Cả tài liệu tiếng Việt lẫn tài liệu tiếng Anh đều được đăng lại đầy đủ, đúng từng chữ dưới đây. Riêng bài này, hai bản là hai bản song hành của cùng một bài — đọc bên nào cũng ra cùng nội dung. Bấm nút để chuyển.
Có một điểm cần ghi chú, và chúng tôi thêm ghi chú chứ không sửa nguyên bản: bài đọc nói Đại Tạng Nam Tông được viết bằng tiếng Sanskrit. Bộ kinh điển sớm còn giữ nguyên vẹn tới nay là bằng Pāli. Xem ghi chú ở ngay đoạn ấy.
Đại Cương Phật Pháp
1. Dẫn Nhập
Các nguồn tư tưởng cũng như các tôn giáo trong thời kỳ Phật ra đời đã không giải quyết được gì cho con người và xã hội, đó là lý do mà Thái Tử Tất Đạt Đa phải tự mình đi tìm chân lý. Ngài đã tìm được chân lý và Ngài cũng muốn đem những gì Ngài chứng ngộ để dẫn dắt chúng sanh. Mặc dù khi quán chiếu, Ngài thấy được căn cơ của chúng sanh còn thấp kém khó nhận được những giáo lý của Ngài, Ngài đã tùy thuận chúng sanh để truyền bá, để cứu độ cũng như một vị thầy thuốc chữa bệnh. Người nào bệnh nào thì theo đó mà cho toa thuốc. Trong suốt 49 năm thuyết giảng, cuối cùng Ngài đã bảo rằng: "Ta chưa nói một lời nào". Đúng vậy, giáo lý của Ngài quá vi diệu nếu không muốn nói là quá khó hiểu đối với căn cơ của chúng sanh. Bệnh nào thuốc nấy; Ngài không nói đến môt bài thuốc chung nào để chữa bệnh cho tất cả chúng sanh. Ai đau thì Ngài cho toa thuốc, ai hỏi thì Ngài trả lời. Bệnh của người nầy không thể dùng toa thuốc của người khác; chính vì vậy mà lời nói "Ta chưa nói một lời nào" cũng không sai. Có điều may mắn là các đệ tử của Ngài đã nhớ những gì Ngài nói đã cùng nhau kết tập lại để cho chúng ta hôm nay có được những lời dạy của Ngài. Và cũng vì lời nói "Ta chưa hề nói lời nào" đã cho chúng ta nhận thức được rằng, chúng ta không nên chấp chặt một bài giảng thuyết nào của Ngài để lại mà phải tự mình (dĩ nhiên phải có sự hướng dẫn của chư Tôn Đức Tăng Ni và chư thiện tri thức thâm hiểu sâu xa) tìm ra cho chính mình một hướng đi, một phương pháp hành trì để mong tìm được giải thoát. Trước khi đi sâu vào giáo điển Phật giáo, chúng ta cần hiểu biết đại cương về Phật Pháp.
2. Ðại Cương Phật Pháp
Như trước đã nói, các vị đại đệ tử của Phật, sau ba lần kết tập, đã ghi lại được rất nhiều lời dạy cùng các bài thuyết giảng của Ngài. Song song với những lời dạy, các vị Tổ qua quá trình tu chứng đã để lại cho Phật Tử các lời dạy cũng như các bài giải luận về giáo lý của Phật. Tất cả đó đã hình thành toàn bộ kinh điển Phật Giáo và được xếp thành ba tạng (bộ):
- Kinh (những lời đức Phật Thích Ca đã nói khi tại thế),
- Luật (những giới luật mà Ðức Phật chế ra cho các hàng Phật Tử xuất gia và tại gia tu tập),
- Luận (do các đệ tử của Phật - các vị tổ - làm ra để bàn giải rõ ràng những nghĩa lý mầu nhiệm).
Qua cách truyền bá, ba tạng kinh điển đó lại nằm trong hai Ðại Tạng: Ðại Tạng Bắc Tông (quen gọi là Bắc Tông - truyền thừa qua phương Bắc Ấn Độ như Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam...) và Ðại Tạng Nam Tông (còn gọi là Nguyên Thủy - truyền bá qua miền Nam Ấn Đô, Tích Lan, Thái Lan, Cam Bốt, Việt Nam).
Việt Nam nằm trên cùng hai tuyến đường truyền giáo, nên có đủ được cả hai Đại Tạng. Đại Tạng Bắc Tông phần nhiều được viết Hán Tự (Trung Hoa), Đại Tạng Nam Tông được viết bằng tiếng Sanskrit (Ấn Độ).
Câu vừa rồi để nguyên đúng như tài liệu khoá học ghi. Nói cho chính xác: bộ kinh điển sớm còn giữ nguyên vẹn tới nay là bằng Pāli, không phải Sanskrit; và nhiều bản dịch Việt đang dùng — như bản của HT Thích Minh Châu — được dịch trực tiếp từ Pāli. Sanskrit là ngôn ngữ của phần lớn văn hệ Bắc truyền. Xem phần Tam Tạng Kinh Điển và Cách đọc ký hiệu của trang nhà.
Bắc truyền chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, các tăng sĩ cùng sống chung trong một ngôi chùa, ngoài việc tu tập còn phải lo cho đại chúng nên được gọi là Đại Thừa Phật Giáo, đó là cổ xe lớn chở được nhiều người. Nam truyền thì vẫn giữ được phương thức của thời Đức Phật tại tiền, tăng sĩ hàng ngày đi khất thực, nhận sự cúng dường của hàng Phật Tử mà không vướng bịu về nơi ăn chốn ở còn được gọi là Tiểu Thừa, đó là cỗ xe nhỏ chỉ chở được một người, và người ta cũng còn gọi là Nguyên Thủy vì vẫn còn giữ được những gì của Phật để lại.
Cho dù là Đại Thừa hay Tiểu Thừa, Bắc Tông hoặc Nam Tông, chủ yếu Phật Pháp vẫn là: cho ta thấy rõ sự khổ đau của cuộc đời, nhưng không phải để bi quan chán nản, thất vọng mà để tìm cho ra nguyên nhân khổ đau để từ đó có thể tìm cách giải thoát sự khổ đau. Phật Pháp lại giới thiệu cho ta cái cảnh giới an vui tự tại, và chỉ cho ta con đường đi đến an vui giải thoát.
Biện pháp chính có tám điều (sẽ học kỹ trong bài Bát Chánh Ðạo).
a. Thuộc về nhận thức, về trí tuệ:
- Hiểu biết đúng đắn.
- Suy nghĩ đúng đắn.
b. Thuộc về đạo đức, luân lý, về lời nói, việc làm:
- Nói lời đúng đắn.
- Hành động đúng đắn.
- Làm ăn sinh sống đúng đắn.
- Siêng năng, phấn đấu khắc phục khó khăn một cách đúng đắn.
c. Thuộc về định tâm:
- Chú ý, chú tâm tưởng niệm đúng đắn.
- Tập trung tư tưởng đúng đắn.
Tám điều để đi đến an vui giải thoát này có thể nhóm lại thành ba nhóm:
- a. Giới: Ðạo đức, luân lý, thực hành qua lời nói, hành động.
- b. Ðịnh: Ðịnh tâm, thực hành qua phép quán tưởng thiền định.
- c. Huệ: Nhận thức, trí tuệ.
Ba nhóm này hổ tương lẫn nhau, có trí tuệ nhận thức đúng đắn mới thấy được giới luật là cần thiết, mới nghiêm trì giới luật. Có nghiêm trì giới luật thì tâm không buông lung, việc định tâm mới dễ dàng. Có định tâm thì trí tuệ mới phát chiếu (ví dụ: khi định tâm thì học bài mau thuộc dễ nhớ, còn khi để tâm buông lung thì học bài khó nhớ, lâu thuộc).
Phật Pháp còn cho ta thấy rõ sự biến đổi vô thường của vạn vật (trong đó có cả con người): vô thường.
Quan niệm về vũ trụ, đạo Phật cũng nêu rõ lý: "Duyên khởi". Mọi sự mọi vật, mọi hiện tượng (nói rộng ra là cả vũ trụ) đều do nhiều yếu tố tương quan với nhau mà thành chứ không thể tự nhiên mà có và cũng không phải do một ai sinh ra, nếu một nhân hay một duyên nào thay đổi thì sự vật, hiện tượng đó cũng thay đổi. Và Phật giáo quan niệm về nhân sinh quan: "Nghiệp báo". Con người không phải chết là hết mà là sự chuyển biến để rồi trở lại sống một kiếp khác. Sinh tử chỉ là giai đoạn chuyển biến của một chuổi dài luân hồi. Như thế, mọi hành động có ý thức (nghiệp) đều là nhân và là những gì ta nhận lấy trong kiếp sống của mình là quả và cứ thế nhân quả trùng trùng.
Vậy cuộc đời chúng ta do nghiệp nhân của chúng ta tạo ra chứ không có một đấng thần linh nào ban ơn giáng họa. Muốn an vui ta không phải cầu xin mà có, mà ta phải tạo lấy những nghiệp nhân "Thiện" để hưởng quả lành. Chúng ta không bao giờ buông xuôi tay cho số phận, trái lại cuộc đời chúng ta do chúng ta quyết định (sẽ được học kỹ trong bài nhân quả Nghiệp Báo).
3. Kết Luận
Tóm lại, chúng ta có cái nhìn tổng thể toàn bộ giáo lý của đạo Phật, nắm được những nét rất đại cương. Trong chương trình tu học của Huynh Trưởng, chúng ta sẽ đi sâu vào từng vấn đề một để tìm hiểu tường tận hơn.
Fundamentals of Buddhism (Ðại Cương Phật Pháp)
1. Introduction
All philosophical ideas, as well as religions, during the time of the Buddha did not resolve any of the problems facing humanity and society, which was why Prince Siddhartha embarked on the path to find the truth. In finding the truth, he wanted to teach this insight to guide all beings on the path of enlightenment and eliminate suffering. He recognized that beings overpowered by ignorance, greed, and hatred, would never recognize the path, so he spread his teachings according to each being’s capacity to learn, just like a doctor prescribing medicines to individuals depending on their specific illness. After 49 years of preaching, Buddha claimed: "I have not said a word." Yes, his doctrines were subtle and insightful, if not too difficult to understand by most beings. Every disease has its prescribed medication; hence, He did not speak of a common drug to treat all beings. Whoever was in pain, he prescribed the respective medication; whoever asked, he answered. One person’s sickness could not be treated by someone else's prescription, so the saying "I have not said a word" is not incorrect. Fortunately, his disciples remembered what he had said and together documented his teachings, so that his teachings are available to us today. Additionally, the phrase "I have not said a word" helps us realize that we should not cling to any of his lessons, but rather we (of course, with the guidance of monks and nuns) find a path for ourselves, a method of practice to attain liberation. Before going deep into the Buddhist texts, we need to understand the general fundamentals about Buddhism.
2. Fundamentals of Buddhism
As previously mentioned, Buddha’s great disciples collaborated to compile and record many of the Buddha’s discourse. Alongside these teachings, the Patriarchs through their own realization also left us with their own interpretations/explanations of the teachings of the Buddha. Together, all of these formed the doctrinal foundation of Buddhism (Tipitakas or Pali canon), classified into three sections:
- Sutras (suttas, Buddha’s teaching or collection of discourses attributed to the Buddha when he was alive)
- Vinaya, Rules (guidelines set forth by the Buddha for the monks/nuns and lay-Buddhist to practice accordingly)
- Abhidhamma, Philosophy (commentaries and interpretations of the Buddhist texts by Buddha’s disciples, the Patriarch and Buddhist masters, to discuss and clearly explain the meaning of the teachings.)
Through various forms of propagation, the Tipitaka are housed in the two Buddhist Sects: Mahayana (known as the Northern School which spread throughout northern India, China, Tibet, Japan, Korea, Vietnam, ...) and Theravada (known as the Southern School or “Original” school which spread across South India, Sri Lanka, Thailand, Cambodia, Vietnam, …).
Since Vietnam was on both missionary routes, Vietnam has both Buddhism Sects. Mahayana doctrines were written mostly in Chinese, while Theravada doctrines were written in Sanskrit (India).
Câu vừa rồi để nguyên đúng như tài liệu khoá học ghi. Nói cho chính xác: bộ kinh điển sớm còn giữ nguyên vẹn tới nay là bằng Pāli, không phải Sanskrit. Xem phần Tam Tạng Kinh Điển của trang nhà.
The methods of the Northern School were under the influence of China, where monks lived together in temples. In addition to their own Buddhist practice, they also helped guide others. For that reason, Mahayana Buddhism is also referred to as a “Greater Vehicle” for transporting many people. The methods of the Southern School retained the practice similar to the time of the Buddha, where monks received their meals from daily offerings and do not worry about meals, housing, etc. Theravada Buddhism is also referred to as “Lesser Vehicle”, carrying only one person. Theravada is considered the “original” branch of Buddhism because it still preserved the traditions during the Buddha’s time.
Whether Theravada or Mahayana, Northern School or Southern School, the essentials of Buddhism is still -- to provide us with a clear understanding of the sufferings of life, not in a pessimistic way causing us to feel despair, but to find out why beings suffer and seek to liberate from that suffering. Buddhism introduces us to peace and joy, showing us the way to liberate and attain happiness.
The path to attain such happiness is within the eight ways (which will be studied in more details in the lesson on the Noble Eightfold Path).
Belonging to the awareness, wisdom:
- Right Understanding
- Right Thoughts
Belonging to ethics, moral, speech, and actions:
- Right Speech
- Right Action
- Right Livelihood
- Right Effort, striving to resolve problems properly
Belonging to the concentration:
- Right Mindfulness
- Right Concentration
These Eight ways to attain true joy and liberation can be grouped into three categories:
- Rules/Precepts: Ethics, morality and practice through words and actions.
- Concentration: Focus, meditation practice through deep concentration.
- Wisdom: Awareness, knowledge.
These three categories are interrelated. By having wisdom, we are aware of the importance of having rules/precepts, in order to easier practice and uphold the rules/precepts. By upholding the rules/precepts, our mind does not wander, thus easier to maintain concentration. By having concentration, wisdom is developed (for example: by having concentration, it is easier to study and remember our lessons; and if the mind is distracted, it would be much harder to remember and retain the lesson).
Buddhism also shows clearly the transformation of all things (including humans): Impermanence. Buddhism’s view of the universe is based on "Dependent Origination." All things, all phenomena (or broadly speaking -- the universe) are created by many interrelated factors, and not spontaneously formed by itself nor created by one being. If any of the factors should change, then those things and phenomena will also change. Buddhism’s view of the human lives is based on "karma." Death isn’t the end for living beings, but rather transformations to different lives. Life and death is only a phase shift of the long chain of rebirth. Thus, every conscious action (karma) is the cause and what comes to us in life is the effect of that karma, and so cause-effects coincide, going hand-in-hand. Our lives are the results or the effects of the karmic seeds that we sow and not from any god that gives or takes from us. Happiness is not attained from begging or praying for it, but one must do good deeds to get the desired, good results. One should never believe that fate governs our lives. On the contrary, we govern our own lives; it is what we make of it (which will be studied in further details in the lesson on Cause and Effect of Karma).
3. Conclusion
In summary, we must have an overview of the entire Buddhist teachings and understand the very fundamental ideas of Buddhism. In the youth leader’s training curriculum, we will go deeper into each subject to have a more thorough understanding.
Bài này là bản đồ, không phải vùng đất. Nó gọi tên nhiều thứ mà không giải thích, và hẹn ba thứ với các bài sau — điều ấy đáng để ý, vì chính những lời hẹn cho biết cả chương trình đi về đâu.
- Giáo pháp từ đâu ra — cuộc đi tìm của một con người, và lối dạy của một vị thầy thuốc. Từ đó mới có câu “Ta chưa nói một lời nào”.
- Giáo pháp được giữ thế nào — ba tạng (Kinh · Luật · Luận), hai Đại Tạng, và một nước nằm trên cả hai tuyến đường.
- Giáo pháp để làm gì — thấy khổ, nhưng để tìm nhân của khổ và chỗ khổ hết. Không bao giờ để bi quan.
- Đi trên đó thế nào — tám điều gom thành ba nhóm, và cái vòng: tuệ → giới → định → lại tuệ.
- Hai cái nhìn phải giữ — vũ trụ theo duyên khởi; nhân sinh theo nghiệp báo. Từ đó: không cầu xin, mà cũng không buông xuôi cho số phận.
- Ba lời hẹn với các bài sau — Bát Chánh Đạo, Nhân Quả Nghiệp Báo, và (qua BK03) cộng nghiệp. Cả ba đều được nhận ở Bậc Trì.
Nguyên văn hai bản lấy trọn từ tài liệu khoá học Bậc Kiên (BK01 ĐẠI CƯƠNG PHẬT PHÁP và BK01 FUNDAMENTALS OF BUDDHISM), giữ nguyên từng chữ kể cả những chỗ bản gốc viết chưa chuẩn chính tả. Hai khối ghi chú màu là của trang nhà, không phải của tài liệu — chúng chỉ nêu chỗ khác biệt về ngôn ngữ kinh điển, và đã được đóng khung riêng để không lẫn với nguyên bản. Đối chiếu ở Tam Tạng Kinh Điển. Ba lời hẹn của bài đều đã có trên trang nhà: Bát Chánh Đạo trong bài Tứ Diệu Đế và Nhân Quả.






