G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng · SN 45.8
Tương Ưng Bộ · Tám Chi, Định Nghĩa Từng Chi

Kinh Phân Tích Bát Chánh Đạo

Vibhaṅga Sutta — SN 45.8 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Phân Tích Bát Chánh Đạo

Đây là bản định nghĩa gốc và ngắn gọn nhất của Bát Chánh Đạo. Rất nhiều bài giảng nhắc tới tám chi mà không định nghĩa. Bài kinh này định nghĩa hết tám chi, mỗi chi vài dòng.

  • Bộ — Tương Ưng, SN 45.8, Tương Ưng Đạo
  • Bản dài hơnMN 141 cũng định nghĩa tám chi, trong khung Bốn Sự Thật
  • Công dụngbảng tra định nghĩa, tiện cho Huynh Trưởng soạn bài

Kinh Phân Tích (Vibhaṅga Sutta, SN 45.8) là bản định nghĩa gốc, ngắn gọn và chuẩn mực nhất về Bát Chánh Đạo trong kinh tạng Pāli. Tại Sāvatthi, Đức Thế Tôn gọi chư Tỷ-kheo và nói Ngài sẽ "giảng và phân tích" Thánh đạo Tám ngành, rồi lần lượt hỏi "Thế nào là…?" cho từng chi phần và tự trả lời. Toàn kinh chỉ có một mạch: nêu tên tám ngành, rồi định nghĩa từng ngành, không có ví dụ hay đối thoại thêm. Chánh tri kiến là trí về khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt — nghĩa là hiểu Bốn Sự Thật. Chánh tư duy gồm ba: xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy. Chánh ngữ là từ bỏ bốn lỗi của miệng: nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm. Chánh nghiệp là từ bỏ sát sanh, lấy của không cho, phi Phạm hạnh. Chánh mạng là vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống bằng chánh mạng. Chánh tinh tấn chính là Bốn Chánh Cần: ngăn ác chưa sanh, trừ ác đã sanh, làm sanh thiện chưa sanh, và nuôi lớn thiện đã sanh — với "ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm". Chánh niệm chính là Bốn Niệm Xứ: quán thân trên thân, thọ trên các thọ, tâm trên tâm, pháp trên các pháp, với nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để điều phục tham ưu ở đời. Chánh định là chứng và trú bốn Thiền, từ Sơ thiền (hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ) đến Thiền thứ tư (không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh). Với Huynh Trưởng, giá trị lớn nhất của bài kinh này là ở chỗ nó cho thấy Bát Chánh Đạo không phải tám điều rời rạc, mà là ba nhóm quen thuộc: Giới (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng), Định (chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định) và Tuệ (chánh tri kiến, chánh tư duy) — và mỗi ngành đều được chính Đức Phật định nghĩa bằng lời rất cụ thể, có thể dạy trực tiếp cho đoàn sinh mà không cần diễn giải thêm.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Nhân duyên ở Sāvatthi. Thế Tôn tuyên bố sẽ giảng và phân tích Thánh đạo Tám ngành; chư Tỷ-kheo vâng đáp (đoạn 1).
  • Nêu tổng quát tám ngành — "Thế nào là con đường Thánh đạo Tám ngành? Tức là chánh tri kiến … chánh định" (đoạn 2).
  • Chánh tri kiến (sammādiṭṭhi) — Định nghĩa bằng bốn trí: trí về khổ, khổ tập, khổ diệt, và con đường đưa đến khổ diệt (đoạn 3).
  • Chánh tư duy (sammāsaṅkappo) — Xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy (đoạn 4).
  • Chánh ngữ (sammāvācā) — Từ bỏ nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm (đoạn 5).
  • Chánh nghiệp (sammākammanto) — Từ bỏ sát sanh, lấy của không cho, phi Phạm hạnh (đoạn 6).
  • Chánh mạng (sammāājīvo) — Vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng (đoạn 7).
  • Chánh tinh tấn (sammāvāyāmo) — Bốn chánh cần: ngăn ác chưa sanh, trừ ác đã sanh, sanh thiện chưa sanh, tăng trưởng thiện đã sanh (đoạn 8).
  • Chánh niệm (sammāsati) — Bốn niệm xứ: quán thân, thọ, tâm, pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, điều phục tham ưu ở đời (đoạn 9).
  • Chánh định (sammāsamādhi) — Bốn Thiền (jhāna) từ Sơ thiền đến Tứ thiền; kết thúc kinh (đoạn 10).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 45.8, đoạn 1
Sāvatthinidānaṁ. "Ariyaṁ vo, bhikkhave, aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ desessāmi vibhajissāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī"ti.
Nhân duyên ở Sāvatthi. —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng và phân tích Thánh đạo Tám ngành này. Hãy lắng nghe và khéo tác ý. Ta sẽ giảng.
At Sāvatthī. "Mendicants, I will teach and analyze for you the noble eightfold path. Listen and apply your mind well, I will speak."
SN 45.8, đoạn 3
Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi? Yaṁ kho, bhikkhave, dukkhe ñāṇaṁ, dukkhasamudaye ñāṇaṁ, dukkhanirodhe ñāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ—ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammādiṭṭhi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tri kiến? Này các Tỷ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến.
And what is right view? Knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. This is called right view.
SN 45.8, đoạn 4
Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo? Yo kho, bhikkhave, nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṁsāsaṅkappo—ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāsaṅkappo.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy? Này các Tỷ-kheo, chính là xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tư duy.
And what is right purpose? The purpose of renunciation, good will, and harmlessness. This is called right purpose.
SN 45.8, đoạn 5
Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā? Yā kho, bhikkhave, musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī—ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāvācā.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh ngữ.
And what is right speech? Refraining from speech that's false, backbiting, harsh, or nonsensical. This is called right speech.
SN 45.8, đoạn 6
Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto? Yā kho, bhikkhave, pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, abrahmacariyā veramaṇī—ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammākammanto.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ phi Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh nghiệp.
And what is right action? Refraining from killing living creatures, stealing, and unchastity. This is called right action.
SN 45.8, đoạn 7
Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo? Idha, bhikkhave, ariyasāvako micchāājīvaṁ pahāya sammāājīvena jīvitaṁ kappeti—ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāājīvo.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng.
And what is right livelihood? It's when a noble disciple gives up wrong livelihood and earns a living by right livelihood. This is called right livelihood.
SN 45.8, đoạn 9
Katamā ca, bhikkhave, sammāsati? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu vedanānupassī … citte cittānupassī … dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ—ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāsati.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm.
And what is right mindfulness? It's when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … of the mind … of principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. This is called right mindfulness.
SN 45.8, đoạn 10
Katamo ca, bhikkhave, sammāsamādhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati … Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati—ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāsamādhī"ti.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh định? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. … Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh định.
And what is right immersion? It's when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This is called right immersion.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ariya aṭṭhaṅgika maggaThánh đạo Tám ngành / Bát Chánh Đạoariya = thánh, cao thượng; aṭṭha = tám; aṅga = ngành, chi phần; magga = con đường
vibhaṅgaphân tích, phân biệt, giải rộng ra từng phầnTên kinh; động từ trong kinh là vibhajissāmi — "Ta sẽ phân tích"
sammādiṭṭhichánh tri kiến (thấy biết chân chánh)
sammāsaṅkappachánh tư duy (suy nghĩ chân chánh)
sammāvācāchánh ngữ (lời nói chân chánh)
sammākammantachánh nghiệp (hành động chân chánh)
sammāājīvachánh mạng (nuôi sống chân chánh)trái với micchāājīva = tà mạng
sammāvāyāmachánh tinh tấn (siêng năng chân chánh)
sammāsatichánh niệm (ghi nhớ, tỉnh thức chân chánh)
sammāsamādhichánh định (tâm an trú chân chánh)
ñāṇatrí, sự hiểu biết trực tiếp
dukkha / dukkhasamudaya / dukkhanirodhakhổ / khổ tập (nguyên nhân của khổ) / khổ diệt
nekkhammaxuất ly, buông bỏ dục lạc
abyāpādavô sân, không có ý hại giận
avihiṁsāvô hại, không làm tổn thương
veramaṇītừ bỏ, tránh xa
musāvāda / pisuṇā vācā / pharusā vācā / samphappalāpanói láo / nói hai lưỡi / nói lời độc ác / nói lời phù phiếm
pāṇātipāta / adinnādāna / abrahmacariyasát sanh / lấy của không cho / phi Phạm hạnh
kusala / akusalathiện / bất thiện
satipaṭṭhāna (kāya, vedanā, citta, dhammā)niệm xứ: thân, thọ, tâm, pháp
ātāpī sampajāno satimānhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm
abhijjhādomanassatham ưu (tham đắm và ưu não) ở đời
jhānaThiền (bốn tầng thiền sắc giới)
vitakka / vicāratầm / tứ
pīti / sukhahỷ / lạc
upekkhāsatipārisuddhixả niệm thanh tịnh (đặc tính của Thiền thứ tư)

Tám chi, không phải tám bước. Chúng không xếp theo thứ tự thời gian — không phải xong chi một mới sang chi hai. Tám chi cùng được tu, nâng đỡ lẫn nhau. Chữ maggacon đường, và một con đường có nhiều làn.

Chánh niệm được định nghĩa là Bốn Niệm Xứ. Đây là chỗ quan trọng nhất của bài kinh với người học ngày nay. Chánh niệm không phải là “chú ý” chung chung — kinh nói rõ nó là quán thân, thọ, tâm, pháp, có nội dung cụ thể.

Chánh định được định nghĩa là bốn thiền. Cũng vậy — không phải “tập trung” nói chung, mà là bốn tầng thiền có mô tả rõ.

Chánh mạng — chi hay bị bỏ qua nhất. Định nghĩa rất gọn: từ bỏ tà mạng, nuôi sống bằng chánh mạng. Nhưng đây là chi đụng tới nghề nghiệp hằng ngày — và là chi duy nhất nói về cách kiếm sống.

Một chỗ chúng tôi ghi lại. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato dịch chánh tư duy“right purpose”, không phải “right thought” như nhiều bản khác. Lượt soi độc lập chỉ ra chỗ không nhất quán trong bản tra cứu đầu, và chúng tôi đã thống nhất lại.

  • “Tám chi là tám bước theo thứ tự.” Chúng được tu cùng lúc, nâng đỡ nhau.
  • “Chánh niệm là chú ý.” Kinh định nghĩa: Bốn Niệm Xứ.
  • “Chánh định là tập trung.” Kinh định nghĩa: bốn thiền.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy chánh ngữ: bốn điều không nói. Đếm trên bốn ngón tay.
  • Ngành Thiếu. Mỗi tuần một chi, tám tuần. Bài này cho sẵn định nghĩa để khỏi giảng sai.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chánh mạng. Bàn: nghề mình đang làm có chỗ nào cần xem lại không?
  • Vì sao tám chi không phải là tám bước?
  • Chánh niệm được định nghĩa là gì?
  • Vì sao chánh mạng hay bị bỏ qua?
  • Trong tám chi, chi nào em thấy khó nhất?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.