G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 39
Trung Bộ · Xứng Với Cái Tên

Đại Kinh Xóm Ngựa

Mahā-Assapura Sutta — MN 39 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Xóm Ngựa

Đức Phật mở đầu bằng một câu rất thẳng: dân chúng gọi các thầy là Sa-môn, và các thầy cũng tự nhận như vậy — thì phải tu tập cho xứng với cái tên ấy. Rồi Ngài kể ra từng bước, và sau mỗi bước đều nhắc một câu giống nhau.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 39
  • Nơi chốn — xóm Assapura (Xóm Ngựa), xứ Aṅga
  • Người nghe — chư Tỳ-kheo; không có nhân vật đối thoại nào khác
  • Kếtbảy danh xưng của bậc đã thành tựu

Kinh được Thế Tôn thuyết tại xóm Ngựa (Assapura), một xã ấp của dân chúng Anga. Mở đầu, Phật nhắc: dân chúng gọi quý vị là "Sa-môn", và khi được hỏi quý vị cũng tự nhận là Sa-môn; vậy phải tu tập những pháp tác thành Sa-môn, tác thành Bà-la-môn, để danh xưng ấy mới chân chánh, để đồ cúng dường của tín thí có kết quả lớn, và việc xuất gia không thành vô dụng. Từ đó, kinh trình bày một lộ trình tu tập từng bước, mỗi bước đều kèm lời cảnh tỉnh giống nhau: đừng vội thỏa mãn "đến mức độ này là vừa đủ", "khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa". Các bước lần lượt là: thành tựu tàm quý (hiri-ottappa); thân hành, khẩu hành, ý hành và sanh mạng thanh tịnh — mà không vì đó khen mình chê người; hộ trì các căn; tiết độ trong ăn uống; chú tâm cảnh giác (thức tỉnh, ngủ theo dáng nằm con sư tử); chánh niệm tỉnh giác trong mọi cử chỉ đi đứng nằm ngồi. Kế đó, vị Tỷ-kheo tìm chỗ thanh vắng, ngồi kiết già, đoạn trừ năm triền cái, được ví như trả xong nợ, khỏi bệnh, ra khỏi tù, thoát cảnh nô lệ, qua khỏi sa mạc. Rồi vị ấy chứng và trú bốn Thiền, với bốn ví dụ nổi tiếng: cục bột tắm thấm nước, hồ nước có mạch nước phun lên, hoa sen ngập trong nước mát, và người ngồi trùm tấm vải trắng. Với tâm định tĩnh thuần tịnh, vị ấy chứng Ba Minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận trí, tuệ tri Bốn Sự Thật và các lậu hoặc, tâm giải thoát, biết "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành...". Phần kết, Phật giải thích bảy danh xưng của bậc đã thành tựu: Sa-môn, Bà-la-môn, vị đã tắm sạch sẽ, vị đã biết và hiểu rõ, bậc có học, bậc Thánh, bậc A-la-hán — tất cả đều được định nghĩa theo cùng một tiêu chuẩn: đã làm dừng lại, tẩn xuất, tắm gội, hiểu rõ, tiêu diệt, xa lìa các ác, bất thiện pháp. Ý chính cho Huynh Trưởng: giá trị người tu không nằm ở hình thức hay danh xưng, mà ở công phu chuyển hóa thật sự, và luôn còn "công việc đáng phải làm hơn nữa".

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi và lời nhắc về danh xưng "Sa-môn" (đoạn 1–2) — Tại xóm Ngựa, Phật nhắc các Tỷ-kheo rằng dân chúng gọi họ là Sa-môn và họ tự nhận là Sa-môn, nên phải thọ trì các pháp tác thành Sa-môn, tác thành Bà-la-môn, để danh xưng chân chánh, để cúng dường của tín thí có kết quả lớn, và xuất gia không thành vô dụng.
  • Tàm quý — bước đầu (đoạn 3) — "Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý". Kèm lời cảnh tỉnh chớ tự thỏa mãn khi còn công việc đáng phải làm hơn nữa. Công thức cảnh tỉnh này được lặp lại sau mỗi bước.
  • Giới hạnh: thân hành, khẩu hành, ý hành, sanh mạng thanh tịnh (đoạn 4–7) — Bốn bước liên tiếp: thân hành, khẩu hành, ý hành, sanh mạng phải thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không tỳ vết che giấu; và không vì sự thanh tịnh ấy mà khen mình chê người.
  • Hộ trì các căn (đoạn 8) — Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức pháp — không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, chế ngự nguyên nhân khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên.
  • Tiết độ trong ăn uống (đoạn 9) — Thọ thực với chánh tư duy, không để vui đùa, đam mê, trang sức, tự làm đẹp, mà chỉ để thân được sống và bảo dưỡng, hỗ trợ phạm hạnh.
  • Chú tâm cảnh giác (đoạn 10) — Ban ngày và canh một, canh cuối đi kinh hành hoặc ngồi, tẩy sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại; canh giữa nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, chánh niệm tỉnh giác, nghĩ đến lúc thức dậy.
  • Chánh niệm tỉnh giác (đoạn 11) — Tỉnh giác khi đi tới đi lui, nhìn thẳng nhìn quanh, co duỗi tay, mang y bát, ăn uống nhai nuốt, đại tiểu tiện, đi đứng nằm thức nói và yên lặng.
  • Đoạn trừ năm triền cái và năm ví dụ (đoạn 12–14) — Chọn chỗ thanh vắng (khu rừng, gốc cây, sườn núi, khe núi, hang núi, bãi tha ma, rừng núi, khoảng trống, đống rơm), ngồi kiết già, gột rửa tâm khỏi tham ái, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi. Năm triền cái chưa xả ly ví như món nợ, bệnh hoạn, ngục tù, cảnh nô lệ, con đường qua sa mạc.
  • Bốn tầng Thiền-na với bốn ví dụ (đoạn 15–18) — Thiền thứ nhất (hỷ lạc do ly dục sanh) — ví dụ cục bột tắm; Thiền thứ hai (hỷ lạc do định sanh) — hồ nước có mạch nước phun; Thiền thứ ba (lạc không hỷ, xả niệm lạc trú) — hoa sen ngập trong nước mát; Thiền thứ tư (không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh) — người ngồi trùm tấm vải trắng.
  • Ba Minh (đoạn 19–21) — Túc mạng minh (ví dụ người đi từ làng mình đến làng khác rồi trở về); Thiên nhãn thấy sanh tử của chúng sanh theo hạnh nghiệp (ví dụ hai nhà có cửa, người có mắt đứng giữa); Lậu tận trí, tuệ tri Bốn Sự Thật và các lậu hoặc, tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu (ví dụ hồ nước trong trên núi).
  • Bảy danh xưng của bậc thành tựu (đoạn 22–29) — Vị ấy được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn, vị đã tắm sạch sẽ, vị đã biết và hiểu rõ, bậc có học, bậc Thánh, bậc A-la-hán; mỗi danh xưng được giải thích theo cách vị ấy làm dừng lại / tẩn xuất / tắm gội / biết rõ / tiêu diệt / xa lìa các ác, bất thiện pháp. Kết: Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 39.2
Samaṇā samaṇāti vo, bhikkhave, jano sañjānāti. Tumhe ca pana 'ke tumhe'ti puṭṭhā samānā 'samaṇāmhā'ti paṭijānātha; tesaṁ vo, bhikkhave, evaṁsamaññānaṁ sataṁ evaṁpaṭiññānaṁ sataṁ 'ye dhammā samaṇakaraṇā ca brāhmaṇakaraṇā ca te dhamme samādāya vattissāma, evaṁ no ayaṁ amhākaṁ samaññā ca saccā bhavissati paṭiññā ca bhūtā.'
Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: "Các Ông là ai!" Các Ông phải tự nhận: "Chúng tôi là Sa-môn". Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: "Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật."
Mendicants, people label you as ascetics. And when they ask you what you are, you claim to be ascetics. Given this label and this claim, you should train like this: 'We will proceed having undertaken the things that make one an ascetic and a brahmin. That way our label will be accurate and our claim correct.'
MN 39.3
Katame ca, bhikkhave, dhammā samaṇakaraṇā ca brāhmaṇakaraṇā ca? 'Hirottappena samannāgatā bhavissāmā'ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn, và các pháp tác thành Bà-la-môn? "Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý", như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tu tập.
And what are the things that make one an ascetic and a brahmin? You should train like this: 'We will have conscience and prudence.'
MN 39.3 (lặp lại ở các đoạn 4–11)
Ārocayāmi vo, bhikkhave, paṭivedayāmi vo, bhikkhave: 'mā vo sāmaññatthikānaṁ sataṁ sāmaññattho parihāyi, sati uttariṁ karaṇīye'.
Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các Ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
I declare this to you, mendicants, I announce this to you: 'You who seek to be true ascetics, do not lose sight of the goal of the ascetic life while there is still more to do.'
MN 39.4
Kiñca, bhikkhave, uttariṁ karaṇīyaṁ? 'Parisuddho no kāyasamācāro bhavissati uttāno vivaṭo na ca chiddavā saṁvuto ca. Tāya ca pana parisuddhakāyasamācāratāya nevattānukkaṁsessāma na paraṁ vambhessāmā'ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Thân hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập.
What more is there to do? You should train like this: 'Our bodily behavior will be pure, clear, open, neither inconsistent nor secretive. And we won't glorify ourselves or put others down on account of our pure bodily behavior.'
MN 39.8
'Indriyesu guttadvārā bhavissāma; cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjissāma, rakkhissāma cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjissāma.'
"Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt."
We will restrain our sense doors. When we see a sight with our eyes, we won't get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, we will practice restraint, we will protect the faculty of sight, and we will achieve its restraint.
MN 39.9
'Bhojane mattaññuno bhavissāma, paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āharissāma, neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya, vihiṁsūparatiyā, brahmacariyānuggahāya.'
"Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh."
We will not eat too much. We will only eat after reflecting rationally on our food. We will eat not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice.
MN 39.14
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu yathā iṇaṁ yathā rogaṁ yathā bandhanāgāraṁ yathā dāsabyaṁ yathā kantāraddhānamaggaṁ, ime pañca nīvaraṇe appahīne attani samanupassati.
Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc.
In the same way, as long as these five hindrances are not given up inside themselves, a mendicant regards them as a debt, a disease, a prison, slavery, and a desert crossing.
MN 39.22
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu 'samaṇo' itipi 'brāhmaṇo'itipi 'nhātako'itipi 'vedagū'itipi 'sottiyo'itipi 'ariyo'itipi 'arahaṁ'itipi.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được gọi là Sa-môn, là Bà-la-môn, là vị đã tắm sạch sẽ, là vị đã biết và hiểu rõ, là bậc có học, là bậc Thánh, là bậc A-la-hán.
This mendicant is one who is called an 'ascetic', a 'brahmin', a 'bathed initiate', a 'knowledge master', a 'scholar', a 'noble one', and also a 'perfected one'.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
samaṇaSa-môn — người xuất gia tu hànhKinh giải thích: vị đã làm cho dừng lại (samita) các ác, bất thiện pháp
brāhmaṇaBà-la-mônKinh giải thích: vị đã tẩn xuất (bāhita) các ác, bất thiện pháp
sāmaññatthaMục đích Sa-môn hạnhĐiểm nhấn xuyên suốt: chớ từ bỏ mục đích này khi còn việc đáng làm hơn nữa
hiri-ottappa (hirottappa)Tàm quý — hổ thẹn và ghê sợ tội lỗiBước tu tập đầu tiên trong kinh
kāyasamācāra / vacīsamācāra / manosamācāraThân hành / khẩu hành / ý hành
ājīvaSanh mạng (nếp sống, sinh kế)parisuddho ājīvo: sanh mạng thanh tịnh
indriyesu guttadvāraHộ trì các căn (thủ hộ căn môn)
bhojane mattaññutāTiết độ trong ăn uống
jāgariyānuyogaChú tâm cảnh giác (chuyên cần tỉnh thức)Kèm sīhaseyyā — dáng nằm con sư tử
sati-sampajaññaChánh niệm tỉnh giác
pañca nīvaraṇāNăm triền cái: tham ái, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghiabhijjhā, byāpāda, thinamiddha, uddhaccakukkucca, vicikicchā
jhānaThiền-na, các tầng thiền địnhKinh nêu bốn Thiền cùng bốn ví dụ
vitakka / vicāraTầm / tứ
pīti-sukhaHỷ lạcvivekaja = do ly dục sanh; samādhija = do định sanh
upekkhā-sati-pārisuddhiXả niệm thanh tịnh (Thiền thứ tư)
pubbenivāsānussatiñāṇaTúc mạng minh — trí nhớ các đời sống quá khứ
dibbacakkhu / cutūpapātañāṇaThiên nhãn — thấy sự sống chết của chúng sanh theo hạnh nghiệp
āsavānaṁ khayañāṇaLậu tận tríBa lậu: kāmāsava (dục lậu), bhavāsava (hữu lậu), avijjāsava (vô minh lậu)
nhātakaVị đã tắm sạch sẽnhāta: đã tắm gội sạch các ác, bất thiện pháp
vedagūVị đã biết và hiểu rõvidita: đã biết rõ các ác, bất thiện pháp
sottiyaBậc có họcnissuta: đã đã rửa trôi (tuôn sạch) các ác, bất thiện pháp
ariya / arahaṁBậc Thánh / bậc A-la-hánāraka: đã xa lìa các ác, bất thiện pháp

Câu mở đầu đặt vấn đề rất sòng phẳng. Ngài không nói “các thầy phải tu”. Ngài nói: người ta đã gọi các thầy như vậy, các thầy đã nhận như vậyvậy thì danh xưng ấy phải chân chánh, và đồ cúng dường của tín thí mới có kết quả. Bổn phận đến từ chỗ đã nhận cái tên.

Bước đầu tiên không phải thiền định.tàm quýbiết hổ thẹn và biết sợ điều quấy. Giống AN 8.2, nơi điều thứ nhất cũng là biết hổ thẹn, không phải học nhiều.

Rồi tới giới hạnh — và có một chi tiết ít ai để ý. Thân, khẩu, ý và cách sinh sống phải thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không tỳ vết che giấu. Nhưng kinh nói thêm ngay: và không vì sự thanh tịnh ấy mà khen mình chê người. Giữ giới rồi tự cao thì hỏng chính chỗ vừa làm được.

Câu nhắc lặp lại sau mỗi bước mới là xương sống bài kinh. “Chớ có thoả mãn ‘đến mức độ này là vừa đủ’… khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.” Lặp hơn mười lần. Kinh không sợ ta lười — kinh sợ ta dừng lại quá sớm vì thấy mình đã khá.

Năm ví dụ về năm triền cái rất đời. Bỏ được chúng thì như trả xong nợ, khỏi bệnh, ra khỏi tù, thoát cảnh nô lệ, qua khỏi sa mạc. Cả năm đều là hình ảnh nhẹ gánh — không phải hình ảnh đạt được cái gì.

Bốn ví dụ về bốn tầng thiền thì rất đẹp. Cục bột tắm thấm nước vừa đủ, không rỉ ra; hồ nước có mạch phun lên từ đáy; hoa sen ngập trong nước mát từ gốc tới ngọn; người ngồi trùm kín tấm vải trắng. Bốn hình ảnh, bốn mức thấm nhuần khác nhau.

Bảy danh xưng ở cuối — và tất cả đo bằng một thước. Sa-môn, Bà-la-môn, vị đã tắm sạch, vị đã biết rõ, bậc có học, bậc Thánh, bậc A-La-Hán. Mỗi tên được giải bằng cách vị ấy đã làm dừng lại, tẩn xuất, tắm gội, hiểu rõ, tiêu diệt, xa lìa các ác bất thiện pháp. Bảy cái tên, một tiêu chuẩn.

Chỗ chúng tôi ghi rõ. Bản điện tử tiếng Việt ở đoạn chú tâm cảnh giác chép “ban đêm canh đầu thức dậy” ở chỗ đáng lẽ là canh cuối (Pāli: rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ). Lượt soi độc lập đã xác nhận đúng là lỗi của bản điện tử. Chúng tôi giữ nguyên chữ trong bản in và ghi chú, không tự sửa lời Hoà thượng.

  • “Sa-môn là người mặc áo tu.” Kinh nói phải tu cho xứng cái tên, chứ cái tên không làm nên người tu.
  • “Giữ giới xong là yên tâm.” Kinh dặn ngay: đừng vì đó mà khen mình chê người.
  • “Tới thiền định là xong.” Câu nhắc “còn công việc đáng phải làm hơn nữa” lặp cả sau phần thiền.
  • Ngành Oanh. Ví dụ năm triền cái: như trả xong nợ, như hết bệnh. Chỉ vậy.
  • Ngành Thiếu. Câu “đến mức độ này là vừa đủ” — hỏi: em có hay dừng lại ở chỗ thấy mình đã khá không?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Câu mở đầu về danh xưng rất hợp để nói về chức vụ trong đoàn. Đọc kèm MN 107.
  • Vì sao bổn phận lại đến từ chỗ đã nhận cái tên?
  • Vì sao bước đầu là biết hổ thẹn?
  • Câu nhắc lặp lại hơn mười lần nói lên điều gì?
  • Bảy danh xưng đo bằng thước nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.