Cả Tam Tạng chỉ có một phẩm đọc lên như một bảng danh dự, và đây là phẩm ấy. Tám mươi bài kinh ngắn, bài nào cũng mở đầu bằng cùng một chữ — etadaggaṁ, “đây là tối thắng” — và bài nào cũng kết lại bằng MỘT TÊN NGƯỜI.
Phần I · Xuất Xứ- Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Một Pháp, kinh 188–267; cộng lại đúng tám mươi bài
- Phẩm — Etadaggavagga, phẩm thứ mười bốn của Chương Một Pháp; bản Việt đề “XIV. Phẩm Người Tối Thắng”, ấn bản Mahāsaṅgīti cũng xếp thứ mười bốn
- Bên trong chia bảy đoạn — mỗi đoạn có dòng khép riêng (vaggo paṭhamo… vaggo sattamo), và dòng cuối cùng ghi Etadaggavaggo niṭṭhito — hết phẩm Người Tối Thắng
- Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu
Phẩm này không giảng giáo lý. Nó gọi tên người. Công thức của mỗi bài giống hệt nhau: “Etadaggaṁ, bhikkhave, mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ …ānaṁ yadidaṁ X” — “Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tối thắng về … là X.” Chỉ có phần giữa và cái tên ở cuối là đổi. Bài đầu tiên viết đủ câu; bảy mươi chín bài sau chép tắt bằng dấu lược, vì mọi chữ khác đều y nguyên. Tám mươi bài ấy chia làm bốn chúng, và đây là điều đáng để ý nhất về mặt bố cục: Đức Phật nêu người tối thắng trong cả bốn chúng, chứ không chỉ trong hàng xuất gia. Bốn mươi bảy bài cho chư Tỳ-kheo, mười ba bài cho chư Tỳ-kheo-ni, mười bài cho hàng nam cư sĩ, mười bài cho hàng nữ cư sĩ. Cộng lại: 47 + 13 + 10 + 10 = 80, đúng bằng khoảng từ bài 188 đến bài 267. Số bài không phải là số người. Có vị được nêu nhiều lần vì tối thắng về nhiều hạnh: ngài Cūḷapanthaka hai lần, ngài Subhūti hai lần, và ngài Ānanda được nêu năm lần liền — nghe nhiều, trí nhớ, tầm hiểu, kiên trì, và làm thị giả. Trừ các lần trùng ấy ra thì bốn mươi bảy bài về chư Tỳ-kheo ứng với bốn mươi mốt vị. Bài 1.248 thì ngược lại: một bài mà nêu hai người — hai anh em lái buôn Tapussa và Bhallika, hai vị cư sĩ đầu tiên của đạo Phật, quy y khi Giáo Pháp còn chưa được thuyết. Điều cảm động nhất của phẩm này nằm ở chỗ các hạnh được nêu rất khác nhau về tầm cỡ. Có hạnh lớn như đại trí tuệ, thần thông, thiên nhãn. Nhưng cũng có hạnh rất đỗi bình thường: ngài Dabba Mallaputta tối thắng về sửa soạn chỗ ngồi chỗ nằm cho chúng Tăng; bà Suppiyā tối thắng về săn sóc người bệnh; ông Nakulapitā và bà Nakulamātā tối thắng về nói chuyện một cách thân mật. Sắp xếp lều trại, chăm người ốm, ăn ở thuận hoà với nhau — những việc ấy cũng được Đức Phật gọi tên là tối thắng, đứng chung một danh sách với thần thông và trí tuệ. Và bà Kāḷī ở Kuraraghara, bài chót của cả phẩm, tối thắng về lòng tịnh tín đối với lời được nghe — bà chưa từng gặp Đức Phật lần nào.
Bốn chúng, tám mươi bàiCộng lại đúng bằng khoảng 188–267
- Chư Tỳ-kheo — 47 bài (1.188–234), ứng với 41 vị; riêng ngài Ānanda được nêu năm lần
- Chư Tỳ-kheo-ni — 13 bài (1.235–247), 13 vị
- Hàng nam cư sĩ — 10 bài (1.248–257), 11 vị (bài đầu nêu hai anh em)
- Hàng nữ cư sĩ — 10 bài (1.258–267), 10 vị
- Cộng lại — 47 + 13 + 10 + 10 = 80; và 267 − 188 + 1 = 80. Hai cách đếm khớp nhau.
Xin ghi đủ cả tám mươi bài, theo đúng thứ tự trong kinh. Chữ nghiêng là chữ Pāli chỉ hạnh; dòng dưới là lời của HT. Thích Minh Châu.
1 · Chư Tỳ-kheoAN 1.188–234 · 47 bài · 41 vị
| Bài | Tối thắng về… | Vị Tôn Giả | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 188 | rattaññūnaṁ đã lâu ngày (vị xuất gia sớm nhất) | Aññāsi Koṇḍañña | A-nhã Kiều-trần-như, một trong năm anh em Kiều-trần-như |
| 189 | mahāpaññānaṁ đại trí tuệ | Sāriputta | Xá-lợi-phất, vị Thượng Thủ thứ nhất |
| 190 | iddhimantānaṁ có thần thông | Mahāmoggallāna | Mục-kiền-liên, vị Thượng Thủ thứ hai |
| 191 | dhutavādānaṁ thuyết về hạnh đầu đà | Mahākassapa | Đại Ca-diếp, vị chủ toạ kỳ kết tập thứ nhất |
| 192 | dibbacakkhukānaṁ thiên nhãn | Anuruddha | A-na-luật |
| 193 | uccākulikānaṁ thuộc gia đình quý tộc | Bhaddiya Kāḷigodhāputta | |
| 194 | mañjussarānaṁ có âm thanh vi diệu | Lakuṇḍaka Bhaddiya | “Lakuṇḍaka” nghĩa là người lùn |
| 195 | sīhanādikānaṁ rống tiếng rống con sư tử | Piṇḍola Bhāradvāja | |
| 196 | dhammakathikānaṁ thuyết pháp | Puṇṇa Mantāṇiputta | Phú-lâu-na |
| 197 | saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ vibhajantānaṁ giảng rộng điều được nói vắn tắt | Mahākaccāna | Ma-ha Ca-chiên-diên |
| 198 | manomayaṁ kāyaṁ abhinimminantānaṁ dùng ý hoá thân | Cūḷapanthaka | Châu-lợi-bàn-đặc |
| 199 | cetovivaṭṭakusalānaṁ thiện xảo về tâm thắng tiến | Cūḷapanthaka | vị này được nêu HAI lần |
| 200 | saññāvivaṭṭakusalānaṁ thiện xảo về tưởng thắng tiến | Mahāpanthaka | anh của Cūḷapanthaka |
| 201 | araṇavihārīnaṁ trú không có tranh luận | Subhūti | Tu-bồ-đề |
| 202 | dakkhiṇeyyānaṁ đáng được cúng dường | Subhūti | vị này được nêu HAI lần |
| 203 | āraññakānaṁ tu ở rừng | Revata Khadiravaniya | em của ngài Sāriputta |
| 204 | jhāyīnaṁ tu Thiền | Kaṅkhā Revata | |
| 205 | āraddhavīriyānaṁ tinh cần tinh tấn | Soṇa Koḷivisa | vị được Phật dạy ví dụ dây đàn |
| 206 | kalyāṇavākkaraṇānaṁ khéo nói | Soṇa Kuṭikaṇṇa | |
| 207 | lābhīnaṁ nhận được đồ cúng dường | Sīvali | |
| 208 | saddhādhimuttānaṁ tín thắng giải | Vakkali | |
| 209 | sikkhākāmānaṁ ưa thích học tập | Rāhula | La-hầu-la, con của Đức Phật |
| 210 | saddhāpabbajitānaṁ xuất gia vì lòng tin | Raṭṭhapāla | xem MN 82 |
| 211 | paṭhamaṁ salākaṁ gaṇhantānaṁ đầu tiên nhận phiếu ăn cơm | Kuṇḍadhāna | |
| 212 | paṭibhānavantānaṁ đầy đủ biện tài | Vaṅgīsa | vị thi sĩ; có riêng một Tương Ưng (SN 8) |
| 213 | samantapāsādikānaṁ dễ mến toàn diện | Upasena Vaṅgantaputta | em của ngài Sāriputta |
| 214 | senāsanapaññāpakānaṁ sửa soạn chỗ ngồi, chỗ nằm | Dabba Mallaputta | |
| 215 | devatānaṁ piyamanāpānaṁ được chư Thiên ái mộ | Pilindavaccha | |
| 216 | khippābhiññānaṁ có thắng trí mau lẹ | Bāhiya Dārucīriya | xem Ud 1.10 — Kinh Bāhiya |
| 217 | cittakathikānaṁ thuyết giảng vi diệu | Kumāra Kassapa | |
| 218 | paṭisambhidāpattānaṁ đạt được vô ngại giải | Mahākoṭṭhita | |
| 219 | bahussutānaṁ được nghe nhiều | Ānanda | A-nan; năm bài liền nói về ngài |
| 220 | satimantānaṁ đầy đủ ức niệm (trí nhớ) | Ānanda | |
| 221 | gatimantānaṁ đầy đủ cử chỉ tốt đẹp | Ānanda | xem ghi chú ở phần Nguồn |
| 222 | dhitimantānaṁ đầy đủ sự kiên trì | Ānanda | |
| 223 | upaṭṭhākānaṁ thị giả | Ānanda | thị giả hầu Phật hai mươi lăm năm cuối |
| 224 | mahāparisānaṁ có đại hội chúng | Uruvela Kassapa | |
| 225 | kulappasādakānaṁ làm cho các gia đình hoan hỷ | Kāḷudāyī | |
| 226 | appābādhānaṁ không có bệnh hoạn | Bakkula | xem MN 124 |
| 227 | pubbenivāsaṁ anussarantānaṁ nhớ đến các đời sống quá khứ | Sobhita | |
| 228 | vinayadharānaṁ trì Luật | Upāli | Ưu-ba-ly, vị trùng tuyên Tạng Luật |
| 229 | bhikkhunovādakānaṁ giáo giới Tỳ-kheo-ni | Nandaka | xem MN 146 |
| 230 | indriyesu guttadvārānaṁ hộ trì các căn môn | Nanda | em cùng cha khác mẹ với Đức Phật |
| 231 | bhikkhuovādakānaṁ giáo giới Tỳ-kheo | Mahākappina | |
| 232 | tejodhātukusalānaṁ thiện xảo về hoả giới | Sāgata | |
| 233 | paṭibhāneyyakānaṁ năng khởi biện tài (khiến người khác giảng hay) | Rādha | có riêng một Tương Ưng (SN 23) |
| 234 | lūkhacīvaradharānaṁ mang thô y | Mogharāja | xem Sn 5.15 |
2 · Chư Tỳ-kheo-niAN 1.235–247 · 13 bài · 13 vị
| Bài | Tối thắng về… | Vị Ni Trưởng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 235 | rattaññūnaṁ đã lâu ngày | Mahāpajāpatī Gotamī | di mẫu của Đức Phật, vị Tỳ-kheo-ni đầu tiên |
| 236 | mahāpaññānaṁ đại trí tuệ | Khemā | vị Thượng Thủ ni thứ nhất |
| 237 | iddhimantīnaṁ đầy đủ thần thông | Uppalavaṇṇā | vị Thượng Thủ ni thứ hai |
| 238 | vinayadharānaṁ trì Luật | Paṭācārā | |
| 239 | dhammakathikānaṁ thuyết pháp | Dhammadinnā | xem MN 44 — Tiểu Kinh Phương Quảng |
| 240 | jhāyīnaṁ tu Thiền | Nandā | |
| 241 | āraddhavīriyānaṁ tinh cần tinh tấn | Soṇā | |
| 242 | dibbacakkhukānaṁ thiên nhãn | Sakulā | ấn bản Mahāsaṅgīti chép bakulā — xem phần Nguồn |
| 243 | khippābhiññānaṁ có thắng trí mau lẹ | Bhaddā Kuṇḍalakesā | |
| 244 | pubbenivāsaṁ anussarantīnaṁ nhớ đến các thời quá khứ | Bhaddā Kāpilānī | |
| 245 | mahābhiññāpattānaṁ đã chứng đạt đại thắng trí | Bhaddakaccānā | theo Chú giải là công chúa Yasodharā |
| 246 | lūkhacīvaradharānaṁ mang thô y | Kisāgotamī | vị được Phật dạy đi xin hạt cải |
| 247 | saddhādhimuttānaṁ đầy đủ tín thắng giải | Siṅgālakamātā | mẹ của chàng Siṅgāla trong DN 31 |
3 · Hàng nam cư sĩAN 1.248–257 · 10 bài · 11 vị
| Bài | Tối thắng về… | Vị Cư Sĩ | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 248 | paṭhamaṁ saraṇaṁ gacchantānaṁ đã quy y đầu tiên | Tapussa và Bhallika | HAI người, hai anh em lái buôn — hai vị cư sĩ đầu tiên của đạo Phật |
| 249 | dāyakānaṁ bố thí | Sudatta Anāthapiṇḍika | ông Cấp Cô Độc, người dâng vườn Kỳ-đà |
| 250 | dhammakathikānaṁ thuyết pháp | Citta Macchikāsaṇḍika | gia chủ Citta; có riêng một Tương Ưng (SN 41) |
| 251 | catūhi saṅgahavatthūhi parisaṁ saṅgaṇhantānaṁ nhiếp phục hội chúng nhờ Bốn Nhiếp Pháp | Hatthaka Āḷavaka | |
| 252 | paṇītadāyakānaṁ bố thí các món ăn thượng vị | Mahānāma Sakka | xem AN 11.11 |
| 253 | manāpadāyakānaṁ bố thí các món đồ khả ý | Ugga — gia chủ ở Vesālī | |
| 254 | saṅghupaṭṭhākānaṁ hộ trì Tăng chúng | Uggata — gia chủ ở Hatthigāma | |
| 255 | aveccappasannānaṁ có lòng tịnh tín bất động | Sūrambaṭṭha | |
| 256 | puggalappasannānaṁ có lòng tịnh tín nơi một người | Jīvaka Komārabhacca | vị lương y của Đức Phật — xem phần Nguồn |
| 257 | vissāsakānaṁ nói chuyện một cách thân mật | Nakulapitā | cha của Nakula, xem AN 4.55 |
4 · Hàng nữ cư sĩAN 1.258–267 · 10 bài · 10 vị
| Bài | Tối thắng về… | Vị Nữ Cư Sĩ | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 258 | paṭhamaṁ saraṇaṁ gacchantīnaṁ đi đến quy y đầu tiên | Sujātā Seniyadhītā | người dâng bát cháo sữa trước ngày Thành Đạo |
| 259 | dāyikānaṁ bố thí | Visākhā Migāramātā | bà Visākhā, người dựng Lộc Mẫu giảng đường |
| 260 | bahussutānaṁ nghe nhiều | Khujjuttarā | người trùng tuyên toàn bộ Phật Thuyết Như Vậy |
| 261 | mettāvihārīnaṁ trú từ tâm | Sāmāvatī | hoàng hậu xứ Kosambī |
| 262 | jhāyīnaṁ tu Thiền | Uttarā Nandamātā | |
| 263 | paṇītadāyikānaṁ bố thí các món ăn thượng vị | Suppavāsā Koliyadhītā | |
| 264 | gilānupaṭṭhākīnaṁ săn sóc người bệnh | Suppiyā | |
| 265 | aveccappasannānaṁ có lòng tịnh tín bất động | Kātiyānī | |
| 266 | vissāsikānaṁ nói chuyện một cách thân mật | Nakulamātā | mẹ của Nakula, xem AN 4.55 |
| 267 | anussavappasannānaṁ có lòng tịnh tín đối với lời được nghe | Kāḷī — nữ cư sĩ ở Kuraraghara | chưa gặp Phật lần nào mà đắc quả Dự Lưu |
Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
|---|---|---|
| etadagga | “đây là bậc nhất”, tối thắng | etaṁ (cái này) + agga (đứng đầu, chóp đỉnh); tên phẩm lấy từ chữ này |
| sāvaka / sāvikā | đệ tử nam / đệ tử nữ | nghĩa gốc: người nghe |
| upāsaka / upāsikā | nam cư sĩ / nữ cư sĩ | nghĩa gốc: người ngồi gần |
| yadidaṁ | “đó là…”, “tức là…” | chữ dẫn tên người ở cuối mỗi bài |
| rattaññū | “biết nhiều đêm”, tức lâu năm nhất | hạnh của bài mở đầu cả hai chúng xuất gia |
| senāsanapaññāpaka | người sắp đặt chỗ ngồi, chỗ nằm | hạnh của ngài Dabba Mallaputta |
| gilānupaṭṭhāka | người săn sóc kẻ bệnh | hạnh của bà Suppiyā |
| vissāsaka | người nói chuyện thân mật, tin cậy nhau | hạnh của ông bà Nakulapitā – Nakulamātā |
| anussavappasanna | có lòng tịnh tín do nghe truyền lại | hạnh của bà Kāḷī, bài chót của phẩm |
| saddhādhimutta | tín thắng giải — thiên nặng về lòng tin | hạnh của ngài Vakkali và bà Siṅgālakamātā |
Xin thưa điều lạ nhất của phẩm này. Tám mươi bài kinh mà KHÔNG giảng một giáo lý nào. Nó gọi tên người.
Và tám mươi bài dùng đúng một công thức. “Etadaggaṁ… yadidaṁ X” — “Tối thắng về … là X.” Chỉ đổi phần giữa và cái tên ở cuối.
Xin để ý điều thứ nhất: Đức Phật nêu người tối thắng trong CẢ BỐN CHÚNG. Không phải chỉ hàng xuất gia. Hai mươi bài dành riêng cho hàng cư sĩ tại gia — mười bài nam, mười bài nữ.
Xin để ý điều thứ hai: SỐ BÀI KHÔNG PHẢI SỐ NGƯỜI. Ngài Ānanda được nêu NĂM LẦN liền — nghe nhiều, trí nhớ, tầm hiểu, kiên trì, và làm thị giả.
Và ngược lại, có MỘT bài nêu HAI người. Bài 1.248: hai anh em lái buôn Tapussa và Bhallika — hai vị cư sĩ đầu tiên của đạo Phật, quy y khi Giáo Pháp còn chưa được thuyết ra.
Nhưng xin thưa chỗ cảm động nhất của phẩm này, và con mong anh chị em dừng lại ở đây. Các hạnh được nêu KHÁC NHAU RẤT XA về tầm cỡ.
Có hạnh lớn như mình vẫn nghĩ. Đại trí tuệ — ngài Sāriputta. Thần thông — ngài Mahāmoggallāna. Thiên nhãn — ngài Anuruddha.
Nhưng cũng có hạnh rất đỗi bình thường, và đó mới là điều đáng nói. SỬA SOẠN CHỖ NGỒI CHỖ NẰM cho chúng Tăng — ngài Dabba Mallaputta. SĂN SÓC NGƯỜI BỆNH — bà Suppiyā. NÓI CHUYỆN MỘT CÁCH THÂN MẬT — ông bà Nakulapitā và Nakulamātā.
Xin thưa lại cho rõ. Dựng lều trại, chăm người ốm, ăn ở thuận hoà với nhau — những việc ấy đứng CHUNG MỘT DANH SÁCH với thần thông và trí tuệ. Đức Phật gọi tên chúng là tối thắng.
Và xin để ý bài CHÓT của cả phẩm. Bà Kāḷī ở Kuraraghara, tối thắng về lòng tịnh tín đối với lời được nghe — bà chưa từng gặp Đức Phật lần nào.
Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Với Gia Đình Phật Tử, phẩm này đáng giá hơn một bài giảng. Nó là một danh sách các cách để trở nên tối thắng — và trong tám mươi cách ấy, có nhiều cách mà một em đoàn sinh làm được ngay tuần này.
Phần VI · Chỗ Thường Hiểu Lầm- “Tám mươi bài là tám mươi người.” Không — ngài Ānanda năm lần, ngài Cūḷapanthaka và ngài Subhūti mỗi vị hai lần, và bài 1.248 nêu hai người trong một bài. Riêng chư Tỳ-kheo: 47 bài, 41 vị.
- “Chỉ có hàng xuất gia được nêu.” Hai mươi trong tám mươi bài là hàng cư sĩ tại gia — mười nam, mười nữ.
- “Tối thắng nghĩa là giỏi nhất mọi mặt.” Không — tối thắng VỀ MỘT HẠNH được gọi tên. Mỗi vị đứng đầu ở đúng phần của mình.
- “Toàn là những chứng đắc lớn.” Sửa soạn chỗ nằm và săn sóc người bệnh cũng nằm trong danh sách ấy.
- Ngành Oanh. Chọn năm cái tên và kể chuyện: ngài Rāhula (con Phật, ưa học), bà Kisāgotamī (đi xin hạt cải), ông Cấp Cô Độc, bà Visākhā, ngài Cūḷapanthaka (học mãi không thuộc một câu).
- Ngành Thiếu. Cho mỗi em chọn MỘT hạnh trong bảng để tập trong một tháng, rồi kể lại cho đoàn nghe. Có hạnh làm được ngay: sắp xếp chỗ sinh hoạt, chăm bạn ốm, nói năng thuận hoà.
- Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn hai câu: vì sao Đức Phật nêu cả hàng cư sĩ? và vì sao những việc rất thường như dựng trại, chăm bệnh lại được gọi là tối thắng?
- Trại và đêm lửa trại. Lấy tên các vị trong phẩm đặt cho từng đội, chúng — mỗi đội kể lại hạnh tối thắng của vị mình mang tên.
- Phẩm có bao nhiêu bài kinh, và bao nhiêu người? Vì sao hai con số ấy khác nhau?
- Vị nào được nêu năm lần, và về năm hạnh nào?
- Kể ba hạnh trong bảng mà một em đoàn sinh có thể tập ngay tháng này.
- Chữ etadagga nghĩa đen là gì?
- Vì sao việc hàng cư sĩ cũng có mặt trong danh sách này là điều đáng nói?
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên cả tám mươi bài, không bỏ bài nào. Các con số đã cộng lại hai cách: 47 + 13 + 10 + 10 = 80, và 267 − 188 + 1 = 80.
Bốn chỗ ba bản không khớp nhau, xin ghi rõ để bác tự xét:
- Bài 1.242 — ấn bản Mahāsaṅgīti chép tên vị ni là bakulā, nhưng bản Anh của Sujato ghi Sakulā và bản Việt của HT. Thích Minh Châu cũng ghi Sakulà. Hai trên ba bản đọc là Sakulā, nên chúng tôi theo đó, và ghi lại dị bản ở cột ghi chú.
- Bài 1.256 — Pāli puggalappasannānaṁ và bản Anh (“who have confidence in an individual”) đều nói lòng tịnh tín đặt nơi MỘT NGƯỜI; bản Việt dịch thoáng là “được dân chúng kính mến”. Chúng tôi theo hai bản kia.
- Bài 1.221 — Pāli gatimantānaṁ, bản Anh “with an extensive range” (tầm hiểu rộng); bản Việt là “đầy đủ cử chỉ tốt đẹp”. Chữ gati có cả hai nghĩa, chúng tôi giữ lời bản Việt trong bảng và ghi chú ở đây.
- Vài tên riêng trong bản điện tử tiếng Việt bị sai chính tả so với Pāli: Bàhiva Dàructriya (đúng: Bāhiya Dārucīriya), Khujjuttar (đúng: Khujjuttarā), Sujàtà Senàndìhità (đúng: Sujātā Seniyadhītā), Kàlì nữ cư sĩ ở Kulagharikà (đúng: Kuraraghara). Bảng trên dùng dạng Pāli đã đối chiếu.
Muốn đọc trọn phẩm kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng theo bảy đoạn: 188–197 · 198–208 · 209–218 · 219–234 · 235–247 · 248–257 · 258–267. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.






