G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Bậc Trì Bài 4 · Nhân Quả
Bài 4 · Bậc Trì

Nhân Quả

Nhân nào quả nấy, và vì sao một nhân không thể tự mình sinh quả

Trang NhàBậc TrìBài 4 — Nhân Quả
Tài liệu của khoá — đầy đủ, bốn bài

Bốn bài riêng biệt của ba ngòi bút khác nhau, tất cả đều đăng lại đầy đủ dưới đây. Chúng không chỉ lặp lại nhau — đọc chung sẽ thấy cùng một giáo lý nhìn từ ba góc khá khác nhau, và đó chính là ý của bài học.

  • Bản Việt I — HT Thích Thiện Hoa, trích Phật Học Phổ Thông: lối trình bày cổ điển của Việt Nam, mộc mạc và có hệ thống.
  • Bản Việt II — GĐPT Việt Nam tại Hoa Kỳ: viết cho Huynh Trưởng, và nói thẳng như vậy — bài gọi đích danh người Huynh Trưởng.
  • Bản Anh I — Reginald Ray, Understand Karma: cách đọc của phương Tây, sắc hơn ở phần ý định và ở chỗ nghiệp truyền qua các đời thế nào.
  • Bản Anh II — bản tiếng Anh của chính GĐPT cho bài Việt thứ hai.

I. Nhân Quả

Tác giả: Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, trích từ Phật Học Phổ Thông

A. Mở Ðề

Vũ trụ, vạn vật không phải tuần hành, biến dịch một cách tự nhiên, vô lý, mà tuân theo một cái luật chung, luật đó là luật Nhân Quả. Luật này không phải do một đấng nào, xã hội nào đặt ra, mà là một luật thiên nhiên âm thầm, lặng lẽ, nhưng đúng đắn vô cùng. Người đời vì không quan sát một cách kỹ càng, tường tận nên không thấy được luật ấy. Do đó, họ đã hành động một cách bừa bãi, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với bản thân mình và với người chung quanh. Và cũng chính vì thế mà họ đau khổ, lặn hụp mãi trong biển mê mờ, tội lỗi. Trái lại, Ðức Phật là vị hoàn toàn giác ngộ, đã phát huy ra cái luật nhân quả đang chi phối, điều hành mọi sự vật trong vũ trụ nầy, nên Ngài đã hành động một cách sáng suốt, lợi lạc cho chính mình và chúng sanh. Vậy chúng ta là Phật Tử, chúng ta cần phải hiểu biết cái luật nhân quả mà đấng từ phụ đó phát huy nó như thế nào, để rồi hành động đúng theo như lời Ngài đã làm, hầu đem lại hạnh phúc chân thật, lâu bền cho mình và cho người chung quanh.

B. Chánh Ðề — I. Ðịnh Nghĩa

“Nhân” là nguyên nhân, “Quả” là kết quả. Nhân là cái mầm. Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và Quả là hai trạng thái tiếp nối nhau mà có. Nếu không có Nhân thì không có Quả; nếu không có Quả thì không có Nhân.

II. Những Ðặc Tính Của Luật Nhân Quả

1. Nhân thế nào thì quả thế ấy: Nếu ta muốn có quả cam thì ta phải ươm hạt giống cam; nếu ta muốn có hạt đậu thì ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trồng cam mà lại được đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ. Nói một cách khác, nhân với quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi.

2. Một nhân không thể sanh ra quả: Sự vật trong vũ trụ nầy đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên. Cho nên không có một nhân nào, có thể tự tác thành kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác. Nói rằng hạt lúa sanh ra cây lúa, là nói một cách giản dị cho dễ hiểu, chứ thật ra hạt lúa không thể sanh ra gì được cả, nếu để một mình nó giữa khoảng trống không, thiếu không khí, ánh sáng đất nước, nhân công. Cho nên, khi ta nghe bất cứ ai tuyên bố rằng: “mọi vật do một nhân sinh ra, hay một nhân có thể sanh ra vạn vật”; ta có thể chắc chắn rằng, người ấy nói sai sự thật.

3. Trong nhân có quả, trong quả có nhân: Chính trong nhân hiện tại đã có hàm chứa cái quả vị lai; cũng chính trong cái quả hiện tại, đã có hình bóng của nhân quá khứ. Một sự vật mà ta gọi là nhân, là khi nó chưa biến chuyển, hình thành ra cái quả mà ta mong muốn, chờ đợi. Một sự vật ta gọi là quả, là khi nó chưa biến chuyển, hình thành ra trạng thái mà ta mong đợi ước muốn. Mỗi vật, vì thế, đều có thể gọi là nhân hay quả được: đối với quá khứ, thì nó là quả, nhưng đối với tương lai thì nó là nhân. Nhân và quả tiếp nối nhau, đắp đổi nhau như những vòng trong sợi dây chuyền.

4. Sự phát triển nhanh và chậm từ nhân đến quả: Sự biến chuyển từ nhân đến quả, có khi nhanh khi chậm, chứ không phải bao giờ cũng diễn tiến trong một thời gian đồng nhất: Có những nhân và quả xảy ra kế tiếp nhau, liền nhau, nhân vừa phát khởi thì quả đã xuất hiện, như khi vừa đánh xuống mặt trống (nhân) thì tiếng trống liền phát hiện ra (quả); hay khi hai luồng điện âm và dương vừa gặp nhau, thì ánh sáng liền bừng lên. Có khi nhân đã gây rồi, nhưng quả đợi một thời gian, quả mới hình thành, như từ khi gieo hạt giống, cho đến khi gặt lúa, cần phải có một thời gian ít nhất là bốn tháng. Có khi từ nhân đến quả cách nhau từng chục năm, như đứa trẻ mới cắp sách đi học đến ngày thành tài, phải qua một thời gian ít nhất là mười năm. Có khi cần đến một vài trăm năm, hay nhiều hơn nữa quả mới xuất hiện. Chẳng hạn như từ ý niệm giành độc lập của một quốc gia, đến khi thực hiện được nền độc lập ấy, cần phải qua bao thế kỷ. Vì lý do mau chậm, trong sự phát hiện cái quả, chúng ta không nên nóng nẩy hấp tấp, mà cho rằng cái luật nhơn quả không hoàn toàn đúng, khi thấy có những cái nhân chưa phát sinh ra quả.

III. Phân Tích Hành Tướng Của Nhân Quả Trong Thực Tế

Như các đoạn trên đã nói, nhân quả chi phối tất cả vũ trụ vạn hữu, không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần, thoát ra ngoài luật nhân quả được. Ở đây, để có một quan niệm rõ ràng hơn về luật nhân quả, chúng ta hãy tuần tự phân tích hành tướng của nhân quả trong mọi sự vật:

  1. Nhân quả có trong những vật vô tri vô giác: Nước bị lửa đốt thì nóng, bị gió thổi thì thành sóng, bị lạnh thì đông lại. Nắng lâu ngày thì đại hạn, mưa nhiều thì lụt, gió nhiều thì sanh bão.
  2. Nhân quả trong loài thực vật: Hạt cam thì sanh ra cây cam, cây cam thì sanh trái cam. Hạt ớt thì sanh ra cây ớt, cây ớt thì sanh ra trái ớt. Nói một cách tổng quát, giống ngọt thì sanh trái ngọt, giống chua thì sanh trái chua, giống nào thì sanh quả ấy.
  3. Nhân quả trong các loài động vật: Loài chim sanh ra trứng, nên chúng ta gọi trứng là nhân, chờ khi ấp nở thành con là quả; con chim ấy trở lại làm nhân, sinh ra trứng là quả. Loài thú sanh con, con ấy là quả. Con thú lớn lên, trở lại làm nhân sanh con là quả.
  4. Nhân quả nơi con người: Về phương diện thể chất: Thân tứ đại là do bẩm thụ huyết của cha mẹ, và do hoàn cảnh nuôi dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả, và cứ tiếp nối như thế mãi, nhân sanh quả, quả sanh nhân, không bao giờ dứt. Về phương diện tinh thần: Những tư tưởng và hành vi trong quá khứ, tạo cho ta những tánh tình tốt hay xấu, một nếp sống trong hiện tại: tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tánh tình nếp sống tinh thần trong hiện tại là quả. Tánh tình và nếp sống này là nhân, để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả. Ðể nhận rõ cái phần tinh thần quan trọng nầy, chúng ta hãy dành riêng ra một mục, để đặt biệt chú ý đến hành tướng của nó dưới đây.

IV. Nhân Quả Về Phương Diện Tinh Thần

1. Nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt:

Tham: Thấy tiền của người, nổi lòng tham lam sanh ra trộm cắp, hoặc giết hại người là nhân; bị chủ đánh đập hoặc đâm chém, phải tàn tật, hay bị nhà chức trách bắt giam trong khám đường, chịu những điều tra tấn, đau khổ là quả.

Sân: Người quá nóng giận, đánh đập vợ con, phá hoại nhà cửa, chém giết người không gớm tay là nhân; khi hết giận đau đớn, nhìn thấy vợ con bịnh hoạn, nhà cửa tiêu tan, luật pháp trừng trị, phải chịu nhiều điều khổ cực là quả.

Si mê: Người say mê sắc dục, liễu ngõ hoa tường, không có biết sự hay dở, phải trái là nhân; làm cho gia đình lủn củn, thân thể suy nhược, trí huệ u ám là quả.

Nghi ngờ: Suốt đời cứ nghi ngờ việc nầy việc khác, ai nói gì cũng không tin, ai làm gì cũng không theo, đó là nhân; kết cuộc không làm nên được việc gì cả, đến khi lâm chung, buông xuôi hai bàn tay trắng đó là quả.

Kiêu mạn: Tự cho mình là hơn cả, khinh bỉ mọi người, chà đạp lên nhân phẩm người chung quanh, là nhân; bị người ghét bỏ, xa lánh, sống một đời lẻ loi, cô độc là quả.

Nghiện rượu trà: chung quanh tiền bạc ăn nhậu cho ngỏa nguê là nhân; đến lúc say sưa chén bát ngổn ngang, ghế bàn nghiêng ngả nhiều khi gây ra chém giết nhau làm những điều tội lỗi, phải bị phạt vạ và tù tội là quả.

Say mê cờ bạc: Thấy tiền bạc của người muốn hốt về mình, đắm đuối quanh năm, suốt tháng theo con bài lá bạc, là nhân; đến lúc của hết nhà tiêu, nợ nần vây kéo, thiếu trước hụt sau, thâm quỹ, thụt két là quả.

2. Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt: Như trên chúng ta đã thấy, những tư tưởng hành vi xấu xa tạo cho con người những hậu quả đen tối, nhục nhã, khổ đau như thế nào, thì những tư tưởng và hành vi đẹp đẽ tạo cho con người những hậu quả sáng lạng, vinh quanh và an vui như thế ấy. Người không có tánh tham bỏn sẻn, thì tất không bị của tiền trói buộc, tâm trí được thảnh thơi. Người không nóng giận, tất được sống cảnh hiền hòa, gia đình êm ấm; người không si mê theo sắc dục, thì tất được gia đình kính nể, trí huệ sáng suốt, thân thể tráng kiện; người không hay ngờ vực, có đức tin, thì hăng hái trong công việc, được người chung quanh tin cậy, dễ thành tựu trong đời; người không ngạo mạn thì được bạn bè quí chuộng, niềm nở đón tiếp, tận tâm giúp đỡ khi mình gặp tai biến. Người không rượu chè, cờ bạc thì không đến nỗi túng thiếu, bà con quen biết kính nể, yêu vì…Những điều nầy, tưởng không cần phải nói nhiều, quí đọc giả cũng chán biết. Hàng ngày quanh chúng ta, những cảnh tượng nhân và quả ấy, diễn ra không ngớt, chỉ cần giở tờ báo hàng ngày, đọc các mục tin tức là thấy ngay. Nói một cách tổng quát, về phương diện tinh thần cũng như về vật chất, người ta gieo thứ gì, thì gặp thứ ấy. Người Pháp có câu: “Mỗi người là con đẻ của công nghiệp mình”.

V. Lợi Ích Ðem Lại Cho Chúng Ta Do Sự Hiểu Biết Và Áp Dụng Luật Nhân Quả

  1. Luật nhân quả tránh cho ta những mê tín dị đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền: Luật nhân quả cho chúng ta thấy được thực trạng của sự vật, không có gì mơ hồ, bí hiểm. Nó vén tất cả những cái gì đen tối, phĩnh phờ của mê tín dị đoan, đang bao trùm sự vật. Nó cũng phủ nhận luôn cái thuyết chủ trương “Vạn vật do một vị thần sinh ra, và uy quyền thưởng phạt muôn loài”. Do đó, người hiểu rõ luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin tưởng của mình, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang mang.
  2. Luật nhân quả đem lại lòng tin tưởng vào chính con người: Khi đã biết cuộc đời của mình do nghiệp nhân của mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo, mà không tin tưởng ở mình thì còn tin tưởng ở ai nữa? Lòng tự tin ấy là một sức mạnh vô cùng quý báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hy sinh hăng hái làm điều tốt. Vì những hành động tốt đẹp ấy, họ biết sẽ là những cái nhân quý báu, đem lại những kết quả đẹp đẽ.
  3. Luật nhân quả làm cho chúng ta không chán nản, không trách móc: Người hay chán nản, hay trách móc là vì đã có thói quen ỷ lại ở kẻ khác, là vì hướng ngoại. Nhưng khi đã biết mình là động lực chính, là nguyên nhân chính của mọi sự thất bại hay thành công, thì còn chán nản trách móc ai nữa? Ðã biết mình là quan trọng như thế, là chỉ còn lo tự sửa mình, thôi gieo nhân xấu, để khỏi phải gặt quả xấu, tránh tạo giống ác để khỏi mang cái ác.

VI. Quyết Nghi

1. Có người nghĩ rằng: Nhân quả là một luật tự nhiên rất đúng đắn công bằng, sao có người cả đời hiền từ mà lại gặp lắm tai nạn khổ sở; trái lại, những người hung ác, sao lại vẫn được an bình?

Ðáp: Những đoạn trên đã nói, thời gian tiến triển từ nhân đến quả, có khi nhanh khi chậm, chứ không phải khi nào cũng đồng nhau. Có cái nhân từ đời nay, đến đời sau mới hình thành quả v.v… Vậy nếu có người trong đời hiện tại làm việc hung ác, mà được an lành, là do kiếp trước họ tạo nhân hiền từ. Còn cái nhân hung ác, mới tạo trong đời nay, thì tương lai hay qua đời sau, họ sẽ chịu quả báo. Cũng như có người năm nay ăn chơi, không làm gì hết, mà vẫn no đủ, là nhờ năm rồi họ có làm, có tiền của để dành vậy. Còn cái nhân ăn chơi không làm năm nay, thì sang năm họ sẽ chịu quả đói rách. Còn người đời nay hiền từ, làm các điều phước thiện, mà vẫn gặp tai nạn, khổ sở, là do đời trước, họ tạo những nhân không tốt. Cái nhân hiền từ đời nay, qua đời sau họ sẽ hưởng quả vui. Cũng như có người tuy năm nay siêng năng làm ruộng, mà vẫn thiếu hụt, là vì nhân ăn chơi năm vừa rồi. Cái nhân siêng năng năm nay, sang năm sau họ sẽ hưởng quả sung túc. Do đó, cổ nhân có nói: Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, Chỉ danh lai tảo dữ lai trì (Việc lành hay việc dữ đều có quả báo, chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi).

2. Có người hỏi: Theo luật nhân quả thì ai làm nấy chịu: cha làm tội, con không thể thay thế được; con làm tội, cha không thể thay thế được. Sao thấy có những việc: cha làm con phải chịu liên can, con làm cha phải chịu ảnh hưởng?

Trả lời: Trong kinh Phật dạy: Nhân quả nghiệp báo có hai thứ: Biệt nghiệp và Cộng nghiệp. Biệt nghiệp là nghiệp báo riêng của mỗi chúng sanh, như mình có học nhiều thì mình biết nhiều, mình ăn thì mình no, mình siêng năng thì mình dễ thành công, mình nhác lười thì mình thất bại. Cộng nghịêp là nghiệp chung cho nhiều chúng sinh; cùng sống trong một hoàn cảnh. Như người Việt Nam, sống trên mảnh đất chữ S nầy trong giai đoạn chiến tranh Việt Pháp vừa qua, thì dù giàu, dù nghèo, dù trí thức, dù bình dân, đều chịu ảnh hưởng chung của chiến tranh; như sanh ở một nước tiên tiến, thì mọi người đều tương đối được hưởng một dời sống vật chất đầy đủ hơn ở một nước bán khai. Ðã sanh chung một gia đình, một xứ sở hay một dân tộc, cố nhiên cái nghiệp quả phải có liên quan với nhau. Sách có câu: Nhất nhơn tác phước, thiên nhơn hưởng, Ðộc thọ khai hoa, vạn thọ hương. (Một người làm phước, ngàn người đều được ảnh hưởng; một cây trổ hoa, muôn cây chung quanh đều được thơm lây).

C. Kết Luận

Chúng ta đã biết giá trị của luật nhân quả, vậy chúng ta nên đem bài học nầy ra áp dụng vào mọi công việc hằng ngày của chúng ta. Khi chúng ta làm một việc gì, nói một lời gì, cũng nên nghĩ trước kết quả tốt hay xấu của nó, chứ đừng làm liều, nói liều, rồi phải chịu hậu quả đau khổ, nhục nhã trong tương lai. Nếu chúng ta làm được như thế, thì chúng ta sẽ thấy tánh tình và hành vi của chúng ta, mỗi ngày mỗi cải tiến, các việc sai quấy sẽ giảm bớt, các việc lành càng thêm tăng trưởng. Và do sự gieo nhân toàn thiện đó, từ địa vị người, chúng ta có thể tiến dần lên đến quả vị thánh hiền, siêu nhân.

II. Nhân Quả

GĐPT Việt Nam tại Hoa Kỳ soạn thảo

A. Dẫn nhập

Đến với Phật Giáo thì chúng ta nên tin vào Lý Nhân Quả - Nghiệp Báo. Chính nguyên lý nầy đã đưa đẩy con người phải bị trầm luân trong cảnh luân hồi. Nói đến nhân quả - nghiệp báo là nói đến một tiến trình tạo tác của con người, và từ đó hình thành đời sống an lạc hoặc khổ đau cho mỗi con người; trong đó, mỗi tư duy và hành động cụ thể là một nguyên động lực kiến tạo nên trạng thái tâm lý an lạc hay bất an, kiến tạo nên cuộc sống hạnh phúc hay bất hạnh. Tất nhiên, trong suốt tiến trình tạo tác (nhân quả - nghiệp báo) đó, con người luôn luôn đóng vai trò chủ động. Ðức Phật dạy, không hề có bất kỳ một sự chi phối nào bởi một quyền năng, bởi một đấng tạo hóa, thần thánh v.v... trong tiến trình tạo tác ấy, mà chỉ có con người và các hành động tâm lý của nó mà thôi.

B. Nội Dung Chính — 1. Ðịnh nghĩa

Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả. Trong thế giới tương quan duyên sinh, mỗi sự vật, mỗi hiện tượng đều có những nguyên nhân của nó. Nguyên nhân của một sự thể (pháp) gọi là nhân, và hiện hữu (pháp) của sự thể đang tồn tại là quả. Trong mối tương quan nhân quả này, mỗi hiện hữu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả như sự tuần hoàn của mây, mưa, nước, hơi nước... Nguyên nhân chính (trực tiếp) của một hiện hữu gọi là nhân, nguyên nhân phụ (gián tiếp) có ảnh hưởng đến quả gọi là duyên (hay các điều kiện phụ thuộc); do đó, nếu nói đủ là nhân - duyên - quả.

2. Nội dung

Trong tương quan nhân quả, còn có các yếu tố duyên (trung gian) xen vào; do đó, sự thành tựu của một quả chắc hẳn là còn tùy thuộc vào các duyên. Chúng ta cần ghi nhận một số điểm về nhân quả như sau:

  1. Nhân nào Quả nấy: Nhân quả cứ như bóng với hình. Gieo hạt đậu được cây đậu, gieo nhân tốt được quả lành, gieo nhân dữ gặt quả ác. Gây nhân sát sanh thì thọ mạng ngắn ngủi (yểu tử), keo kiệt thì quả là nghèo đói, gieo nhân bố thí thì được giàu sang tốt đẹp.
  2. Nhân đơn thuần không thể sanh Quả: Nhân phải có nhiều điều kiện phụ trợ gọi là duyên thì quả mới được dựng lập tồn tại và phát triển. Luật Nhân Quả cũng không thoát ra ngoài Lý Nhân Duyên. Đức Phật dạy: "vạn vật do nhân duyên mà có, do nhân quả mà thành". Thí dụ như hạt lúa muốn trở nên cây lúa phải có đất tốt, nước, độ ẩm thích hợp, phải có ánh sáng mặt trời và người nông phu hoàn tất các công tác nhân duyên thích hợp, hạt lúa mới nẩy mầm phát triển và thành bụi lúa. Ngược lại để hạt lúa lên viên đá, dù để bao lâu cũng vẫn chỉ là hạt lúa và hư nát không thể sanh quả được.
  3. Trong Nhân có Quả, trong Quả có Nhân: Trong cây lúa đã có triển vọng những hạt lúa được phát sinh và trong hạt lúa đã nuôi mầm cây lúa được hình thành.
  4. Nhân quả trong đạo lý duyên sanh: Vô Minh sanh Hành, Hành sanh Thức, Thức sanh Danh Sắc: Vô Minh + Hành là Nhân ở quá khứ. Thức + Danh Sắc là Quả ở hiện tại và chính Quả hiện tại lại là Nhân của tương lai. Do vậy ta có thể nói trong Vô Minh có Hành, và trong Hành có Vô Minh (sẽ trình bày rõ trong bài Mười Hai Nhân Duyên).
  5. Nhân quả đồng thời: Tức Nhân Quả nối tiếp xảy ra ngay trong hiện tại. Dụ như đánh vào mặt trống ta nghe tiếng "Bầm", đánh vào cái chuông ta nghe tiếng "Boong".
  6. Nhân quả khác thời: Mau chậm không giống nhau, như gieo cây lúa 3 tháng mới đến mùa lúa chín. Trồng cây mít 3 năm mới có quả, trồng cây gỗ 15 - 20 năm sau mới có gỗ được v.v... (sinh báo). Có kẻ xấu ác mà vẫn giàu có an bình ở hiện tại vì còn hưởng được quả lành ở quá khứ. Người lành bị lao đao vì đang phải thọ quả xấu do nhân tạo tác ở quá khứ (hậu báo)…
  7. Nhân quả đối với con người: Luật nhân quả chi phối mọi hiện tượng trong vũ trụ. Trong đó có con người chúng ta. Như mục 4 Đạo Lý Nhân Quả trong duyên sanh - tuần lưu chuyển đổi trong suốt ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai triền miên không dứt.

C. Bài học Nhân Quả

i. Nhân Quả - Vấn đề luân lý đạo đức: giáo lý nhân quả dạy con người thức tỉnh trong các hành động tạo tác của mình để xa lánh các việc ác và nỗ lực làm các việc lành nhằm đem lại sự an vui, thanh bình cho cuộc sống. Giáo lý nhân quả chú trọng đến vấn đề thiện ác, tức là vấn đề luân lý đạo đức của con người nói chung và của hàng Huynh Trưởng nói riêng. Giáo lý nhân quả đặt ra trách nhiệm cá nhân của mỗi con người đối với các điều kiện sống của con người ấy. Chúng ta không thể quy ước giáo lý nhân quả - tức luân lý đạo đức Phật Giáo - theo khuôn mẫu quy ước luật lệ như luật pháp được ban hành trong xã hội. Chẳng hạn, một người phạm tội, luật pháp sẽ trừng phạt người đó khi hành vi phạm tội được xác định - nghĩa là người này đã thực hiện điều tội lỗi. Trong khi, với đạo đức và luân lý, anh ta sẽ có tội ngay khi những ý niệm tội lỗi (xấu ác) phát sinh trong tâm của anh ấy, mặc dù đó chỉ là ý niệm chứ chưa phải là hành vi. Do đó, trách nhiệm cá nhân theo giáo lý nhân quả, ở đây, là trách nhiệm cao nhất đối với thái độ tâm lý đạo đức của mỗi con người, mà không phải là trách nhiệm theo quy ước luật pháp trong xã hội. Mặc dù, trong một số trường hợp, những người khôn ngoan có thể chạy trốn pháp luật, nhưng với luân lý đạo đức, họ không thể chạy trốn lương tâm của chính mình. Vì thế, nếu đứng trên phương diện giáo dục, giáo lý nhân quả thực là một phương pháp giáo dục vô cùng lành mạnh và tích cực. Vì ngay từ đầu, tinh thần nhân quả đã đưa con người về với chính nó. Con người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những tư duy và hành động của chính mình. Hạnh phúc hay khổ đau là do mình tự tạo cho mình. Ở đây không hề có một sự trừng phạt hay ban thưởng nào, cũng không có một giáo điều hay tín lý nào có thể thiết lập trên cơ sở nhân quả của Phật Giáo. Một nền luân lý đạo đức như thế, nhân bản và tích cực như thế, trí tuệ và đầy tình người như thế, nếu được áp dụng vào mỗi con người, gia đình, học đường và xã hội; ắt hẳn sẽ đưa đến một cuộc sống an lạc, hạnh phúc.

ii. Nhân Quả - Khởi điểm của tiến trình giải thoát: Giáo lý nhân quả đặt trọng tâm vào vấn đề thiện-ác, chánh-tà, tốt-xấu v.v..., tức là các vấn đề liên quan đến đời sống đạo đức của con người. Tuy nhiên, đó cũng là điểm khởi đầu của con người để đi vào đạo. Đối với Phật Giáo, sự giác ngộ và giải thoát không chỉ dừng lại ở lĩnh vực nhân quả-thiện ác, mà nó còn đi xa hơn nữa, đó là đi ra khỏi thế giới phân biệt, đối đãi giữa thiện-ác (thực tại giải thoát).

D. Kết luận

Nhân quả - nghiệp báo là pháp duyên sinh, do đó không có lý do gì mà nó tồn tại mãi mãi. Biết nỗ lực tận dụng năng lực của trí tuệ để đạt những chân lý cao thượng. Người Huynh Trưởng chúng ta không nên rơi vào ba cực đoan sai lầm, tà kiến: Chấp đoạn - chấp thường và thuyết số mệnh do Thượng Đế chi phối. Nên nhớ mọi tư duy, suy nghĩ, nói năng và hành động đều tạo nên nhân hay còn gọi là nghiệp nhân hoặc chủng tử. Tất cả đều được tàng chứa vào A Lại Da Thức. Nếu có nhân duyên thuận lợi sẽ phát sanh ra nghiệp quả. Hiểu rõ nhân quả, xây dựng niềm tin trên cơ sở của nhân quả, để từ đó kiến tạo cho mình một đời sống thanh bình, an lạc. Kinh Pháp Cú, Ðức Phật dạy rằng: "Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ tạo tác, đối với ý nhiễm ô, nói năng hay hành động, khổ não bước theo sau, như xe (đi) theo chân vật kéo, đối với ý thanh tịnh, an lạc bước theo sau, như bóng không rời hình".

I. Understand Karma & Fundamental Law of Cause and Effect

Written by Reginal Ray

Karma’s central place in the tradition is shown by the Buddha’s own enlightenment, which consisted of nothing but seeing the full range and extent of karma-that nothing in the universe stands outside karma’s domain. Even the concept of the independent, autonomous “I” we so dearly cherish is nothing but the product of karmic forces. Think of what that means: there can be no such thing as human autonomy, for the very shocking reason that there is no one to be autonomous.

To Westerners, the doctrine of karma can be somewhat off-putting, seeming to be a mechanical law that exacts full payment from us for our moral infractions. Yet Buddhism actually takes the opposite view. Only when we see fully the ramifications of karma that can we understand who we are and why we are here, connect with the warmth and blessing of the world, and experience genuine compassion for other people. Beyond this, to understand that there is no “I”-but only the operation of impersonal karmic forces-is to attain the freedom of complete liberation.

Buddhism highlights two types of karma. The first is the karma of result. This addresses the age-old question of why our life is this way and not some other; it shows us that every aspect of our lives is the result of actions we have performed in the past. This includes our body and its physical condition, our parentage and other elements of our history, current friends and relatives, our overall life situation, our general state of mind, and even the thoughts we think and the emotions we feel.

Nothing is excluded, down to the number of eyelashes we have and the color of our fingernails and whether we are having a good or bad day. All of these come about because of specific actions that we have carried out in the past. They represent what is given in our lives and, as the fruition of past actions, stand beyond our ability to make them other than what they are.

The second type is the karma of cause. This addresses the question of how or even whether we influence the future. It says that every action we perform in the present is going to produce results of some kind further down the road. Our minds and the actions that proceed from them are that powerful.

Everything we do affects the future in ever-widening ripples of cause and effect. If our actions are virtuous, then the karmic results will be positive, whereas if our actions are unvirtuous, the results will be negative. Positive results include fortunate life circumstances, experiences and opportunities, while negative results include various forms of suffering, including poverty, sickness, oppressed circumstances, calamities and so forth.

Positive circumstances are desirable not only because they bring happiness but, more importantly, because they place us in a favorable position to engage in spiritual practice, to change ourselves for the better, and to help others. Negative circumstances are undesirable because, in addition to the pain they bring, they generate outer and inner obstacles to the practice of dharma and make it more difficult to progress along the path.

The teaching on the karma of cause is a powerful one because it calls into question our natural tendency to assume that, as long as we don’t get caught, our actions have no consequences. According to Buddhism, everything we do, even if it’s just spitting in the dust, brings consequences.

Our own intentions in what we do is the key factor in determining whether an action will yield positive or negative results. If we act in a purely selfish, self-serving manner, then the future fruition of that action will be negative. By the same token, if our motivation is to alleviate suffering and bring relief to others, then what we do will bear fruit in positive karmic results. The late Kalu Rinpoche illustrated this point with the traditional story of a daughter who falls into a raging river and is sinking beneath the waves. Her mother jumps in to save her, but in trying to save her daughter, the mother begins to founder. Seeing her mother drowning, the daughter struggles to her side to try to rescue her. In trying to save one another, both mother and daughter perish.

Although the outcome is that both mother and daughter die, Kalu Rinpoche remarked that because the motivation of each is so entirely selfless, each will reap immeasurable meritorious karma as they journey through further rebirths.

Assessing intentions is not always easy because of a natural tendency to hide our actual motivations, not only from others but also from ourselves. Many times we convince ourselves that we are acting generously, only to discover later-perhaps through the feedback of others-that we were, once again, serving ourselves and ignoring others’ needs. According to Buddhism, however, ignorance of our actual motivations is no excuse and does not relieve us of their karmic consequences. Therefore, a crucial part of understanding karma is to become aware of our own intentions so that, to begin with, we know what we are doing.

We create future karma by actions of body, speech and mind. Examples of de-meritorious actions might include killing an animal (body), speaking abusively to another (speech), or fanning the flames of our own jealousy at someone else’s good fortune (mind).

It is perhaps easy to see how the actions of body and speech produce negative karmic waves: if we kill an animal or lash out at someone, we are clearly ignoring the welfare of the other, indulging in our own aggression, and actually causing harm. In so doing, we make ourselves harder and more insensitive, and create confusion and obstacles for them.

But how would the purely mental activity of jealousy produce negative karma? The Dhammapada, one of the earliest Buddhist texts, says that what goes on in the mind is actually the primary determinant of karma. Why? Because whatever negative actions we perform with body or speech first appear in the mind in the form of negative emotions and thoughts. It is not possible to engage in negative actions of body and speech if we have not first entertained negative thoughts and emotions. This means that, as far as karma is concerned, whatever we are doing matters, whether we are acting, speaking, or just thinking.

The Buddhist insistence that there is ultimately no “I” or “self” raises an interesting question: how can there be karmic continuity from life to life? The answer is that every intentional action leaves a karmic imprint on our minds. Most often, the trace is so subtle that we are not aware of it. Yet it remains within us at an inaccessible level of our mind known as the alaya, or “universal unconscious.” From there it continues to influence how we experience things and think about them. It is this subtle consciousness, conditioned by all of our previous karma, that exits the body at death and carries along with it our entire karmic history.

This is possible because, although ultimately there is no self, relatively speaking each of us is defined by a “life-stream” of connected moments (santana). One moment of consciousness, acting as a principal cause, transfers its karmic burden to the next, during our life and at our death. It is our very belief in a “self” that holds this karmic stream intact and enables us to have the illusion of being a separate, discrete person. It is this illusory idea, structured according to our karma, that continues from one lifetime to the next.

II. Cause and Effect

Written by GDPT Viet Nam in the United States

A. Introduction

To Buddhism, we should believe in fundamental law of Cause and Effect - The retribution of karma (Karmavipàka). This theory leads human beings immersing themselves in the reincarnation. Speaking of Cause and Effect - Karmavipàka refers to a process of human artifacts, and thus forming an optimistic life or suffering to everyone; in which every thought and action can be a dynamic resource to create the psychological state of security or insecurity; establish a happy or unhappy life. Of course, throughout the process to work (Cause and Effect - Karmavipàka); human has always played an active role. Buddha taught, without any domination by any one power, by a creator, god, etc. in the process of creation, but only the people and its psychological actions only.

B. Main Contents — I. Definitions

Cause is a causal root, effect is a result. In the world of causal correlation, everything, every phenomenon has its reasons. The cause of an incident (thing) is called cause, and the presence (thing) of the existing incident is called effect. In this causal relationship, every existence is both a cause and a result as the circulation of clouds, rain, water, steam... The primary cause (direct) of an existence is called cause, the secondary cause (indirect) influence to effect called condition (or depending conditions). Therefore, the full phrase is a cause-condition-effect.

II. Content

The causal relationship, there are other conditioning elements (intermediate); so the achievement of a result would depend on the conditions. We should note several points about causation as follows:

  1. Like Cause like Effect: Cause and effect is like object and its shadow. Soy beans to get a bean plant. Make a good cause to get good effect, or vice verse. Cause of killing will shorten your own life span (premature death); miserliness is the result of stingy poverty, giving-away is a result of being rich.
  2. Stand-alone Cause can not produce a Result/Effect: Cause must have sufficient auxiliary elements are called condition to create the new effect is built up to survive and grow. Law of Cause and Effect does not get out of conditions. Buddha taught: "things are created by conditions; they are formed by cause and effect". For example, grains like rice have become good soil, water, humidity appropriate to have the sun and the farmer to complete the work of causal relevance, a new rice seed development and germination wheat dust. In contrast to grain lying on the stone, does not matter how long, it is just a grain of rice and fruit decay cannot be born.
  3. Effect within Cause, Cause within Effect: The rice had the wheat outlook is generated and fed grain in rice seeds are formed.
  4. Cause and Effect in causal conditions: Ignorance (Avidyà) generates Action (Samskàras); Action (Samskàras) generates Consciousness (Vijnàna); Consciousness (Vijnàna) generates Name-form (Nàma-rùpa): Ignorance (Avidyà) and Action (Samskàras) are a cause of the past. Consciousness (Vijnàna) and Name-form (Nàmarùpa) are an effect of the presence and effect in the presence is a cause of the future. Therefore we may conclude Action (Samskàras) is within Ignorance (Avidyà), and Ignorance (Avidyà) is within Action (Samskàras). We will study in details later on.
  5. Simultaneous cause and effect: Cause and effect continuously appear right at present time. For example, such as the drum beat I hear a "Bam"; hit the bell could hear the "Boong".
  6. Cause and effect in different time: Fast or slow is not the same as the rice sowing season of rice three months later to see the result. Jackfruit trees planted three years to fruit, trees planted 15 to 20 years after the new wood and so on, etc. (Life's retribution). There are bad guys but still rich in peace now because they have a good effect of the past. Good people have a suffering life because of bad effects of the past (The retribution received in further incarnation), etc.
  7. Cause and effect to human life: Causal laws are governing all phenomena in the universe, including humans. As Section 4 of fundamental law of causality in the causal conditions - rotation during the three past, present and future are infinity.

C. Causal Lesson

1. Cause and Effect - Ethical issues: Fundamental laws of causation teach humans being conscious of their actions to shun the evil actions and endeavor good works to bring joy and peace to life. Doctrine focuses on causality good and evil, that is moral problem of human beings in general and GDPT Leaders in particular. Causation doctrine set personal responsibility of every human being for his/her living conditions. We cannot conventionalize a doctrine of cause and effect - that is a Buddhist ethics - the conventional pattern as legal rules enacted in society. For example, an offender, the law will punish him when the offense is determined - that is, his sin has done, while, with ethics and morals, he will guilt when notions of sin (evil) incurred in his mind, although that's just the idea, not yet the behavior. Thus, personal liability under the doctrine of cause and effect, here, is the highest responsibility for the mental attitude of every human virtue, which is not responsible under the law of social convention. Although, in some cases, the wise man can run from the law, but with morality, they can not escape his own conscience. So, educational standpoint, a causal method of education is extremely healthy and active. Since the beginning, the causation has brought human being return to him/her own. People must be fully responsible for thinking and acting on their own. Your happiness or suffering is created by yourselves. There is not a punishment or reward that, there is no dogma or doctrine can set on the basis of Buddhist causality. A background as moral, human and so positive, full of wisdom and love, if applied to every individual, family, school and society, it will inevitably lead to a peaceful and happy life.

2. Cause and effect - The beginning of the liberation process: The teaching focused on causal problems good-evil, right-wrong, good-bad, etc. .., that is the problem related to the moral life of humans. However, there is also the starting point of directing people to go on. For Buddhism, the enlightenment and liberation not only in the field of cause and effect - good or bad, but it also goes further, it escapes from the distinguishing world, treated between good-evil (realistic liberation).

D. Conclusion

Cause and effect - karma is a causal condition, so there is no reason that it lasts forever. Know the effort to take advantage of the intellectual capacity to achieve the noble truths. Our GDPT Leaders should not fall into the three extreme wrong: periodic graha, permanent graha and fate is governed by God. Remember that all acknowledging, thinking, talking and acting create a cause so called karma or seed (Hrich). All are contained in Alaya. When causal condition established will produce karmic effect. Understanding the cause and effect, building trust on the basis of causation, from which to create for themselves a life of serenity, peace. In Dhammapada, the Buddha taught that "mind leads all things, mind masters artifact, for the idea of defilement, speaks or acts, suffering is produced, as the cargo is dragged by animal, for the pure-and-clean mind, peace will be produced, as the object with its shadow".

Cả bốn thống nhất về luật. Chỗ khác nhau là ở chỗ làm gì với nó — và một Huynh Trưởng đã đọc cả bốn thì trả lời được nhiều loại câu hỏi hơn.

  • HT Thích Thiện Hoa trả lời câu hỏi của người hoài nghi: “nếu luật công bằng, sao người hiền lại khổ?” Câu trả lời của ngài là thời gian — quả chín sớm hay muộn. Dùng được khi có ai đang tức giận vì thấy đời bất công.
  • Bài của GĐPT trả lời câu hỏi của người Huynh Trưởng: điều này có nghĩa gì với cách tôi cư xử trước mặt các em? Câu trả lời: có lỗi ngay từ lúc ý niệm khởi lên, và không ai chạy trốn được lương tâm mình.
  • Reginald Ray trả lời câu hỏi của người phản biện: nghiệp chẳng qua là một cuốn sổ nợ vũ trụ thôi sao? Câu trả lời của ông là ý định — và hình ảnh người mẹ với người con cùng chết đuối mà vẫn gặt công đức vô lượng nói trọn điều ấy chỉ trong một bức tranh.

Cả bốn bài lấy trọn từ tài liệu khoá học Bậc Trì (BT04 NHÂN QUẢBT04 KARMA), giữ nguyên từng chữ kể cả những chỗ bản gốc viết chưa chuẩn chính tả. Câu Kinh Pháp Cú kết bài là hai bài kệ mở đầu (Dhp 1–2) — đọc trọn bộ ở Kinh Pháp Cú trên trang nhà. Phần Mười Hai Nhân Duyên mà bài II hẹn “sẽ trình bày rõ” không nằm trong tài liệu khoá này.