn luyện ngựa / người đáng được điều phụcLiên hệ danh hiệu Phật: purisadammasārathi — Điều Ngự Trượng Phu
sīla / pātimokkhasaṁvaragiới hạnh / sự chế ngự theo giới bổn Pātimokkha
indriyesu guttadvārohộ trì các căn, giữ gìn các cửa giác quan
nimittaggāhī / anubyañjanaggāhīnắm giữ tướng chung / nắm giữ tướng riêng (chi tiết)
bhojane mattaññutātiết độ trong ăn uống, biết vừa đủ trong vật thực
jāgariyānuyogachú tâm cảnh giác, siêng tu không đắm ngủ
satisampajaññachánh niệm tỉnh giác
pañca nīvaraṇānăm triền cái: tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi
jhānathiền — bốn cấp thiền sắc giới
sekhabậc hữu học — còn phải tu học, chưa chứng A-la-hán
khīṇāsava / arahantbậc đã đoạn tận lậu hoặc / A-la-hán
nibbānaNiết-bàn — cứu cánh đích của phạm hạnh
maggakkhāyīngười chỉ đườngCâu then chốt: Maggakkhāyīhaṁ, brāhmaṇa, tathāgato — Như Lai chỉ là người chỉ đường
Rājagahathành Vương Xá — dùng làm ví dụ về đích đến

Câu hỏi đến từ một người làm nghề tính toán — và nó rất đúng nghề. Ông nói: học đếm thì một một, hai hai, ba ba, cứ thế lên. Người xây lầu thì đặt móng trước. Người dạy ngựa thì dạy từng bài. Vậy ở đây có thứ lớp không?

Đức Phật trả lời , và kể rất cụ thể. Giữ giớihộ trì các căntiết độ trong ăn uốngchú tâm cảnh giácchánh niệm tỉnh giácđoạn năm triền cáibốn thiền. Không bậc nào nhảy được.

Đoạn về ăn uống rất cụ thể, đáng đọc kỹ. Ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp — mà chỉ để thân này tồn tại, để khỏi bị hại, để hỗ trợ đời sống phạm hạnh. Đây là chỗ đưa được vào sinh hoạt đoàn ngay.

Rồi ông hỏi câu khó. Nếu có đường lối rõ như vậy, vì sao có người chứng, có người không chứng? Đây là câu hỏi thẳng vào chỗ yếu của mọi hệ thống dạy học.

Đức Phật không né. Ngài hỏi lại bằng ví dụ: ông có biết đường đi tới thành Rājagaha không?Biết rành. Nếu có người hỏi đường rồi đi lạc, thì lỗi tại ai? Ông đáp: tôi chỉ là người chỉ đường.

Và Ngài nhận đúng chỗ đứng ấy cho mình. “Ta ở đây làm được gì? Như Lai chỉ là người chỉ đường.” Đây là một trong những câu tự nhận khiêm tốn nhất trong Tam Tạng — và nó đặt trách nhiệm về lại người đi.

Chỗ này dễ bị dùng sai theo hai lối. Một là đổ hết cho người học — nhưng kinh vừa mới kể ra cả một lộ trình chi tiết, tức là người dạy phải chỉ cho rõ. Hai là đòi người dạy phải kéo mình tới đích — kinh nói thẳng: không ai đi thay được.

Chỗ chúng tôi ghi rõ. Bài này có 5 đoạn chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in, và 2 đoạn chúng tôi đã bỏ phần tiếng Anh vì không dò được về bản Tỳ-kheo Sujato — thà thiếu còn hơn ghi sai tên người dịch.

  • “Người chỉ đường nghĩa là thầy không chịu trách nhiệm.” Kinh vừa kể cả lộ trình chi tiết — chỉ đường là phải chỉ cho rõ.
  • “Có thứ lớp nghĩa là học xong bậc này mới sang bậc kia.” Các bậc chồng lên nhau, không bỏ bậc dưới.
  • “Tiết độ ăn uống là ăn ít.” Kinh nói về lý do ăn, không nói về lượng.
  • Ngành Oanh. Ví dụ học đếm: một, hai, ba. Không ai đếm tới mười mà bỏ qua ba.
  • Ngành Thiếu. Đoạn ăn không phải để vui đùa — đọc trước bữa cơm trại.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Câu “Như Lai chỉ là người chỉ đường” — bàn về giới hạn của người dạy, và cả bổn phận phải chỉ cho rõ.
  • Vì sao câu hỏi lại đến từ một người làm toán số?
  • Kể lại các bậc theo thứ tự.
  • Người chỉ đường — trách nhiệm chia thế nào?
  • Ăn không phải để vui đùa — em hiểu sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.