G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 1.188–267
Tám Mươi Bài Kinh, Mỗi Bài Một Tên Người

Phẩm Người Tối Thắng

Etadaggavagga — AN 1.188–267 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộPhẩm Người Tối Thắng

Cả Tam Tạng chỉ có một phẩm đọc lên như một bảng danh dự, và đây là phẩm ấy. Tám mươi bài kinh ngắn, bài nào cũng mở đầu bằng cùng một chữetadaggaṁ, “đây là tối thắng” — và bài nào cũng kết lại bằng MỘT TÊN NGƯỜI.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Một Pháp, kinh 188–267; cộng lại đúng tám mươi bài
  • PhẩmEtadaggavagga, phẩm thứ mười bốn của Chương Một Pháp; bản Việt đề “XIV. Phẩm Người Tối Thắng”, ấn bản Mahāsaṅgīti cũng xếp thứ mười bốn
  • Bên trong chia bảy đoạn — mỗi đoạn có dòng khép riêng (vaggo paṭhamo… vaggo sattamo), và dòng cuối cùng ghi Etadaggavaggo niṭṭhito — hết phẩm Người Tối Thắng
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Phẩm này không giảng giáo lý. Nó gọi tên người. Công thức của mỗi bài giống hệt nhau: “Etadaggaṁ, bhikkhave, mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ …ānaṁ yadidaṁ X” — “Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tối thắng về … là X.” Chỉ có phần giữa và cái tên ở cuối là đổi. Bài đầu tiên viết đủ câu; bảy mươi chín bài sau chép tắt bằng dấu lược, vì mọi chữ khác đều y nguyên. Tám mươi bài ấy chia làm bốn chúng, và đây là điều đáng để ý nhất về mặt bố cục: Đức Phật nêu người tối thắng trong cả bốn chúng, chứ không chỉ trong hàng xuất gia. Bốn mươi bảy bài cho chư Tỳ-kheo, mười ba bài cho chư Tỳ-kheo-ni, mười bài cho hàng nam cư sĩ, mười bài cho hàng nữ cư sĩ. Cộng lại: 47 + 13 + 10 + 10 = 80, đúng bằng khoảng từ bài 188 đến bài 267. Số bài không phải là số người. Có vị được nêu nhiều lần vì tối thắng về nhiều hạnh: ngài Cūḷapanthaka hai lần, ngài Subhūti hai lần, và ngài Ānanda được nêu năm lần liền — nghe nhiều, trí nhớ, tầm hiểu, kiên trì, và làm thị giả. Trừ các lần trùng ấy ra thì bốn mươi bảy bài về chư Tỳ-kheo ứng với bốn mươi mốt vị. Bài 1.248 thì ngược lại: một bài mà nêu hai người — hai anh em lái buôn Tapussa và Bhallika, hai vị cư sĩ đầu tiên của đạo Phật, quy y khi Giáo Pháp còn chưa được thuyết. Điều cảm động nhất của phẩm này nằm ở chỗ các hạnh được nêu rất khác nhau về tầm cỡ. Có hạnh lớn như đại trí tuệ, thần thông, thiên nhãn. Nhưng cũng có hạnh rất đỗi bình thường: ngài Dabba Mallaputta tối thắng về sửa soạn chỗ ngồi chỗ nằm cho chúng Tăng; bà Suppiyā tối thắng về săn sóc người bệnh; ông Nakulapitā và bà Nakulamātā tối thắng về nói chuyện một cách thân mật. Sắp xếp lều trại, chăm người ốm, ăn ở thuận hoà với nhau — những việc ấy cũng được Đức Phật gọi tên là tối thắng, đứng chung một danh sách với thần thông và trí tuệ. Và bà Kāḷī ở Kuraraghara, bài chót của cả phẩm, tối thắng về lòng tịnh tín đối với lời được nghe — bà chưa từng gặp Đức Phật lần nào.

Bốn chúng, tám mươi bàiCộng lại đúng bằng khoảng 188–267

  • Chư Tỳ-kheo47 bài (1.188–234), ứng với 41 vị; riêng ngài Ānanda được nêu năm lần
  • Chư Tỳ-kheo-ni13 bài (1.235–247), 13 vị
  • Hàng nam cư sĩ10 bài (1.248–257), 11 vị (bài đầu nêu hai anh em)
  • Hàng nữ cư sĩ10 bài (1.258–267), 10 vị
  • Cộng lại — 47 + 13 + 10 + 10 = 80; và 267 − 188 + 1 = 80. Hai cách đếm khớp nhau.

Xin ghi đủ cả tám mươi bài, theo đúng thứ tự trong kinh. Chữ nghiêng là chữ Pāli chỉ hạnh; dòng dưới là lời của HT. Thích Minh Châu.

1 · Chư Tỳ-kheoAN 1.188–234 · 47 bài · 41 vị

BàiTối thắng về…Vị Tôn GiảGhi chú
188rattaññūnaṁ
đã lâu ngày (vị xuất gia sớm nhất)
Aññāsi KoṇḍaññaA-nhã Kiều-trần-như, một trong năm anh em Kiều-trần-như
189mahāpaññānaṁ
đại trí tuệ
SāriputtaXá-lợi-phất, vị Thượng Thủ thứ nhất
190iddhimantānaṁ
có thần thông
MahāmoggallānaMục-kiền-liên, vị Thượng Thủ thứ hai
191dhutavādānaṁ
thuyết về hạnh đầu đà
MahākassapaĐại Ca-diếp, vị chủ toạ kỳ kết tập thứ nhất
192dibbacakkhukānaṁ
thiên nhãn
AnuruddhaA-na-luật
193uccākulikānaṁ
thuộc gia đình quý tộc
Bhaddiya Kāḷigodhāputta
194mañjussarānaṁ
có âm thanh vi diệu
Lakuṇḍaka Bhaddiya“Lakuṇḍaka” nghĩa là người lùn
195sīhanādikānaṁ
rống tiếng rống con sư tử
Piṇḍola Bhāradvāja
196dhammakathikānaṁ
thuyết pháp
Puṇṇa MantāṇiputtaPhú-lâu-na
197saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ vibhajantānaṁ
giảng rộng điều được nói vắn tắt
MahākaccānaMa-ha Ca-chiên-diên
198manomayaṁ kāyaṁ abhinimminantānaṁ
dùng ý hoá thân
CūḷapanthakaChâu-lợi-bàn-đặc
199cetovivaṭṭakusalānaṁ
thiện xảo về tâm thắng tiến
Cūḷapanthakavị này được nêu HAI lần
200saññāvivaṭṭakusalānaṁ
thiện xảo về tưởng thắng tiến
Mahāpanthakaanh của Cūḷapanthaka
201araṇavihārīnaṁ
trú không có tranh luận
SubhūtiTu-bồ-đề
202dakkhiṇeyyānaṁ
đáng được cúng dường
Subhūtivị này được nêu HAI lần
203āraññakānaṁ
tu ở rừng
Revata Khadiravaniyaem của ngài Sāriputta
204jhāyīnaṁ
tu Thiền
Kaṅkhā Revata
205āraddhavīriyānaṁ
tinh cần tinh tấn
Soṇa Koḷivisavị được Phật dạy ví dụ dây đàn
206kalyāṇavākkaraṇānaṁ
khéo nói
Soṇa Kuṭikaṇṇa
207lābhīnaṁ
nhận được đồ cúng dường
Sīvali
208saddhādhimuttānaṁ
tín thắng giải
Vakkali
209sikkhākāmānaṁ
ưa thích học tập
RāhulaLa-hầu-la, con của Đức Phật
210saddhāpabbajitānaṁ
xuất gia vì lòng tin
Raṭṭhapālaxem MN 82
211paṭhamaṁ salākaṁ gaṇhantānaṁ
đầu tiên nhận phiếu ăn cơm
Kuṇḍadhāna
212paṭibhānavantānaṁ
đầy đủ biện tài
Vaṅgīsavị thi sĩ; có riêng một Tương Ưng (SN 8)
213samantapāsādikānaṁ
dễ mến toàn diện
Upasena Vaṅgantaputtaem của ngài Sāriputta
214senāsanapaññāpakānaṁ
sửa soạn chỗ ngồi, chỗ nằm
Dabba Mallaputta
215devatānaṁ piyamanāpānaṁ
được chư Thiên ái mộ
Pilindavaccha
216khippābhiññānaṁ
có thắng trí mau lẹ
Bāhiya Dārucīriyaxem Ud 1.10 — Kinh Bāhiya
217cittakathikānaṁ
thuyết giảng vi diệu
Kumāra Kassapa
218paṭisambhidāpattānaṁ
đạt được vô ngại giải
Mahākoṭṭhita
219bahussutānaṁ
được nghe nhiều
ĀnandaA-nan; năm bài liền nói về ngài
220satimantānaṁ
đầy đủ ức niệm (trí nhớ)
Ānanda
221gatimantānaṁ
đầy đủ cử chỉ tốt đẹp
Ānandaxem ghi chú ở phần Nguồn
222dhitimantānaṁ
đầy đủ sự kiên trì
Ānanda
223upaṭṭhākānaṁ
thị giả
Ānandathị giả hầu Phật hai mươi lăm năm cuối
224mahāparisānaṁ
có đại hội chúng
Uruvela Kassapa
225kulappasādakānaṁ
làm cho các gia đình hoan hỷ
Kāḷudāyī
226appābādhānaṁ
không có bệnh hoạn
Bakkulaxem MN 124
227pubbenivāsaṁ anussarantānaṁ
nhớ đến các đời sống quá khứ
Sobhita
228vinayadharānaṁ
trì Luật
UpāliƯu-ba-ly, vị trùng tuyên Tạng Luật
229bhikkhunovādakānaṁ
giáo giới Tỳ-kheo-ni
Nandakaxem MN 146
230indriyesu guttadvārānaṁ
hộ trì các căn môn
Nandaem cùng cha khác mẹ với Đức Phật
231bhikkhuovādakānaṁ
giáo giới Tỳ-kheo
Mahākappina
232tejodhātukusalānaṁ
thiện xảo về hoả giới
Sāgata
233paṭibhāneyyakānaṁ
năng khởi biện tài (khiến người khác giảng hay)
Rādhacó riêng một Tương Ưng (SN 23)
234lūkhacīvaradharānaṁ
mang thô y
Mogharājaxem Sn 5.15

2 · Chư Tỳ-kheo-niAN 1.235–247 · 13 bài · 13 vị

BàiTối thắng về…Vị Ni TrưởngGhi chú
235rattaññūnaṁ
đã lâu ngày
Mahāpajāpatī Gotamīdi mẫu của Đức Phật, vị Tỳ-kheo-ni đầu tiên
236mahāpaññānaṁ
đại trí tuệ
Khemāvị Thượng Thủ ni thứ nhất
237iddhimantīnaṁ
đầy đủ thần thông
Uppalavaṇṇāvị Thượng Thủ ni thứ hai
238vinayadharānaṁ
trì Luật
Paṭācārā
239dhammakathikānaṁ
thuyết pháp
Dhammadinnāxem MN 44 — Tiểu Kinh Phương Quảng
240jhāyīnaṁ
tu Thiền
Nandā
241āraddhavīriyānaṁ
tinh cần tinh tấn
Soṇā
242dibbacakkhukānaṁ
thiên nhãn
Sakulāấn bản Mahāsaṅgīti chép bakulā — xem phần Nguồn
243khippābhiññānaṁ
có thắng trí mau lẹ
Bhaddā Kuṇḍalakesā
244pubbenivāsaṁ anussarantīnaṁ
nhớ đến các thời quá khứ
Bhaddā Kāpilānī
245mahābhiññāpattānaṁ
đã chứng đạt đại thắng trí
Bhaddakaccānātheo Chú giải là công chúa Yasodharā
246lūkhacīvaradharānaṁ
mang thô y
Kisāgotamīvị được Phật dạy đi xin hạt cải
247saddhādhimuttānaṁ
đầy đủ tín thắng giải
Siṅgālakamātāmẹ của chàng Siṅgāla trong DN 31

3 · Hàng nam cư sĩAN 1.248–257 · 10 bài · 11 vị

BàiTối thắng về…Vị Cư SĩGhi chú
248paṭhamaṁ saraṇaṁ gacchantānaṁ
đã quy y đầu tiên
Tapussa và BhallikaHAI người, hai anh em lái buôn — hai vị cư sĩ đầu tiên của đạo Phật
249dāyakānaṁ
bố thí
Sudatta Anāthapiṇḍikaông Cấp Cô Độc, người dâng vườn Kỳ-đà
250dhammakathikānaṁ
thuyết pháp
Citta Macchikāsaṇḍikagia chủ Citta; có riêng một Tương Ưng (SN 41)
251catūhi saṅgahavatthūhi parisaṁ saṅgaṇhantānaṁ
nhiếp phục hội chúng nhờ Bốn Nhiếp Pháp
Hatthaka Āḷavaka
252paṇītadāyakānaṁ
bố thí các món ăn thượng vị
Mahānāma Sakkaxem AN 11.11
253manāpadāyakānaṁ
bố thí các món đồ khả ý
Ugga — gia chủ ở Vesālī
254saṅghupaṭṭhākānaṁ
hộ trì Tăng chúng
Uggata — gia chủ ở Hatthigāma
255aveccappasannānaṁ
có lòng tịnh tín bất động
Sūrambaṭṭha
256puggalappasannānaṁ
có lòng tịnh tín nơi một người
Jīvaka Komārabhaccavị lương y của Đức Phật — xem phần Nguồn
257vissāsakānaṁ
nói chuyện một cách thân mật
Nakulapitācha của Nakula, xem AN 4.55

4 · Hàng nữ cư sĩAN 1.258–267 · 10 bài · 10 vị

BàiTối thắng về…Vị Nữ Cư SĩGhi chú
258paṭhamaṁ saraṇaṁ gacchantīnaṁ
đi đến quy y đầu tiên
Sujātā Seniyadhītāngười dâng bát cháo sữa trước ngày Thành Đạo
259dāyikānaṁ
bố thí
Visākhā Migāramātābà Visākhā, người dựng Lộc Mẫu giảng đường
260bahussutānaṁ
nghe nhiều
Khujjuttarāngười trùng tuyên toàn bộ Phật Thuyết Như Vậy
261mettāvihārīnaṁ
trú từ tâm
Sāmāvatīhoàng hậu xứ Kosambī
262jhāyīnaṁ
tu Thiền
Uttarā Nandamātā
263paṇītadāyikānaṁ
bố thí các món ăn thượng vị
Suppavāsā Koliyadhītā
264gilānupaṭṭhākīnaṁ
săn sóc người bệnh
Suppiyā
265aveccappasannānaṁ
có lòng tịnh tín bất động
Kātiyānī
266vissāsikānaṁ
nói chuyện một cách thân mật
Nakulamātāmẹ của Nakula, xem AN 4.55
267anussavappasannānaṁ
có lòng tịnh tín đối với lời được nghe
Kāḷī — nữ cư sĩ ở Kuraragharachưa gặp Phật lần nào mà đắc quả Dự Lưu

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 1.188:1.1 (bài mở đầu · viết đủ công thức)
“Etadaggaṁ, bhikkhave, mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ rattaññūnaṁ yadidaṁ aññāsikoṇḍañño.
—Trong các đệ tử Tỷ-kheo đã lâu ngày của Ta, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Anna Kondanno (A-nhã Kiều-trần-như).
“The foremost of my monk disciples in long standing is Koṇḍañña Who Understood.
AN 1.189:1.1 (từ bài thứ hai trở đi chép tắt)
… Mahāpaññānaṁ yadidaṁ sāriputto.
Trong các vị đệ tử… đại trí tuệ, tối thắng là Sàriputta.
… with great wisdom is Sāriputta.
AN 1.214:1.1 (một hạnh rất đời thường)
… Senāsanapaññāpakānaṁ yadidaṁ dabbo mallaputto.
Trong các vị đệ tử… sửa soạn chỗ ngồi, chỗ nằm, tối thắng là Dabba Mallaputta.
… who assign lodgings is Dabba Mallaputta.
AN 1.223:1.1 (bài thứ năm liền về ngài Ānanda)
… Upaṭṭhākānaṁ yadidaṁ ānando.
Trong các vị đệ tử… thị giả, tối thắng là Ananda.
… as a personal attendant is Ānanda.
AN 1.235:1.1 (mở đầu phần chư Tỳ-kheo-ni)
“Etadaggaṁ, bhikkhave, mama sāvikānaṁ bhikkhunīnaṁ rattaññūnaṁ yadidaṁ mahāpajāpatigotamī.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni đã lâu ngày của Ta, tối thắng là Màhàpàjapati Gotamì.
“The foremost of my nun disciples in long standing is Mahāpajāpati Gotamī.
AN 1.248:1.1 (một bài, hai người)
“Etadaggaṁ, bhikkhave, mama sāvakānaṁ upāsakānaṁ paṭhamaṁ saraṇaṁ gacchantānaṁ yadidaṁ tapussabhallikā vāṇijā.
—Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta, này các Tỷ-kheo, đã quy y đầu tiên, tối thắng là các người buôn bán Tapassu Bhallikà.
“The foremost of my laymen in first going for refuge are the merchants Tapussa and Bhallika.
AN 1.264:1.1 (chăm người bệnh cũng là tối thắng)
… Gilānupaṭṭhākīnaṁ yadidaṁ suppiyā upāsikā.
Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ… săn sóc người bệnh, tối thắng là nữ cư sĩ Suppiyà.
… who care for the sick is the laywoman Suppiyā.
AN 1.267:1.1–1.3 (bài chót và dòng khép phẩm)
… Anussavappasannānaṁ yadidaṁ kāḷī upāsikā kuraragharikā”ti. …vaggo sattamo. (Etadaggavaggo niṭṭhito.)
Trong các vị nữ cư sĩ đệ tử của Ta, này các Tỷ-kheo, có lòng tịnh tín đối với lời nghe đồn, tối thắng là Kàlì, nữ cư sĩ ở Kuraraghara. …Phẩm thứ bảy. (Hết phẩm Người Tối Thắng.)
… whose confidence is based on oral transmission is the laywoman Kāḷī of Kuraraghara.” …the seventh sub-chapter. (The Chapter on the Foremost is finished.)
Chữ PāliNghĩaGhi chú
etadagga“đây là bậc nhất”, tối thắngetaṁ (cái này) + agga (đứng đầu, chóp đỉnh); tên phẩm lấy từ chữ này
sāvaka / sāvikāđệ tử nam / đệ tử nữnghĩa gốc: người nghe
upāsaka / upāsikānam cư sĩ / nữ cư sĩnghĩa gốc: người ngồi gần
yadidaṁ“đó là…”, “tức là…”chữ dẫn tên người ở cuối mỗi bài
rattaññū“biết nhiều đêm”, tức lâu năm nhấthạnh của bài mở đầu cả hai chúng xuất gia
senāsanapaññāpakangười sắp đặt chỗ ngồi, chỗ nằmhạnh của ngài Dabba Mallaputta
gilānupaṭṭhākangười săn sóc kẻ bệnhhạnh của bà Suppiyā
vissāsakangười nói chuyện thân mật, tin cậy nhauhạnh của ông bà Nakulapitā – Nakulamātā
anussavappasannacó lòng tịnh tín do nghe truyền lạihạnh của bà Kāḷī, bài chót của phẩm
saddhādhimuttatín thắng giải — thiên nặng về lòng tinhạnh của ngài Vakkali và bà Siṅgālakamātā

Xin thưa điều lạ nhất của phẩm này. Tám mươi bài kinh mà KHÔNG giảng một giáo lý nào. Nó gọi tên người.

Và tám mươi bài dùng đúng một công thức. “Etadaggaṁ… yadidaṁ X”“Tối thắng về … là X.” Chỉ đổi phần giữa và cái tên ở cuối.

Xin để ý điều thứ nhất: Đức Phật nêu người tối thắng trong CẢ BỐN CHÚNG. Không phải chỉ hàng xuất gia. Hai mươi bài dành riêng cho hàng cư sĩ tại giamười bài nam, mười bài nữ.

Xin để ý điều thứ hai: SỐ BÀI KHÔNG PHẢI SỐ NGƯỜI. Ngài Ānanda được nêu NĂM LẦN liềnnghe nhiều, trí nhớ, tầm hiểu, kiên trì, và làm thị giả.

Và ngược lại, có MỘT bài nêu HAI người. Bài 1.248: hai anh em lái buôn Tapussa và Bhallikahai vị cư sĩ đầu tiên của đạo Phật, quy y khi Giáo Pháp còn chưa được thuyết ra.

Nhưng xin thưa chỗ cảm động nhất của phẩm này, và con mong anh chị em dừng lại ở đây. Các hạnh được nêu KHÁC NHAU RẤT XA về tầm cỡ.

Có hạnh lớn như mình vẫn nghĩ. Đại trí tuệ — ngài Sāriputta. Thần thông — ngài Mahāmoggallāna. Thiên nhãn — ngài Anuruddha.

Nhưng cũng có hạnh rất đỗi bình thường, và đó mới là điều đáng nói. SỬA SOẠN CHỖ NGỒI CHỖ NẰM cho chúng Tăng — ngài Dabba Mallaputta. SĂN SÓC NGƯỜI BỆNH — bà Suppiyā. NÓI CHUYỆN MỘT CÁCH THÂN MẬT — ông bà Nakulapitā và Nakulamātā.

Xin thưa lại cho rõ. Dựng lều trại, chăm người ốm, ăn ở thuận hoà với nhaunhững việc ấy đứng CHUNG MỘT DANH SÁCH với thần thông và trí tuệ. Đức Phật gọi tên chúng là tối thắng.

Và xin để ý bài CHÓT của cả phẩm. Bà Kāḷī ở Kuraraghara, tối thắng về lòng tịnh tín đối với lời được nghebà chưa từng gặp Đức Phật lần nào.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Với Gia Đình Phật Tử, phẩm này đáng giá hơn một bài giảng. Nó là một danh sách các cách để trở nên tối thắng — và trong tám mươi cách ấy, có nhiều cách mà một em đoàn sinh làm được ngay tuần này.

  • “Tám mươi bài là tám mươi người.” Không — ngài Ānanda năm lần, ngài Cūḷapanthaka và ngài Subhūti mỗi vị hai lần, và bài 1.248 nêu hai người trong một bài. Riêng chư Tỳ-kheo: 47 bài, 41 vị.
  • “Chỉ có hàng xuất gia được nêu.” Hai mươi trong tám mươi bài là hàng cư sĩ tại giamười nam, mười nữ.
  • “Tối thắng nghĩa là giỏi nhất mọi mặt.” Không — tối thắng VỀ MỘT HẠNH được gọi tên. Mỗi vị đứng đầu ở đúng phần của mình.
  • “Toàn là những chứng đắc lớn.” Sửa soạn chỗ nằmsăn sóc người bệnh cũng nằm trong danh sách ấy.
  • Ngành Oanh. Chọn năm cái tên và kể chuyện: ngài Rāhula (con Phật, ưa học), bà Kisāgotamī (đi xin hạt cải), ông Cấp Cô Độc, bà Visākhā, ngài Cūḷapanthaka (học mãi không thuộc một câu).
  • Ngành Thiếu. Cho mỗi em chọn MỘT hạnh trong bảng để tập trong một tháng, rồi kể lại cho đoàn nghe. Có hạnh làm được ngay: sắp xếp chỗ sinh hoạt, chăm bạn ốm, nói năng thuận hoà.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn hai câu: vì sao Đức Phật nêu cả hàng cư sĩ?vì sao những việc rất thường như dựng trại, chăm bệnh lại được gọi là tối thắng?
  • Trại và đêm lửa trại. Lấy tên các vị trong phẩm đặt cho từng đội, chúngmỗi đội kể lại hạnh tối thắng của vị mình mang tên.
  • Phẩm có bao nhiêu bài kinh, và bao nhiêu người? Vì sao hai con số ấy khác nhau?
  • Vị nào được nêu năm lần, và về năm hạnh nào?
  • Kể ba hạnh trong bảng mà một em đoàn sinh có thể tập ngay tháng này.
  • Chữ etadagga nghĩa đen là gì?
  • Vì sao việc hàng cư sĩ cũng có mặt trong danh sách này là điều đáng nói?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên cả tám mươi bài, không bỏ bài nào. Các con số đã cộng lại hai cách: 47 + 13 + 10 + 10 = 80, và 267 − 188 + 1 = 80.

Bốn chỗ ba bản không khớp nhau, xin ghi rõ để bác tự xét:

  • Bài 1.242 — ấn bản Mahāsaṅgīti chép tên vị ni là bakulā, nhưng bản Anh của Sujato ghi Sakulā và bản Việt của HT. Thích Minh Châu cũng ghi Sakulà. Hai trên ba bản đọc là Sakulā, nên chúng tôi theo đó, và ghi lại dị bản ở cột ghi chú.
  • Bài 1.256 — Pāli puggalappasannānaṁ và bản Anh (“who have confidence in an individual”) đều nói lòng tịnh tín đặt nơi MỘT NGƯỜI; bản Việt dịch thoáng là “được dân chúng kính mến”. Chúng tôi theo hai bản kia.
  • Bài 1.221 — Pāli gatimantānaṁ, bản Anh “with an extensive range” (tầm hiểu rộng); bản Việt là “đầy đủ cử chỉ tốt đẹp”. Chữ gati có cả hai nghĩa, chúng tôi giữ lời bản Việt trong bảng và ghi chú ở đây.
  • Vài tên riêng trong bản điện tử tiếng Việt bị sai chính tả so với Pāli: Bàhiva Dàructriya (đúng: Bāhiya Dārucīriya), Khujjuttar (đúng: Khujjuttarā), Sujàtà Senàndìhità (đúng: Sujātā Seniyadhītā), Kàlì nữ cư sĩ ở Kulagharikà (đúng: Kuraraghara). Bảng trên dùng dạng Pāli đã đối chiếu.

Muốn đọc trọn phẩm kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng theo bảy đoạn: 188–197 · 198–208 · 209–218 · 219–234 · 235–247 · 248–257 · 258–267. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.