Bài này có cả bản Việt lẫn bản Anh trong thư mục tài liệu, và cả hai đều được đăng lại đầy đủ, đúng từng chữ dưới đây. Không viết lại, không rút gọn, không diễn giải. Bấm nút Bản Việt | English để chuyển qua lại.
Hai bản song hành nhưng không dịch sát nhau — bản Việt chi tiết hơn ở nhiều chỗ (mười kiết sử, năm triền cái, lời trích kinh nguyên văn). Chỗ nào khác nhau thì cả hai vẫn để nguyên như vốn có.
Tứ Diệu Ðế (Bốn Chân Lý)
A. Dẫn Nhập
Một hôm, Ðức Phật đang ở tại Kosambi trong rừng cây simsàpa, Ngài nhặt một ít lá simsàpa đưa lên hỏi: "Này các Tỳ Kheo, các ông nghĩ thế nào? Lá simsàpa ở trong tay ta nhiều hay là ở trong rừng simsàpa nhiều?"
"Bạch Ðức Thế Tôn, lá trong tay Thế Tôn quá ít, còn lá trong rừng simsàpa thì quá nhiều".
Phật dạy: "Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, điều ta biết thì quá nhiều, nhưng những gì ta dạy cho các ông thì rất ít; nhưng đó là những gì cần thiết và căn bản cho sự giải thoát. Những gì ta đã dạy cho các ông? Chính là Ðây là Khổ, Ðây là Khổ Tập, Ðây là Khổ Diệt, Ðây là con đường đưa đến Khổ Diệt" (Tương Ưng V).
Giáo lý Tứ Đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật. Ngay sau khi Ðức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây; nội dung bài thuyết giáo đầu tiên ấy là Tứ Diệu Đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý Tứ Diệu Đế được triển khai, mở rộng. Ðức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ Đế, Ngài dạy: "Những bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh Đẳng Giác, đúng nghĩa là Chánh Đẳng Giác về Bốn Thánh Đế" (Tương Ưng V).
Mục đích của đạo Phật là giải thoát mọi đau khổ, vì vậy các pháp môn được thiết lập, mọi nỗ lực tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Giáo lý Tứ Diệu Đế được coi là thiện pháp tối thắng. Ngài Xá Lợi Phất nhận định: "Ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất trong tất cả dấu chân. Cũng vậy, chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ Thánh Đế" (Trung Bộ kinh I). Ðức Phật cũng dạy: "Này các Tỳ Kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ Tứ Thánh Đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này không thể xảy ra" (Tương Ưng V).
Cho đến lúc sắp nhập Niết Bàn dưới cây sa la song thọ, một lần cuối, Ngài nhắc lại giáo lý Tứ Đế: "Các thầy Tỳ Kheo, đối với Bốn Chân Lý, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp" (kinh Di Giáo, Trí Quang dịch).
Như vậy, tầm quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế đã được xác định bởi chính Ðức Phật và những đệ tử xuất sắc của Ngài. Trải qua hơn 2500 năm, giáo lý Tứ Diệu Đế vẫn được tất cả các bộ phái Phật Giáo, dù là Nguyên Thủy hay Ðại Thừa, đều xiển dương và hành trì.
B. Nội Dung — I. Ðịnh Nghĩa
Tứ Diệu Đế là Hán dịch từ chữ Phạn Catvary Aryasatyani. Arya là Diệu, cao quý, mầu nhiệm; Satya là Ðế, là sự thật, là chân lý. Tứ Diệu Đế còn được gọi là Tứ Chân Đế, Tứ Thánh Đế, Bốn Chân Lý Mầu Nhiệm.
- Khổ đế (Dukkha): là thực trạng đau khổ của con người.
- Tập đế (Samudaya): là nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ.
- Diệt đế (Nirodha): là sự kết thúc hay sự chấm dứt khổ đau.
- Ðạo đế (Magga): là con đường hay phương pháp thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau.
Giáo lý Tứ Diệu Đế được nói đến trong các kinh: Ðế phân biệt tâm kinh (Trung Bộ III), kinh Phân biệt thánh đế (Trung A Hàm), kinh Chuyển pháp luân (Tương Ưng & Tạp A Hàm), và rải rác trong kinh tạng Pàli cũng như Hán tạng.
II. Nội Dung Tứ Diệu Đế — 1. Khổ đế (Dukkha)
Khổ đau là một thực trạng mà con người cảm nhận từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, không ai phủ nhận điều ấy. Con người luôn có xu hướng vượt thoát khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc, nhưng vì không hiểu rõ bản chất của khổ đau nên không tìm được lối thoát thực sự; đôi khi ngược lại, càng tìm kiếm hạnh phúc càng vướng vào khổ đau.
Khổ đế là một chân lý, một sự thực về bản chất cái khổ. Ðức Phật dạy: "Này các Tỳ Kheo, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu mà không được là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ" (Tương Ưng V). Như vậy, Khổ có thể chia làm 3 phương diện như sau:
a. Về phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc, đau đớn. Khi ta bị một gai nhọn đâm buốt bàn chân hay một hạt cát vào trong mắt khó chịu..., đây là sự bức bách đau đớn của thể xác. Sự đau đớn của thể xác rất lớn, như Lão Tử nói: "Ngô hữu đại hoạn do ngô hữu thân" (Có thân nên có khổ). Con người sinh ra đã vất vả khốn đốn; lớn lên già yếu, bệnh tật khốn khổ vô cùng; và cuối cùng, cái chết: sự tan rã cuối cùng của thể xác đem đến khổ thọ lớn lao. (Sanh, Lão, Bệnh, Tử).
b. Về phương diện tâm lý: Là sự khổ đau do không toại ý, không vừa lòng v.v... Sự không vừa ý sẽ tạo nên nỗi đau đớn về tâm lý. Những mất mát, thua thiệt trong cuộc đời làm mình khổ. Người mình thương muốn gần mà không được, người mình ghét mà cứ gặp gỡ hoài, mình muốn tiền tài, danh vọng, địa vị nhưng nó cứ vụt qua ngoài tầm tay của mình. Cuộc đời như muốn trêu ngươi, những ước mơ không toại ý, lòng mình luôn trống trải, bức bách v.v... Ðây là nỗi khổ thuộc về tâm lý. (Cầu bất đắc, Ái biệt ly, Oán tắng hội).
c. Khổ là sự chấp thủ năm uẩn (Upadana-skandhas): Cái khổ thứ ba này bao hàm hai cái khổ trên, như trong kinh đã dạy: "Chấp thủ năm uẩn là khổ". (Ngũ ấm xí thạnh). Năm uẩn là 5 yếu tố nương tựa vào nhau để tạo thành con người, gồm có: thân thể vật lý và cấu trúc tâm lý như: cảm giác, niệm tưởng, hành và thức (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
Nói một cách tổng quát, khi ta bám víu vào 5 yếu tố trên, coi đó là ta, là của ta, là tự ngã của ta, thì sự khổ đau có mặt. Ý niệm về "thân thể tôi", "tình cảm tôi", "tư tưởng tôi", "tâm tư tôi", "nhận thức của tôi"... hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ; từ đó, mọi khổ đau phát sinh. Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, điên cuồng đều gắn liền với ý niệm về "cái tôi" ấy.
Tóm lại, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý. Về mặt bản chất, khổ đau là do sự chấp thủ, ngã hóa năm uẩn.
2. Tập đế (Samudaya)
Tập là tích tập, các phiền não tụ hội tạo thành năng lực đưa đến khổ đau; đây là nguyên nhân, là nguồn gốc của các khổ. Khi nhận thức được bản chất của khổ một cách rõ ràng, ta mới có thể đi vào con đường đoạn tận khổ đau (Ðạo đế).
Cuộc đời là khổ đau hay không khổ? Câu trả lời là tùy thuộc vào thái độ tâm lý, cảm thọ và nhận thức của mỗi người; nguyên nhân của khổ có nguồn gốc sâu xa trong tâm tưởng của con người. Phật Giáo cũng nhìn thấy các nguyên nhân của đau khổ; có cái phát sinh từ vật chất hay hoàn cảnh xã hội, nhưng nguyên nhân thật sự vẫn là tâm thức.
Nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là tham ái, do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng của tham ái. Sự khao khát về dục lạc sẽ dẫn đến khổ đau, bởi vì lòng khao khát ấy không bao giờ thỏa mãn.
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Do không thấy rõ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú. Do không thấy rõ mới lầm tưởng rằng "cái tôi" là quan trọng nhất, là cái có thực cần phải bám víu, củng cố và thỏa mãn nhu cầu của nó. Nói cách khác, do vô minh mà có chấp thủ "cái tôi" và "cái của tôi" như thân tôi, tình cảm tôi, tư tưởng tôi..., người yêu của tôi, tài sản của tôi, sự nghiệp của tôi... Do những chấp thủ ấy mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời.
Phân tích sâu hơn ta thấy rằng: nguyên nhân khổ đau là do kiết sử phiền não của chúng sanh (kiết là cột chặt, không buông tha, sử là điều khiển, sai khiến), kiết sử là các món phiền não ràng buộc trong ba giới, phải chịu luân hồi sanh tử. Phiền não tuy nhiều nhưng có thể phân làm mười món căn bản sau:
a. Năm món độn sử: Những phiền não nặng nề sanh khởi một cách ngấm ngầm chậm chạp nhưng rất mãnh liệt, khó dứt trừ.
- Tham: ham muốn, luyến ái thân, cảnh.
- Sân: giận giữ, nóng nảy.
- Si: si mê, ngu muội, không thấy được sự thật.
- Mạn: ngã mạn, kiêu căng, tự cao, khinh người.
- Nghi: là ngờ vực, nghi kỵ. Gồm ba nghi: nghi pháp, tự nghi, nghi nhơn (nghi ngờ giáo pháp, nghi ngờ khả năng giác ngộ của mình, nghi ngờ người).
b. Năm món lợi sử: Những món phiền não có tác dụng nhanh dễ sanh khởi cũng dễ trừ bỏ, đó là nhận thức sai lầm.
- Thân kiến: chấp thân này là thật có, trường tồn.
- Biên kiến: cố chấp một bên không đúng sự thật như chấp đoạn, chấp thường.
- Tà kiến: kiến giải tà bậy, không hợp chánh lý.
- Kiến thủ: bảo thủ chỗ kiến giải của mình, không chịu tin chánh lý.
- Giới cấm thủ: tin tưởng và thực hành những giới điều sai lầm của ngoại đạo.
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình; lòng mình đầy tham lam, chấp thủ, nhận thức sai lầm thì khổ là chắc chắn. Nói cách khác, do cái nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc, hạnh phúc.
3. Diệt đế (Nirodha)
Diệt là chấm dứt, là dập tắt. Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắt phiền não, nguyên nhân đưa đến đau khổ và sự chấm dứt khổ đau; cũng có nghĩa là hạnh phúc, an lạc. Diệt đế đồng nghĩa với Niết Bàn (Nirvana/Nibbàna).
Ðạo Phật xác nhận cuộc đời đầy dẫy những đau khổ, đồng thời cũng xác định có một sự thật khác nữa là an lạc, hạnh phúc. Vì vậy mà có sự tu tập để đạt được hạnh phúc. Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc có các mức độ khác nhau.
a. Hạnh phúc tương đối: Một khi bạn đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợ hãi, bất an giảm hẳn, thân tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tỉnh táo; bạn nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản và rộng lượng hơn. Ðó là một hình thức của hạnh phúc. Kinh Trung Bộ có một ví dụ: Có một người con trai đang yêu một cô gái. Tình cờ, anh ta bắt gặp cô gái nói chuyện, cười đùa với một chàng trai khác. Tâm hồn của người con trai đang yêu ấy bị xáo trộn mạnh mẽ, khó chịu, bực bội và đau khổ. Thời gian sau, người con trai ấy không còn yêu thương cô gái ấy nữa; lần này, anh ta gặp cô ái ấy đang nói chuyện, cười đùa với những chàng trai khác, nhưng hình ảnh ấy không làm tâm hồn anh ta đau đớn nữa. Cũng vậy, nhờ tâm trí không bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị đun nóng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng, sợ hãi, mà tâm ý của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc và chính xác hơn, bạn tạo nên một phép lạ: thân tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn đối với mọi người độ lượng, bao dung và khiêm tốn; đối với của cải, tài sản, danh vọng trở nên thanh thản hơn, không còn bị áp lực của nó đè nặng lên trái tim mình. Trên cơ sở ấy, bạn hưởng thụ đời sống có phẩm chất hơn.
Tóm lại, tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, sân và vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ được tăng phần hạnh phúc lên mức độ ấy.
Nếu bạn phát triển hạnh phúc tinh thần cao hơn bằng cách tu tập thiền định thì bạn sẽ có sự an lạc tuyệt vời. Ðức Phật dạy: "Có người có thể không bị bệnh về thể xác trong một năm hay có thể đến cả trăm năm, nhưng thật hiếm có người không bị bệnh về tinh thần, dù chỉ trong một phút". Những tâm lý được coi là bệnh của tinh thần gồm có 5 trạng thái tâm lý, thường gọi là 5 triền cái: tham lam, sân hận, hôn trầm ngủ nghỉ, dao động và hối hận, hoài nghi và do dự. Khi 5 loại tâm lý này có mặt, nó sẽ trói buộc và ngăn che tâm trí bạn; loại trừ chúng thì tinh thần sẽ sáng tỏ thanh tịnh và an lạc như mặt trăng thoát khỏi mây che. Các trạng thái hạnh phúc tinh thần này được gọi là Tứ thiền.
b. Hạnh phúc tuyệt đối: Trên nền tảng hạnh phúc tinh thần, bạn phát triển tuệ quán, hướng tâm đến đoạn trừ toàn bộ phiền não vi tế, thâm sâu, bạn có thể đạt hạnh phúc tuyệt đối, tối thượng là Niết Bàn. Diệt đế chính là Niết Bàn. Niết Bàn là sự thanh tịnh, là hạnh phúc tuyệt đối. Ðức Phật dạy: "Vô bệnh lợi tối thắng, Niết Bàn lạc tối thắng" (K.Magandiya, TBK II).
Niết Bàn còn được diễn tả dưới nhiều danh từ khác nhau, tiêu biểu như: vô sanh, giải thoát, vô vi, vô lậu, đáo bỉ ngạn, tịch tịnh, chân như, thực tướng, pháp thân... Niết Bàn không phải là đối tượng của tư duy, khái niệm hay ngôn ngữ. Ðây là trạng thái an lạc, hạnh phúc tuyệt đối khi tâm ý đã vắng mặt tham, sân, si.
Chúng ta thường quan niệm Niết Bàn như một cảnh giới, một cõi nào đó cao cấp hơn cõi người, như là cõi thiên đường của các tôn giáo khác; đó là một sai lầm lớn. Niết Bàn vượt thoát mọi khái niệm đối đãi về thời gian, không gian, có, không, lớn, nhỏ... Dù vậy, Niết Bàn không phải là hư vô, mà là một thực tại thanh tịnh, siêu việt, không nằm trong phạm vi phân biệt của ý thức, hay nói cách khác, không thể nhận thức được Niết Bàn khi đang còn tham, sân, si. Một vị Thiền Sư nói: "Hãy nhìn những rặng núi, những con suối chảy, những rừng cây xanh ngắt đẹp tuyệt vời kia. Khi biết nhìn mọi vật với một nhãn quan mới, một nhãn quan không bị chi phối bởi tham sân si, thì cảnh đẹp kia chính là Niết Bàn đó! Niết Bàn không phải là một nơi chốn nào khác biệt với thế gian, một cảnh giới nào mà người ta có thể tìm đến. Niết Bàn chính là ở đây". Ðức Phật và các vị Bồ Tát, A La Hán đã đạt Niết Bàn ngay trong đời sống này. Ðiều đó nghĩa là Niết Bàn nằm ngay trong tầm tay của mỗi người. Biểu hiện của Niết Bàn là không còn tạo nghiệp và không còn tái sinh.
4. Ðạo đế (Magga)
Ðạo là con đường, là phương pháp thực hiện để đạt được an lạc, hạnh phúc trong đời sống hàng ngày hay hạnh phúc tuyệt đối Niết Bàn. Như vậy, toàn bộ giáo lý mà Ðức Phật đã dạy đều là Ðạo đế, tổng quát và căn bản gồm có 37 pháp, thường gọi là 37 phẩm trợ đạo. Ðức Phật dạy: "Này các Tỳ Kheo, đây là những pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy, các con phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập, truyền bá rộng rãi để chánh pháp được trường tồn, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Ðó là Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Thần Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ Đề Phần, Tám Thánh Đạo Phần" (kinh Ðại Bát Niết Bàn).
Trong 37 pháp thì Tám Thánh Đạo được coi là tiêu biểu và căn bản nhất của Ðạo đế. Tám Thánh Đạo, còn gọi là Tám Chánh Đạo - con đường chân chính - có 8 chi phần:
- Chánh kiến (Sammà Ditthi): Thấy và hiểu đúng đắn, nghĩa là nhận thức đúng về đạo đức của cuộc sống, cái nào là thiện, cái nào là ác. Nhận biết đúng về bản chất của sự vật là vô thường, vô ngã, duyên sinh. Nhận thức rõ bản chất của khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến hết khổ.
- Chánh tư duy (Sammà Sankappa): Suy nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng để đầu óc của mình nghĩ ngợi những vấn đề bất thiện như tham dục, tức tối giận hờn, bạo động hãm hại... dẫn tư duy của mình hướng về tâm cao thượng như tư duy về sự buông thả, sự giải thoát, về thương yêu giúp đỡ chúng sinh, về sự bất bạo động, nhẫn nhục, trầm tĩnh.
- Chánh ngữ (Sammà Vàcà): Ngôn ngữ đúng đắn, nghĩa là không nói những lời đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung bạo, căm thù. Nói những lời lẽ đưa đến xây dựng niềm tin, đoàn kết hòa hợp, thương yêu và lợi ích.
- Chánh nghiệp (Sammà Kammanta): Hành vi đúng đắn, nghĩa là không có hành vi giết hại, trộm cướp, hành dâm phi pháp. Thực hành sự thương yêu, cứu giúp, không ham muốn thú vui bất thiện.
- Chánh mạng (Sammà Ajivà): Ðời sống đúng đắn, nghĩa là phương tiện mưu sinh, nghề nghiệp chân chính, không sống bằng những nghề phi pháp, độc ác, gian xảo.
- Chánh tinh tấn (Sammà Vàyàma): Nỗ lực đúng đắn, nghĩa là nỗ lực đoạn trừ điều ác, nỗ lực thực hành điều thiện.
- Chánh niệm (Sammà Sati): Nhớ nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng nhớ nghĩ các pháp bất thiện, đừng để cho các đối tượng bất chính dẫn dắt mình đi lang thang. An trú tâm ý vào thiện pháp, không quên thiện pháp.
- Chánh định (Sammà Samàthi): Tập trung tư tưởng đúng đắn, nghĩa là đừng để tâm thức bị rối loạn, tập trung tư tưởng làm an tịnh tâm thức một cách đúng đắn, có hiệu quả phát triển tuệ giác.
Mối quan hệ giữa các chi phần Bát Chánh Đạo là không thể phân ly, chi phần này có trong chi phần kia, cái kia hỗ trợ cho cái này. Tám Chánh Đạo có thể chia làm 3 bước là Giới, Ðịnh và Tuệ. Giới là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng; Ðịnh là Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định; Tuệ là Chánh kiến, Chánh tư duy. Xác định Bát Chánh Đạo là con đường đưa đến giải thoát, Ðức Phật dạy: "Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Chánh Đạo thì ở đấy không có Tứ Quả Sa Môn" (kinh Ðại Bát Niết bàn, TB I). Ðức Phật dạy thêm: "Nếu những Tỳ Kheo sống chân chính (theo Bát Chánh Đạo) thì cõi đời này không thiếu vắng những vị A La Hán".
Con đường tu tập của Ðạo đế là con đường nỗ lực tự thân của mỗi hành giả Phật Tử; con đường ấy vừa thực tiễn vừa có hiệu quả ngay tại đời sống này.
III. Tu Tập Bốn Chân Lý
Giáo lý đạo Phật không phải là một học thuyết, mà là một công trình tu tập, có thực hành mới biến lý thuyết thành thực tiễn, thành chất liệu sống trong mỗi con người, như ăn cơm mới no, uống nước mới hết khát. Ðó là chỗ khó khăn của người Phật Tử, không thể nhờ cậy vào ai tu giúp cho mình, hoặc ai ban cho mình được giải thoát, hết khổ.
Trong kinh đưa ra 3 giai đoạn nhận thức và hành trì đối với Bốn Chân Lý, thuật ngữ gọi là Tam Chuyển: Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển.
- Ðối với Khổ đế: Thị chuyển là nhận thức, hay nhận diện cái khổ. Thấy được khổ là bước đầu tiên; nếu không thấy, không biết thì sẽ không có hành động diệt khổ. Khuyến chuyển là đi sâu hơn vào bản chất cái khổ, khởi lên ước muốn đoạn trừ khổ. Chứng chuyển cảm nhận một cách sâu sắc và toàn diện về bản chất của khổ đau.
- Ðối với Tập đế: Thị chuyển là nhận diện nguyên nhân đưa đến đau khổ. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đoạn trừ các nguyên nhân ấy. Chứng chuyển là tu tập, nỗ lực để đoạn trừ chúng.
- Ðối với Diệt đế: Thị chuyển là nhận thức được sự vắng mặt của đau khổ là hạnh phúc, là không có đau khổ, ta phải thấy điều ấy. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn được hạnh phúc, hưởng được niềm vui, thanh thản an lạc của đời sống. Chứng chuyển là đạt được, hưởng thụ thật sự trạng thái an lạc ấy.
- Ðối với Ðạo đế: Thị chuyển là nhìn thấy con đường, thấy được phương pháp diệt khổ, thấy rõ rằng đây là con đường đưa đến giải thoát; nói cách khác, thấy được lối thoát! Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đi trên con đường ấy, khởi hành trên lộ trình ấy. Chứng chuyển là đi trên con đường ấy một cách trọn vẹn.
Tóm lại, đối với mỗi chân lý, chúng ta đều phải nhận thức rõ ràng. Từ nhận thức thông suốt sẽ dẫn đến ước muốn hành động, và cuối cùng đạt được mục đích. Chúng ta phải thấy rõ diễn biến của hành vi, ngôn ngữ và tư duy của chính mình, cái nào có đau khổ, gây ra đau khổ, ta phải nhận diện và diệt trừ chúng; ta chuyển hóa nó để hưởng được niềm an bình hạnh phúc của Diệt đế. Hạnh phúc hay đau khổ đều xuất phát từ nơi thân tâm của chúng ta.
C. Kết Luận
Con người đau khổ không phải vì thiếu thốn vật chất, tiền của, danh vọng, mà chính là vì vô minh. Sự mê muội làm cho con người chưa nhận thức đúng đắn bản chất của cuộc đời. Ðạo Phật chỉ dẫn cho con người một hướng đi, một lối thoát, cung cấp phương tiện để cho con người khai mở kho tàng trí tuệ của chính mình. Ðịnh nghĩa về vô minh, Ðức Phật dạy: "Chính là không biết rõ khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ, này các Tỳ Kheo, đấy gọi là vô minh" (Tương Ưng V). Và ngược lại là minh, là trí tuệ.
Dưới cái nhìn của trí tuệ, mối quan hệ duyên sinh của Bốn Chân Lý hiển lộ rõ ràng, thấy được một chân lý là thấy được toàn bộ chân lý. Ðức Phật dạy: "Này các Tỳ Kheo, ai thấy khổ, người ấy cũng thấy nguyên nhân của khổ, thấy khổ diệt, thấy con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được nguyên nhân của khổ, cũng thấy được khổ, thấy được khổ diệt và con đường đưa đến diệt khổ. Ai thấy được khổ diệt, cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ, con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được con đường đưa đến khổ diệt, thì cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ và sự diệt khổ" (Tương Ưng V). Nhận thức đúng như thế là Chánh kiến, nó đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tu tập Bốn Chân Lý; nói cách khác, Chánh kiến đi hàng đầu trong mọi pháp môn. Nhận thức sáng tỏ ấy còn gọi là Kiến Đạo.
Giáo lý Bốn Chân Lý vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh. Một giáo lý hoàn chỉnh đầy tính nhân bản đem lại niềm tin, sức sống cho con người, xã hội đương thời và vẫn thiết thực lợi ích cho con người và xã hội hiện đại.
Ðặc tính của giáo lý Tứ Diệu Đế là con đường Trung Đạo, không rơi vào cực đoan hưởng thụ dục lạc hay khổ hạnh ép xác. Giáo lý Tứ Diệu Đế bao hàm tất cả các giáo pháp mà Ðức Phật đã dạy. Giáo lý Tứ Diệu Đế có thể thực hành cho người xuất gia cũng như tại gia, ai cũng tu tập được, ai cũng có thể nếm hương vị giải thoát, đáp ứng được nhu cầu thoát khổ cho cá nhân và chuyển hóa xã hội.
The Four Noble Truths
A. Preface
During his stay in the Simsapa forest in Kosmabi City, India, the Buddha held a handful of simsapa leaves and asked, “Dear disciples, do I have the most leaves or the forest does?”
“Dear Lord Buddha, there are more leaves in the forest than those in your hand,” a disciple answered.
The Buddha replied, “In the same way dear disciples, the things I know are innumerable but what I have taught you is very few. However, those teachings are the necessary foundations leading to liberation. What have I taught you? I’ve taught ‘this is suffering, these are the causes of suffering, this is the annihilation of suffering and this is the road to end suffering.”
The principles of the four truths are the foundation of Buddhist doctrinal system. After attaining enlightenment, the Buddha taught these principles to the five Kaundinya brothers at the Lumbini Garden. From then on, throughout his journey to propagate Buddhism, the principles of the four noble truths were expanded; the Buddha often validated the importance and significance of these principles.
The objective of Buddhism is to liberate oneself from all suffering; therefore, different methods of practice were established with the same goal. The doctrine of the Four Noble Truths was viewed as supreme. Disciple Sariputra (Ngài Xá Lợi Phất) remarked, “If the footprints of all the small animals were to fit in the imprint of an elephant’s big footprint, then the elephant’s imprint encompasses all of the littler footprints. This demonstrates that all the little ways of good practice are encompassed by the bigger principle of the Four Noble Truths.”
The Buddha also taught: “Dear disciples, one cannot build the second level of a house without building its foundation. In the same way, one cannot end suffering if one does not realize or comprehend the teaching of the Four Noble Truths.”
Prior to his death under the Sala trees, the Buddha reminded his disciples of these principles and asked if anyone still had doubts that needed to be clarified.
As illustrated above, the Buddha and his disciples confirmed the importance of these principles. Additionally, although over 2500 years have passed, the doctrine of the Four Noble Truths are still being taught and practiced by different sects of Buddhism.
B. Contents — I. Definitions
- Dukkha-satya (Sankrit): the truth of suffering
- Samudaya-satya (Skt): the truth of the origin of suffering
- Nirodha-satya (Skt): the truth of the cessation of suffering.
- Magga-satya (Skt): the truth of the path leading to the cessation of suffering.
II. Elements of the Four Noble Truths — 1. The truth of suffering
No one can deny that suffering is present in our lives. It is the ground or basis of painful experiences as conditioned by karma, delusions and afflictive emotions. We all desire to be happy or achieve happiness and avoid suffering; however, due to the lack of clear understanding of the nature of suffering, we fail to achieve happiness. In addition, despite the natural aspiration to achieve happiness, we tend to create the conditions for more suffering because we do not know the way to create the seeds for true happiness. We tend to confuse appearance as the ultimate nature of reality.
Dukkha-satya is the true principles about the nature of suffering. The Buddha taught, “Dear disciples, birth, age, sickness and death are considered suffering. To love but having to be separated and to want/desire but not getting are also suffering. In summary, as long as we still cling to what is not permanent, such as the self (which is not permanent), we continue to suffer.” Therefore, suffering can be divided into 3 categories, as follows:
a) On the physiological aspect: Suffering in this category can be described as a feeling of discomfort and/or pain to our bodies. For instance, when we fall and hurt ourselves or when there’s sand in our eyes that creates discomfort, this is suffering that our bodies endure. As stated by Lao-Tzu, “Because of this self, there is suffering.” Hence, the suffering of birth, age, sickness and death are all considered suffering that is part of living.
b) On the psychological aspect: Suffering comes about by dissatisfactions and losses in our lives. This type of suffering arises when we have to part from our loved ones, live with those we are not fond of, or when we are faced with misfortunes causing us to not get what we want. These are psychological sufferings.
c) On the aspect of clinging to the five aggregates: This type of suffering embraces the two previous types mentioned above. These five aggregates depend on each other to form an individual. These include: form, feeling, thought/cognition, impression/mental formation, and consciousness. Suffering will surface when one is attached or clings onto these 5 aggregates and begins to view and comprehend all things as “self” and belonging to one-self. The concept of “self” (my body, my views, my beloved, my feelings, etc.) creates desires and ego; thus, suffering is born. All miseries, worries, fears, hopelessness, etc., are tied to the notion of “self.”
2. The truth of the origin of suffering
It is the cumulative of miseries and delusions that leads to suffering.
Is life full of suffering? The answer depends on various aspects of the psychological, emotional and perceptive aspects of an individual. The cause of suffering is deeply rooted in one’s consciousness. Buddhism sees that the causes of suffering are sometimes created from material possessions; some are situational-based and society-influenced. However, the true origin of suffering comes from our mind and our cognition.
Numerous sutras often cited the origin of suffering is greed and lust or in general, desires. Desires lead to afflictions, which lead to suffering when those desires are not fulfilled or not satisfied the way we want.
However, the essence of suffering is ignorance. Suffering occurs when one does not clearly recognize the true nature of all things, that all things are interdependent and impermanent. Not having a clear recognition, we let greed and anger control our emotions, actions, speeches and thoughts. We tend to cling onto the temporary happiness brought about by material possessions or fame. In addition, due to not being able to see clearly the true nature of all things, we often mistake the importance of “self.” When we think something is true and has its own dependence, we go to all lengths to satisfy whatever “self” wants or desires; we then become unhappy when the “self” is not fulfilled. Thus, lacking the right view and right understanding gives rise to suffering.
To further analyze, we see that the true cause of suffering is not letting go of all afflictions and being controlled by desires as well as miseries. Because of this, we continue to stay within the cycle of birth and death.
Of the numerous kinds of suffering, we can categorize them into 3 basic groups as follows:
a) The five foolish temptations: These are caused by the illusion of the body or self; slow-forming yet hard to eliminate
- Greed/Desire for earthly things and life
- Anger/Resentment
- Stupidity/Foolishness to not see the truth
- Arrogance/Conceit towards others
- Doubtfulness of Buddha’s teachings, doubtfulness of oneself or one’s own ability to attain enlightenment and of others.
b) The five higher wholesome deeds: These are fast to arise and easy to discard. These are often caused by our perception or mistakenly conceiving something due to:
- Having the wrong view or illusion of the body or self. For instance, we view that this body is permanent and truly exists.
- Having extreme views of all things. For example, we persistently believe one side of things, disregarding the right and the wrong.
- Having wrong views of all things. For instance, we interpret things without right reasoning.
- Defending one’s view, disregarding the true teaching of Buddhism.
- Having the wrong views in understanding the precepts, or believing and practicing the improper precepts of other religions.
In summary, life is suffering or not suffering depends solely on us. If we continue to let the material possessions and earthly things control our destiny toward happiness, then life is miserable, for these things do not last forever. Thus, the happiness that arises from them will also disappear along with them. If we are not controlled by our desires or distracted by selfishness and ego, life is peaceful and happy.
3. The truth of cessation
It is the extinction of suffering, the extinction of the causes that lead to suffering. Nirodha-satya also has the same meaning as Nirvana.
Buddhism confirms that life is filled with suffering; at the same time confirming that there is also the truth on the existence of peace and happiness. Therefore, one must practice to achieve happiness. So, what is happiness? There are different levels of happiness:
a) Relative Happiness: When our mind is at peace and when we have total control of our greed, lust, fear, and worries, we see things with a clear mind and the issues become simple to resolve. This is one form of happiness. Furthermore, when our heart and mind are not distracted by thoughts of clinging or attachment and not bothered by sorrows and fears, we are calm and clear minded. Our ability to recognize and perceive things are more profound and accurate. Therefore, we have created something magical for ourselves: transformation of body and mind. We treat others with kindness, generosity, tolerance and humbleness. We have no sense of attachment towards properties, wealth and fame. Thus, we lead a quality life.
In summary, the level of happiness achieved is based on one’s ability and willingness to detach oneself from the material world and to decrease one’s ignorance caused by greed, lust, etc. If we know how to cultivate our mind, our spirit and our intellect by practicing meditation, we should be able to achieve wonderful peace and happiness. The Buddha taught that it is possible to have a human being who goes through life without being physically ill, but it is rare to have one without mental disturbances, even if only for a second. There are several states of the mental process, ranging from greed to anger to always being suspicious of others. Eliminate these and one’s mind and spirit will be clear and pure.
b) Absolute happiness: On the foundation of spiritual happiness, one develops wisdom and clear thoughts, and heads towards annihilating all afflictions or defilements to reach Nirvana. Nirvana is not a realm as we often think of; rather, it is a state of absolute happiness - absent of greed or desire, anger or resentment, delusion or ignorance, etc. Nirvana, or the state of absolute happiness, exists in our daily lives if only we learn to recognize all things for their true nature and see things without the control of desire, resentment, and delusion. The manifestation of Nirvana is not creating karmas for oneself and liberating oneself from the cycle of reincarnation.
We can conclude that liberation from suffering is possible and can be characterized as the true cessation of the continuum of afflictions. It is true peace, a state of total tranquility where one has attained complete freedom from all defilements of the mind.
4. The truth of the path
It is a method of practice to attain peace and happiness, with the ultimate goal of reaching the state of Nirvana. Of the 37 ways to practice, the Noble Eightfold Path is considered to be most idyllic and the most basic of the path leading to the liberation of suffering. These include the following:
- Right view is viewing things objectively; that is, seeing them and reporting them exactly as they are without being influenced by prejudice or emotion. Having the right view helps differentiate between truth and false, good and bad. Having right view is realizing clearly that all things are impermanent, having no self and are interdependent. With right views, one recognizes that there is suffering, the true cause of suffering, the importance of liberating from suffering and determines the true religious path for attaining liberation.
- Right thought is a mind free from sensual lust, ill-will and cruelty. When one is thinking right, one tends to favor goodwill and not harm sentient beings.
- Right speech implies sincere, sound, impartial, direct, not distorting, cautious, affable, harmless, useful words and discourses.
- Right action involves actions that are beneficial to us as well as others. We must always act for the happiness of the community, conforming to our sense of duty without any ulterior motive. We must also keep a strict control over our action, speech, and mind, as well as practicing meritorious actions and avoiding evil ones. Perfect conduct means getting rid of all improper actions - to dwell in purity. Right action also means to abstain from injuring living beings, from stealing and from unlawful sexual conduct.
- Right livelihood means to lead a decent and honest life. We must keep from exploiting, mistreating, or taking advantage of others. Do not be superstitious and do not act as a go-between to make profit. It means avoiding professions that are harmful to sentient beings, such as immoral occupations of a slaughterer, hunter, dealer in weaponry, or narcotics, etc.
- Right effort means to spend our effort correctly on eliminating evil actions and practicing good deeds.
- Right mindfulness means to give heed to good deed for our own benefit and that of others. It also means reflecting on the present and future events or situations. We must meditate upon human sufferings that are caused by ignorance and choose to work towards alleviating them, irrespective of possible difficulties and boredom. Right mindfulness also means on-going mindfulness of the body, feelings, thinking, and objects of thought.
- Right concentration means to have the right focus, not to let our mind be distracted, detaching our concentration from unwholesome thoughts in order to arrive at peace, resulting in the improvement of our wisdom.
Each of the Eightfold Path is interrelated and cannot be separated. They each support one another. These are divided into 3 categories:
- Precepts which includes Right Speech, Right Action and Right Livelihood.
- Meditation which includes Right Effort, Right Mindfulness and Right Concentration.
- Wisdom which includes Right View and Right Thought.
Confirming that the Eightfold Path is the road to liberation of suffering, the Buddha taught that any laws lacking the concept of the Eightfold Path is also lacking the four fruits of ascetic life (1. The Four Noble Truths Hearer (Thanh Văn) are those whose objective is personal salvation. 2. Pratyeka-Buddhas (Duyên Giác) are those whose objective is to attain Arhatship without external assistance. 3. Bodhisattvas (Bồ Tát) are those who always have the mind to help every being to cross the stream of birth and death. 4. Buddha (Phật) is the name for one who has been enlightened, who brings enlightenment to others, and whose enlightened practice is complete and ultimate.)
III. Practicing the Four Noble Truths
The Buddhist doctrine was culminated from a journey of practices to transform theory into something that is practical and realistic - something that is representative of the nutrients needed in our daily lives. For instance, we eat to subdue hunger and drink to quench our thirst; no one can relieve these symptoms by eating and drinking for us. Likewise, a Buddhist must practice to realize the benefits of Buddha’s teachings and attain enlightenment for himself; he cannot rely on others to practice for him so he himself can benefit.
The Sutra named 3 phases of realization and practicing, in regards to the Four Noble Truths: vision transformation, exhortation transformation and experimental transformation.
- Regarding Suffering: Vision transformation takes place when one conceives the notion of suffering. This is the first step - if we do not see or recognize suffering, there is no motivation to end suffering. The transformation of exhortation happens as we look deeper and understand fully the makeup of suffering; thus, gives rise to the desire to end suffering. Finally, the experimental transformation occurs when we are profoundly and completely aware of the essence of suffering.
- Regarding the Origin of Suffering: Vision transformation is to identify the cause leading to suffering. The transformation of exhortation happens when we wish to exterminate those causes. Experimental transformation takes place during our practice to find ways to end suffering.
- Regarding the Cessation of Suffering: Visionary transformation is to realize that the absence of suffering is happiness. The exhortation transformation is the desire to achieve true happiness and peace. Experimental transformation is when we have attained the state of true happiness and peace.
- Regarding the Path to End Suffering: Visionary transformation occurs when we see the way to end suffering; it is the road to deliverance. Exhortation transformation happens when we want to embark on this journey using this path. Finally, as we journey on this path diligently, we experiment the benefit it brings and eventually all theories and practices are realized when we attain enlightenment.
In summary, we must clearly recognize each of these truths. From clear recognition, we arrive at the desire to act upon it, and finally, our goal is reached. We must understand thoroughly the evolution of our actions, speeches and thoughts; and know what creates suffering so that we can transform it into peace and happiness. Happiness or misery comes from our heart and mind.
C. Conclusion
The human world suffers not because of the lack of material things, wealth or fame. Rather, our miseries arise from our ignorance. Delusions prevent us from clearly recognizing the true nature of life. Buddhism shows us the way to end suffering. It provides us with a means to cultivate our wisdom, to clearly see suffering for what it is, and to find ways to end it to achieve Nirvana. When defining ignorance, the Buddha taught, “Ignorance is due to not understanding suffering thoroughly, the cause of it, how to end it, and the way to end it.” Obviously, contrary to ignorance is wisdom. When we view things with wisdom, the correlation of the Four Noble Truths is unmistakably clear. That is, if we truly see suffering, we also see what gives rise to suffering and the importance of finding the way to annihilate it. This is called Right View, which plays an important role in the process of practicing the Four Noble Truths. It is the very first methodology of all methodologies taught by the Buddha.
The doctrine of Four Noble Truths is a means as well as the end; it is a comprehensive doctrine that brings faith and life to the human race and society in all time periods.
The characteristic of this doctrine is the Middle Path - not leaning toward either extremes of immersing ourselves in sensual pleasures or austerity. The doctrine of Four Noble Truths comprises and embraces all other doctrines taught by the Buddha; it can be practiced by the ordained ones as well as lay-Buddhist practitioners. Anyone can practice and benefit from this doctrine and anyone can taste the flavor of true peace and happiness. The Four Noble Truths satisfies the need to liberate one from suffering and transform society.
Bốn chân lý, và một dáng lặp lại: hai đế đầu tả căn bệnh, hai đế sau tả lối ra. Cách ghép ấy là có chủ ý — đế thứ ba chính là chỗ tắt đi của đế thứ hai, còn đế thứ tư là cách làm cho nó tắt.
- Khổ đế — ba phương diện: sinh lý, tâm lý, và chấp thủ năm uẩn. Cái thứ ba chứa hai cái đầu.
- Tập đế — bề mặt là tham ái, bên dưới là vô minh; mười kiết sử, năm độn sử và năm lợi sử.
- Diệt đế — hạnh phúc hai mức: tương đối (bớt lửa) và tuyệt đối (Niết Bàn). Kèm lời cảnh báo: Niết Bàn không phải một nơi chốn.
- Đạo đế — cả thảy 37 phẩm, mà cốt lõi là Bát Chánh Đạo, gom thành Giới – Định – Tuệ.
- Rồi Tam Chuyển trên từng đế — thấy nó, muốn nó, làm được nó. Bốn đế × ba = mười hai hành tướng.
Nguyên văn bản Việt và bản Anh lấy trọn từ tài liệu khoá học Bậc Trì (BT02 Tứ Diệu Ðế và BT02 The Four Noble Truths), giữ nguyên từng chữ kể cả cách viết và dấu chấm câu của bản gốc. Các bài kinh được dẫn trong bài — Tương Ưng V, Trung Bộ I, kinh Chuyển Pháp Luân, kinh Đại Bát Niết Bàn — đều có trên trang nhà ở phần Tam Tạng Kinh Điển; xem Kinh Chuyển Pháp Luân để đọc chính bài pháp đầu tiên nói về bốn chân lý này.






