G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 11.11
Người Cư Sĩ Nên Sống Cách Nào

Kinh Mahànàma (1)

Paṭhamamahānāma Sutta — AN 11.11 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Mahànàma (1)

Nghe tin Thế Tôn sắp bộ hành ra đi, cư sĩ Mahànàma vội đến hỏi một câu rất thật: “chúng con sống với NHIỀU cách sống khác nhau — nên sống với cách sống NÀO?” Thế Tôn đáp bằng NĂM pháp nền, rồi SÁU TÙY NIỆM.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp, kinh 11
  • Nơi chốn — giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha
  • Nhân vậtMahànàma, một cư sĩ dòng họ Thích-ca, bà con của Thế Tôn
  • Đọc kèmAN 6.9 (danh mục sáu tùy niệm) và AN 3.70 (năm phép niệm)

Kinh này ghi lại lời Thế Tôn dạy cho cư sĩ Mahànàma, người dòng họ Thích, tại vườn Nigrodha ở Kapilavatthu. Nghe tin Thế Tôn sắp bộ hành ra đi sau mùa an cư, Mahànàma đến hỏi: "Chúng con sống với nhiều cách sống khác nhau, chúng con nên sống với cách sống nào?" Thế Tôn khen ngợi câu hỏi ấy là câu hỏi thích đáng của người thiện nam tử. Câu trả lời gồm hai lớp. Lớp thứ nhất là năm pháp làm nền tảng: có lòng tin chứ không phải không lòng tin, tinh cần tinh tấn chứ không biếng nhác, trú niệm chứ không thất niệm, có định chứ không phải không định, có trí tuệ chứ không phải liệt tuệ. Chính người thành tựu năm pháp này mới "nhập cuộc" được, mới đạt kết quả trên đường tu. Lớp thứ hai: sau khi an trú trong năm pháp ấy, hãy tu tập thêm sáu pháp nữa, tức Lục Tùy Niệm (cha anussati): tùy niệm Phật, tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng, tùy niệm Giới của mình, tùy niệm Thí của mình, và tùy niệm chư Thiên. Điều đáng chú ý cho Huynh trưởng là Thế Tôn mô tả rất cụ thể tiến trình tâm khi tùy niệm, và tiến trình ấy lặp lại y hệt cho cả sáu pháp: trong khi tùy niệm, tâm không bị tham ám ảnh, không bị sân ám ảnh, không bị si ám ảnh; nhờ vậy tâm trở nên chánh trực. Với tâm chánh trực, hành giả có được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, có hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan sanh hỷ, từ hỷ thân được khinh an, thân khinh an thì cảm giác lạc thọ, có lạc thọ thì tâm được định tĩnh. Đây là chuỗi năm bước dẫn từ niệm đến định mà nhiều bài kinh khác cũng nhắc lại. Mỗi phần kết bằng một câu giống nhau: người ấy được gọi là bậc Thánh đệ tử "sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu". Nghĩa là pháp tùy niệm không chỉ để lắng tâm, mà còn để giữ được sự an hòa giữa cuộc đời nhiều bất an và sân hận — một lời dạy rất hợp cho đời sống cư sĩ và cho sinh hoạt đoàn thể.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn ở vườn Nigrodha, Kapilavatthu; các Tỷ-kheo may y cho Thế Tôn; Mahànàma nghe tin Thế Tôn sắp bộ hành ra đi (đoạn 1).
  • 2. Câu hỏi của Mahànàma — Mahànàma đến đảnh lễ và hỏi: sống với nhiều cách sống khác nhau, nên sống với cách sống nào (đoạn 2).
  • 3. Năm pháp nền tảng và tùy niệm Phật — Thế Tôn khen câu hỏi; dạy năm pháp: tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ; rồi dạy tu tập thêm sáu pháp, bắt đầu là tùy niệm Như Lai với công thức 'Itipi so...', kèm tiến trình tâm chánh trực đến định tĩnh (đoạn 3).
  • 4. Tùy niệm Pháp — Công thức 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... do người trí tự mình giác hiểu', lặp lại tiến trình tâm (đoạn 4).
  • 5. Tùy niệm Tăng — Công thức bốn đôi tám vị, ruộng phước vô thượng ở đời, lặp lại tiến trình tâm (đoạn 5).
  • 6. Tùy niệm Giới — Tùy niệm Giới của tự thân — nguyên văn bản Việt: “Không có bể vụn, không có cắt xén, không có vết nhơ, không có chấm đen, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đi đến Thiền định” (đoạn 6).
  • 7. Tùy niệm Thí — Tùy niệm hạnh bố thí của mình giữa quần chúng bị xan tham chi phối (đoạn 7).
  • 8. Tùy niệm Thiên — Kể các cõi trời từ Tứ Thiên Vương đến Phạm chúng thiên và cao hơn; chư Thiên ấy sanh lên nhờ tín, giới, văn, thí, tuệ — nơi ta cũng có như vậy; kết bằng tiến trình tâm quen thuộc (đoạn 8).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 11.11.1
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme. Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti: "niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī"ti.
Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo đang may y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: "Y làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi".
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery. At that time several mendicants were making a robe for the Buddha, thinking that when his robe was finished and the three months of the rains residence had passed the Buddha would set out wandering.
AN 11.11.3
Saddho kho, mahānāma, ārādhako hoti, no assaddho; āraddhavīriyo ārādhako hoti, no kusīto; upaṭṭhitassati ārādhako hoti, no muṭṭhassati; samāhito ārādhako hoti, no asamāhito; paññavā ārādhako hoti, no duppañño.
Hãy nhập cuộc, này Mahànàma với lòng tin, không phải với không lòng tin. Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ.
The faithful succeed, not the faithless. The energetic succeed, not the lazy. The mindful succeed, not the unmindful. Those with immersion succeed, not those without immersion. The wise succeed, not the witless.
AN 11.11.3
Imesu kho tvaṁ, mahānāma, pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cha dhamme uttari bhāveyyāsi.
Sau khi an trú trong năm pháp này, này Mahànàma, hãy tu tập thêm sáu pháp nữa.
When you're grounded on these five things, go on to develop six further things.
AN 11.11.3
'itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā'ti.
Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
'That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.'
AN 11.11.3
Yasmiṁ, mahānāma, samaye ariyasāvako tathāgataṁ anussarati, nevassa tasmiṁ samaye rāgapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti, na dosapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti, na mohapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti;
Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh.
When a noble disciple recollects the Realized One their mind is not full of greed, hate, and delusion.
AN 11.11.3
Ujugatacitto kho pana, mahānāma, ariyasāvako labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ. Pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vediyati, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma, với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh.
A noble disciple whose mind is unswerving finds inspiration in the meaning and the teaching, and finds joy connected with the teaching. When they're joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when they're blissful, the mind becomes immersed in samādhi.
AN 11.11.3
Ayaṁ vuccati, mahānāma, ariyasāvako visamagatāya pajāya samappatto viharati, sabyāpajjāya pajāya abyāpajjo viharati, dhammasotasamāpanno buddhānussatiṁ bhāveti.
Như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm.
This is called a noble disciple who lives in balance among people who are unbalanced, and lives untroubled among people who are troubled. They've entered the stream of the teaching and developed the recollection of the Buddha.
AN 11.11.4
'svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī'ti.
Khéo thuyết là pháp Thế Tôn thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.
'The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.'
AN 11.11.5
'suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā'ti.
Thiện hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, Tịnh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi, tám vị. Chúng đệ tử này của Thế Tôn là đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
'The Saṅgha of the Buddha's disciples is practicing the way that's good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha's disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.'
AN 11.11.7
Puna caparaṁ tvaṁ, mahānāma, attano cāgaṁ anussareyyāsi: 'lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yohaṁ maccheramalapariyuṭṭhitāya pajāya vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasāmi muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato'ti.
Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Thí của mình: "Thật là được lợi cho ta! Thật là khéo được lợi cho ta! Vì rằng với quần chúng bị cấu uế xan tham chi phối, ta sống trong gia đình, với tâm không bị cấu uế của xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí".
Furthermore, you should recollect your own generosity: 'I'm so fortunate, so very fortunate. Among people full of the stain of stinginess I live at home with heart rid of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share.'
Chữ PāliNghĩaGhi chú
anussatitùy niệm — nhớ nghĩ liên tục đến một đề mụcKinh này dạy cha anussati: sáu tùy niệm.
ārādhakongười thành tựu, người đạt được kết quảBản Việt dịch theo nghĩa 'nhập cuộc'; bản Anh dịch 'succeed'.
saddhālòng tin
vīriyatinh tấn, tinh cần
satiniệm, trú niệm
samādhiđịnh, tâm định tĩnh
paññātrí tuệ
buddhānussatiPhật tùy niệm — niệm ân đức Phật
dhammānussatiPháp tùy niệm
saṅghānussatiTăng tùy niệm
sīlānussatiGiới tùy niệm — niệm giới hạnh của tự thân
cāgānussatiThí tùy niệm — niệm hạnh bố thí của tự thân
devatānussatiThiên tùy niệm — niệm chư Thiên và các đức đưa đến cõi trời
pāmojja / pīti / passaddhi / sukha / samādhihân hoan — hỷ — khinh an — lạc — địnhChuỗi năm bước lặp lại trong cả sáu pháp tùy niệm.
maccheraxan tham, keo kiệt
dhammasotasamāpannanhập được pháp lưu
ujugatacittatâm chánh trực

Xin thưa cảnh mở đầu của bài kinh này rất thương, và con nghĩ nên kể cho các em nghe cả cái cảnh ấy, đừng vào thẳng giáo lý.

Tại Kapilavatthuquê nhà của Thế Tônnhiều Tỷ-kheo đang MAY Y cho Ngài, vì nghĩ rằng “y làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi”.

Mahànàma — một cư sĩ dòng họ Thích, tức bà con của Thế Tônnghe tin ấy liền đến.

Con thấy chỗ ấy rất người: biết Thầy sắp đi xa, thì hỏi cho được một câu để mà sống.

Và câu hỏi của ông rất thành thật: “Chúng con sống với NHIỀU CÁCH SỐNG KHÁC NHAU — chúng con nên sống với cách sống NÀO?”

Xin để ý Thế Tôn KHEN câu hỏi ấy trước đãgọi đó là câu hỏi thích đáng của người thiện nam tử.

Câu trả lời có HAI LỚP, và con nghĩ chớ dạy lớp sau mà bỏ lớp trước.

LỚP THỨ NHẤT — NĂM PHÁP NỀN.xin để ý cách nói: mỗi pháp đều kèm VẾ PHỦ ĐỊNH.

“Hãy NHẬP CUỘC với LÒNG TIN, không phải với không lòng tin. Hãy nhập cuộc với TINH CẦN TINH TẤN, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với TRÚ NIỆM, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với ĐỊNH, không với không định. Hãy nhập cuộc với TRÍ TUỆ, không với liệt tuệ.”

Rồi Ngài nói: “SAU KHI AN TRÚ trong năm pháp này, hãy tu tập THÊM SÁU PHÁP NỮA.”

LỚP THỨ HAI — SÁU TÙY NIỆM: niệm PHẬT, niệm PHÁP, niệm TĂNG, niệm GIỚI của mình, niệm THÍ của mình, niệm CHƯ THIÊN.

Đây chính là sáu tùy niệm của AN 6.9 — bài kinh chỉ nêu danh mục. Còn bài này thì GIẢNG RỘNG, và chỗ giảng rộng ấy mới quý.

Vì Thế Tôn tả rất cụ thể TIẾN TRÌNH CỦA TÂM khi tùy niệm — và tiến trình ấy lặp lại Y HỆT cho cả sáu pháp.

Trước hết: “trong khi tùy niệm, tâm KHÔNG BỊ THAM ám ảnh, KHÔNG BỊ SÂN ám ảnh, KHÔNG BỊ SI ám ảnh.”

Xin thưa chỗ ấy rất thực tế: trong lúc tâm đang đặt vào một chỗ tốt thì nó KHÔNG CÒN CHỖ cho ba thứ kia. Không phải diệt trừ — mà là KHÔNG CÒN CHỖ.

Nhờ vậy tâm trở nên CHÁNH TRỰC. Rồi từ tâm chánh trực: có nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, có HÂN HOAN liên hệ đến pháp; từ hân hoan sanh HỶ; từ hỷ THÂN KHINH AN; thân khinh an thì cảm giác LẠC THỌ; có lạc thọ thì TÂM ĐƯỢC ĐỊNH TĨNH.

Đây chính là chuỗi mà AN 10.2 đã dạyhân hoan → hỷ → khinh an → lạc → địnhvà ở đây nó bắt đầu từ MỘT VIỆC rất dễ làm: NHỚ NGHĨ.

mỗi phần đều kết bằng MỘT CÂU GIỐNG NHAU, mà con nghĩ là câu hay nhất của bài kinh:

vị ấy được gọi là bậc Thánh đệ tử “sống đạt được BÌNH ĐẲNG với chúng sanh KHÔNG BÌNH ĐẲNG, sống đạt được VÔ SÂN với chúng sanh CÓ SÂN, nhập được PHÁP LƯU”.

Xin thưa chỗ ấy mới là lý do bài kinh này dành cho NGƯỜI CƯ SĨ. Người cư sĩ KHÔNG sống trong rừng. Họ sống giữa chợ, giữa nhà, giữa người có sân.

Và pháp tùy niệm không chỉ để lắng tâmnó để GIỮ ĐƯỢC SỰ AN HOÀ giữa một cuộc đời không an hoà.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này là bài KINH CƯ SĨ đầy đủ nhất trong những bài chúng con đã dựng.

chỗ đáng dạy nhất là LỚP THỨ NHẤTnăm pháp nền — vì người ta hay nhảy thẳng vào tùy niệm mà quên rằng Thế Tôn nói “SAU KHI AN TRÚ trong năm pháp này”.

Xin thưa hai việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: mỗi ô “pali”“anh” đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với tệp nguồn20 ô đều đúng nguyên văn.

Thứ hai: mục bố cục về tùy niệm Giới (do trang soạn) lúc đầu viết “không bị bể vụn, không sứt mẻ”. Chúng con tải bản dịch của Hoà thượng đọc tận nơi: nguyên văn là “Không có bể vụn, không có CẮT XÉN, không có vết nhơ, không có chấm đen…”; chữ “sứt mẻ” KHÔNG có trong bản Việt của bài này. Đã chép lại cho đúng chữ.

  • “Cứ tùy niệm là đủ.” Thế Tôn nói rõ: “SAU KHI AN TRÚ trong năm pháp này, hãy tu tập THÊM sáu pháp nữa.” Năm pháp nền đi trước.
  • “Tùy niệm là để cầu xin gia hộ.” Kinh tả tiến trình trong TÂM MÌNH: không bị tham sân si ám ảnh → tâm chánh trực → hân hoan → hỷ → khinh an → lạc → định.
  • “Niệm Phật thì tham sân si bị DIỆT.” Kinh nói “TRONG KHI tùy niệm” thì tâm không bị ám ảnhlà KHÔNG CÒN CHỖ, chứ không nói đã đoạn tận.
  • “Tùy niệm Giới, tùy niệm Thí là nhớ công của mình.” Hai pháp ấy chỉ niệm được nếu mình CÓ THẬT; kinh dạy nhớ để tâm vững, giữa “quần chúng bị xan tham chi phối”.
  • “Bài này dành cho người xuất gia.” Người hỏi là MAHÀNÀMA — một CƯ SĨ, và câu kết nói tới việc sống giữa chúng sanh có sântức giữa đời.
  • “Nhập cuộc” nghĩa là gia nhập đoàn thể.” Ở đây là ĐẠT KẾT QUẢ trên đường tu — bản Anh dịch “the faithful SUCCEED”.
  • Ngành Oanh. Kể cảnh mở đầu: “Phật sắp đi xa, ông ấy chạy tới hỏi một câu.” Rồi dạy một tùy niệm thôi.
  • Ngành Thiếu. Học năm pháp nền (mỗi pháp có vế phủ định) và tên sáu tùy niệm.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm AN 6.9 và AN 10.2. Bàn: vì sao câu kết lại nói tới việc sống giữa “chúng sanh có sân”?
  • Mahànàma hỏi Thế Tôn điều gì, và vì sao lúc ấy?
  • Năm pháp nền là gì?
  • Sáu tùy niệm là gì?
  • Tiến trình của tâm khi tùy niệm diễn ra thế nào?
  • Câu kết nói vị ấy sống ra sao giữa đời?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.