G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 51.15
Câu Vặn Mà Người Mới Học Nào Cũng Hỏi

Kinh Bà-La-Môn

Brāhmaṇasutta — SN 51.15 · Tương Ưng Như Ý Túc · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộTương Ưng Như Ý Túc

Một vị Bà-la-môn hỏi ngài Ānanda một câu rất phải, rồi vặn lại một câu mà ai chịu khó nghĩ cũng sẽ vặn: nếu đích là ĐOẠN TẬN LÒNG MUỐN, mà con đường lại BẮT ĐẦU bằng lòng muốn, thì việc này biết bao giờ mới xong? Ngài Ānanda trả lời bằng một chuyến đi ra vườn.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Đại Phẩm, chương 51 (Tương Ưng Như Ý Túc), bài thứ 15; cả chương có 86 bài
  • Phẩm — phẩm II, Lầu Rung Chuyển (Pāsādakampana)
  • Người nóikhông phải Đức Phật, mà là Tôn giả Ānanda, tại khu vườn Ghosita ở Kosambī
  • Chỗ đứng — một trong bảy nhóm của ba mươi bảy phẩm trợ đạo, cạnh Chánh Cần (SN 49)Lực (SN 50)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bà-la-môn Uṇṇābha đến gặp Tôn giả Ānanda, chào hỏi thân hữu, ngồi xuống một bên, rồi hỏi một câu thẳng: “Do mục đích gì, thưa Tôn giả Ānanda, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?” Ngài Ānanda đáp gọn: “Với mục đích đoạn tận DỤC (chanda).” Bà-la-môn hỏi tiếp: có con đường nào đưa đến đoạn tận lòng dục ấy không? Có. Con đường ấy là gì? Ngài Ānanda kể bốn như ý túc: tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành, với tinh tấn định, với tâm định, với tư duy định. Đến đây vị Bà-la-môn vặn lại — và đây là chỗ hay nhất của bài kinh: “Sự thể là vậy thì đây là một công việc liên tục, không có chấm dứt. Lấy dục mà trừ dục, sự kiện như vậy không xảy ra.” Câu vặn ấy rất chặt. Nếu đích là bỏ lòng muốn, mà bước đầu tiên của con đường lại là chanda — cũng chính là lòng muốn — thì hoá ra càng đi càng nuôi thêm cái mình định bỏ. Việc ấy không bao giờ xong. Ngài Ānanda không cãi. Ngài hỏi ngược một câu rất đời thường: “Này Bà-la-môn, có phải trước đây ông có lòng muốn thúc đẩy: Ta sẽ đi đến khu vườn? Sau khi ông đến khu vườn rồi, lòng muốn ấy được tịnh chỉ?” “Thưa vâng, Tôn giả.” Ngài hỏi thêm ba lần nữa, cho đủ bốn như ý túc: còn tinh tấn thúc đẩy ông đi đến khu vườn thì sao — tới nơi rồi, tinh tấn ấy có lắng xuống không? Còn cái tâm hướng về chuyến đi ấy? Còn sự tư duy tính toán về chuyến đi ấy? Lần nào vị Bà-la-môn cũng đáp: thưa vâng. Rồi ngài kết: cũng vậy, với vị Tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, lậu hoặc đã đoạn tận, việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống — lòng dục mà vị ấy có TRƯỚC để chứng A-la-hán, khi chứng được rồi thì lòng dục ấy được tịnh chỉ. Tinh tấn ấy, tâm ấy, tư duy ấy cũng vậy. “Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn: sự thể là vậy thì đây là một công việc có chấm dứt hay không chấm dứt?” “Thực vậy, thưa Tôn giả Ānanda, đây là một công việc CÓ chấm dứt.” Bài kinh khép lại bằng câu tán thán quen thuộc của kinh tạng — như dựng đứng lại vật bị quăng ngã, như mở toang chỗ bị che kín, như chỉ đường cho kẻ lạc, như đem đèn vào chỗ tối — rồi vị Bà-la-môn xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng trọn đời.

Bốn như ý túcBốn thứ có thể làm bệ phóng cho định, không phải bốn phép lạ

PāliViệt (HT. Thích Minh Châu)Nói nôm na
chanda-samādhi-padhānasaṅkhāraDục định tinh cần hànhđịnh đặt trên lòng MUỐN làm
vīriya-samādhi-padhānasaṅkhāraTinh tấn định tinh cần hànhđịnh đặt trên sức BỀN
citta-samādhi-padhānasaṅkhāraTâm định tinh cần hànhđịnh đặt trên sự CHÚ TÂM, dốc lòng
vīmaṁsā-samādhi-padhānasaṅkhāraTư duy định tinh cần hànhđịnh đặt trên sự XÉT ĐI XÉT LẠI

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 51.15:1.5–1.6 (câu hỏi và câu đáp gọn nhất)
“kimatthiyaṁ nu kho, bho ānanda, samaṇe gotame brahmacariyaṁ vussatī”ti? “Chandappahānatthaṁ kho, brāhmaṇa, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
—Do mục đích gì, thưa Tôn giả Ānanda, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama? —Với mục đích đoạn tận dục (chanda), này Bà-la-môn, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama.
“Worthy Ānanda, what’s the goal of leading the spiritual life under the ascetic Gotama?” “The goal of leading the spiritual life under the Buddha, brahmin, is to give up desire.”
SN 51.15:3.2–3.6 (bốn như ý túc)
“Idha, brāhmaṇa, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīriyasamādhi …pe… cittasamādhi … vīmaṁsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti— ayaṁ kho, brāhmaṇa, maggo ayaṁ paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti.
—Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành … tinh tấn định … tâm định … tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Ðây là con đường, này Bà-la-môn, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận lòng dục.
“It’s when a mendicant develops the basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm … energy … mental development … inquiry, and active effort. This is the path and the practice for giving up that desire.”
SN 51.15:4.1–4.2 ⭐ (câu vặn của vị Bà-la-môn)
“Evaṁ sante, bho ānanda, santakaṁ hoti no asantakaṁ. Chandeneva chandaṁ pajahissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati”.
—Sự thể là vậy, thưa Tôn giả Ānanda, thời một công việc liên tục (santaka), không có chấm dứt. Lấy dục mà trừ dục, sự kiện như vậy không xẩy ra.
“This being the case, worthy Ānanda, the path is endless, not finite. For it’s not possible to give up desire by means of desire.”
SN 51.15:4.5–4.6 ⭐ (chuyến đi ra vườn)
ahosi te pubbe chando ‘ārāmaṁ gamissāmī’ti? Tassa te ārāmagatassa yo tajjo chando so paṭippassaddho”ti?
Có phải trước có lòng dục (ý muốn) nơi Ông, thúc đẩy Ông: “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ?
Have you ever had a desire to walk to the park, but when you arrived at the park, the corresponding desire faded away?”
SN 51.15:5.1 (áp vào vị A-la-hán)
“Evameva kho, brāhmaṇa, yo so bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo … tassa yo pubbe chando ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yo tajjo chando so paṭippassaddho;
—Cũng vậy này Bà-la-môn, khi Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận … Lòng dục mà vị ấy có trước để chứng được A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ.
“In the same way, take a mendicant who is perfected—with defilements ended … They formerly had the desire to attain perfection, but when they attained perfection the corresponding desire faded away.
SN 51.15:6.1 (vị Bà-la-môn tự rút lại lời mình)
“Addhā, bho ānanda, evaṁ sante, santakaṁ hoti no asantakaṁ.
—Thực vậy, thưa Tôn giả Ānanda, sự thể là vậy, một công việc có chấm dứt, không phải là một công việc không chấm dứt.
“Clearly, worthy Ānanda, this being the case, the path is finite, not endless.
SN 51.15:6.3–6.5 (quy y)
Seyyathāpi, bho ānanda, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya … Esāhaṁ, bho ānanda, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! … Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark … I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
chandadục — lòng muốn làm một việckhông cùng nghĩa với kāmacchanda (dục tham) hay taṇhā (ái); chữ này trung tính, tuỳ chỗ mà thiện hay bất thiện
iddhipādanhư ý túc — chân đứng của sự thành tựuiddhi = sự thành tựu, năng lực; pāda = bàn chân, nền
padhānasaṅkhāratinh cần hành — sự dốc sức đi kèmcùng gốc padhāna với chánh cần
vīmaṁsātư duy, sự xét đi xét lạiSujato dịch “inquiry”; nghĩa gần với tra hỏi, thử nghiệm
paṭippassaddhađược tịnh chỉ, lắng xuốngchữ bản lề của bài kinh: không phải bị dẹp bỏ, mà tự lắng khi việc đã xong
santaka / asantakacó chấm dứt / không chấm dứtchữ vị Bà-la-môn dùng lúc vặn, và dùng lại lúc nhận ra
brahmacariyaPhạm hạnh, đời sống thanh tịnh
khīṇāsavabậc đã đoạn tận lậu hoặcmột danh hiệu của vị A-la-hán

Xin thưa vì sao bài kinh này đáng đọc kỹ. Nó GIỮ NGUYÊN câu vặn của người ngoài đạokhông cắt đi, không làm cho nhẹ bớt.

Và câu vặn ấy rất chặt: “LẤY DỤC MÀ TRỪ DỤC, sự kiện như vậy không xảy ra.” Đích là bỏ lòng muốn, mà bước đầu lại là lòng muốnhoá ra càng đi càng nuôi thêm cái mình định bỏ.

Ngài Ānanda KHÔNG CÃI. Ngài hỏi ngược một chuyện rất thường. “Ông có từng muốn đi ra khu vườn không? Tới nơi rồi, lòng muốn ấy còn không?”

Xin dừng ở đây, vì cả bài kinh nằm trong câu ấy. Lòng muốn đi ra vườn KHÔNG CẦN ai dẹp nó. Nó hết bằng cách TỚI NƠI.

Chữ Pāli ở đây là paṭippassaddha — ĐƯỢC TỊNH CHỈ, lắng xuống. Không phải “bị tiêu diệt”. Xin để ý chỗ khác nhau ấy, vì nó đổi hẳn cách hiểu.

Cho nên con đường CÓ chấm dứt. Nó hết như một chuyến đi hếtbằng cách TỚI, chứ không phải bằng cách bỏ dở.

Xin để ý một chi tiết dễ lướt qua: ngài Ānanda hỏi ĐÚNG BỐN LẦN. Lòng muốn, tinh tấn, cái tâm hướng về, và sự tính toánmỗi lần một như ý túc. Ngài trả lời theo đúng cái khung mình vừa nêu ra, không bỏ sót cái nào.

Và xin thưa một điều về TÊN của chương kinh này, vì cái tên hay làm người ta hiểu lệch. Iddhipāda thường dịch là “như ý túc” hay “nền tảng của thần thông”.

Iddhi nghĩa gốc là SỰ THÀNH TỰU, cái làm nên việc. Bốn như ý túc KHÔNG phải bốn phép lạ. Chúng là BỐN THỨ mà cái tâm có thể ĐỨNG LÊN trên đó.

Và bốn thứ ấy rất người: MUỐN LÀM · BỀN SỨC · DỐC LÒNG · XÉT ĐI XÉT LẠI. Đó là bốn động cơ khác nhauvà người ta không ai giống ai.

Xin thưa chỗ hữu ích nhất cho anh chị em Huynh Trưởng. Có em đi được nhờ THÍCH. Có em đi được nhờ LÌ. Có em nhờ DỐC HẾT LÒNG vào một việc. Có em nhờ CỨ NGHĨ TỚI NGHĨ LUI cho ra lẽ. Kinh cho đủ bốn cửa, và cửa nào cũng vào được.

  • “Đạo Phật nói mọi ý muốn đều xấu.” Chữ ở đây là chandalòng muốn LÀM một việckhông phải kāmacchanda (dục tham) hay taṇhā (ái). Chính con đường bắt đầu bằng chữ ấy.
  • “Phải tiêu diệt lòng muốn.” Kinh dùng chữ paṭippassaddhaĐƯỢC TỊNH CHỈ. Nó lắng xuống khi việc đã xong, như lòng muốn ra vườn hết khi đã tới vườn.
  • “Như ý túc là chuyện thần thông phép lạ.” Iddhi nghĩa gốc là SỰ THÀNH TỰU. Bốn như ý túc là bốn chỗ đứng của cái tâm: muốn làm, bền sức, dốc lòng, xét lại.
  • “Bài này do Đức Phật giảng.” Do Tôn giả ĀNANDA giảng — và vị Bà-la-môn xin quy y ngay tại chỗ.
  • Ngành Oanh. Hỏi các em: “Con muốn ra sân chơi. Ra tới sân rồi thì cái muốn ấy còn không?” Các em trả lời được là đã hiểu cả bài kinh.
  • Ngành Thiếu. Cho mỗi em chọn một trong bốn cửa: THÍCH · LÌ · DỐC LÒNG · XÉT KỸ. Em nào đi bằng cửa nào? Rồi bàn xem vì sao lớp mình có đủ bốn kiểu.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Nêu câu vặn của vị Bà-la-môn ra TRƯỚC, để nguyên, đừng vội chữa — rồi để các em tự tìm câu trả lời. Bài kinh dạy cả cách tranh luận: không cãi, mà hỏi ngược một câu đời thường.
  • Nói lại câu vặn của vị Bà-la-môn bằng lời của mình.
  • Chuyến đi ra vườn trả lời câu vặn ấy thế nào?
  • Chữ chanda khác chữ taṇhā chỗ nào?
  • Vì sao kinh nói tịnh chỉ chứ không nói tiêu diệt?
  • Kể bốn như ý túc, và nói mình hay đi bằng cửa nào nhất.

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên trọn bài — bài này ngắn, chúng tôi đọc hết từ đầu tới cuối chứ không trích đoạn. Số bài của cả chương đã đếm lại: 32 bài lẻ (51.1–32) cộng năm nhóm chép tắt 12 + 10 + 12 + 10 + 10, tổng cộng 86 bài, đúng bằng khoảng 51.1–51.86. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem SN 51.15. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.