G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 27.1
Không Phải “Tội Lỗi” — Mà Là Không Dùng Được

Kinh Con Mắt

Cakkhusutta — SN 27.1 · Tương Ưng Phiền Não · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộTương Ưng Phiền Não

Bài kinh này dài đúng bốn câu, và nó nói một điều đổi hẳn cách mình nghĩ về phiền não. Nó KHÔNG gọi lòng ham muốn là tội lỗi. Nó gọi lòng ham muốn là thứ làm hỏngthứ khiến cái tâm KHÔNG DÙNG ĐƯỢC vào việc mà đáng lẽ nó làm được.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Uẩn, chương 27 (Tương Ưng Phiền Não), bài mở đầu; cả chương 10 bài
  • Cả mười bài lặp đúng bốn câu ấy trên mười nhóm khác nhau: sáu căn · sáu trần · sáu thức · sáu xúc · sáu thọ · sáu tưởng · sáu tư · sáu ái · sáu giới · năm uẩn
  • Cùng bộ mười đối tượng với Tương Ưng Nhập (SN 25)hai chương soi cùng một tấm bản đồ từ hai phía
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Trọn bài kinh nằm trong bốn câu. Câu thứ nhất. Dục tham đối với mắt là tùy phiền não của tâm. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý — cũng vậy. Sáu chỗ, không sót chỗ nào. Câu thứ hai. Khi vị Tỳ-kheo đối với sáu chỗ này đoạn tận được tùy phiền não, thì tâm vị ấy HƯỚNG VỀ LY DỤC. Câu thứ ba. Do được biến mãn với ly dục, tâm ấy được xem là KHAM NHẪN — chữ Pāli là kammaniya, nghĩa đen là “dùng được vào việc”, “làm việc được”. Câu thứ tư. Kham nhẫn đối với các pháp cần phải chứng tri. Hết bài. Điều đáng nói nhất nằm ở chữ được chọn. Kinh không nói dục tham là tội, không nói nó xấu xa, không doạ ai về quả báo. Kinh gọi nó là upakkilesa“cái làm hỏng”, “cái bám vào làm dơ”. Và cái bị làm hỏng ấy là gì? Là khả năng làm việc của chính cái tâm. Hình ảnh ẩn dưới chữ kammaniya là hình ảnh vàng của người thợ kim hoàn: vàng còn lẫn tạp chất thì không kéo sợi được, không dát mỏng được, không làm ra món gì được. Không phải vàng ấy xấu — nó chỉ chưa dùng được. Lọc hết tạp chất thì nó mềm ra và làm được mọi thứ. Kinh tạng dùng đúng chữ ấy cho cái tâm. Và xin để ý thứ tự trong câu thứ hai: kinh không bảo phải ép mình ly dục. Kinh nói bỏ được tùy phiền não ở sáu chỗ thì tâm TỰ hướng về ly dục (nekkhammaninnaṁNGHIÊNG về phía ly dục, đúng chữ dòng sông nghiêng về Niết-bàn trong SN 49).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Bài này ngắn nên chúng tôi chép TRỌN.

SN 27.1:1.2–1.7 ⭐ (sáu chỗ)
“Yo, bhikkhave, cakkhusmiṁ chandarāgo, cittasseso upakkileso. Yo sotasmiṁ … ghānasmiṁ … jivhāya … kāyasmiṁ … Yo manasmiṁ chandarāgo, cittasseso upakkileso.
—Này các Tỷ-kheo, dục tham đối với mắt là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với tai … mũi … lưỡi … thân … Dục tham đối với ý là tùy phiền não của tâm.
“Mendicants, desire and greed for the eye, ear, nose, tongue, body, or mind is a corruption of the mind.
SN 27.1:1.8 ⭐ (tâm TỰ hướng về ly dục)
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno imesu chasu ṭhānesu cetaso upakkileso pahīno hoti, nekkhammaninnañcassa cittaṁ hoti.
Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đối với sáu xứ này, đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục.
When a mendicant has given up mental corruption in these six cases, their mind inclines to renunciation.
SN 27.1:1.9 ⭐ (tâm trở nên DÙNG ĐƯỢC)
Nekkhammaparibhāvitaṁ cittaṁ kammaniyaṁ khāyati, abhiññā sacchikaraṇīyesu dhammesū”ti.
Do biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ.
A mind imbued with renunciation is said to be fit for work regarding anything that can be realized by insight.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
upakkilesatùy phiền não — cái bám vào làm hỏngupa (bám vào) + kilesa (làm dơ); KHÔNG phải chữ chỉ “tội”
chandarāgadục thamcùng chữ với SN 41.1cái ách buộc căn với trần
nekkhammaly dục, sự ra khỏinghĩa gốc: ĐI RA, bước ra khỏi
nekkhammaninnaNGHIÊNG về phía ly dụccùng chữ ninna với dòng sông nghiêng về Niết-bàn — xem SN 49
paribhāvitađược biến mãn, được thấm đượmnhư hương thấm vào vải
kammaniyaDÙNG ĐƯỢC VÀO VIỆC, làm việc đượckamma (việc làm) + -niya; chữ của người thợ nói về VÀNG đã lọc sạch
abhiññā sacchikaraṇīyā dhammācác pháp cần phải chứng trinhững điều chỉ tự mình thấy mới biết được

Bốn câu. Và toàn bộ sức mạnh của bài kinh nằm trong MỘT CHỮ.

Chữ ấy KHÔNG phải “tội”, KHÔNG phải “ác”, KHÔNG phải “lỗi”. Chữ ấy là upakkilesa — CÁI BÁM VÀO LÀM HỎNG.

Và cái bị làm hỏng KHÔNG phải cái “lý lịch” của mình. Mà là KHẢ NĂNG LÀM VIỆC của chính cái tâm.

Đó là lý do chữ cuối cùng quan trọng đến vậy: kammaniya — DÙNG ĐƯỢC VÀO VIỆC.

Đó là chữ của người thợ. Xin nghĩ tới VÀNG CÒN LẪN TẠP CHẤT.

Vàng ấy KHÔNG xấu xa gì cả. Nó chỉ KHÔNG KÉO SỢI ĐƯỢC, không dát mỏng được, không làm ra món gì được.

Lọc hết tạp chất ra thì CHÍNH thỏi vàng ấy mềm lại, và làm được mọi thứ. Kinh tạng dùng đúng chữ ấy cho cái tâm.

Cách nói ấy đặt lại toàn bộ chuyện phiền nãovà đặt lại một cách TỬ TẾ.

Kinh không bảo mình là người xấu. Kinh bảo CÁI DỤNG CỤ CỦA MÌNH ĐANG BỊ NGHẼN.

Rồi tới điều thứ hai, và nó nằm ở THỨ TỰ CÁC CÂU.

Kinh KHÔNG nói: hãy ép mình ly dục, rồi tâm sẽ trong.

Kinh nói: khi tùy phiền não ở sáu chỗ ấy được đoạn tận thì tâm TỰ NGHIÊNG về ly dục.

Và chữ “nghiêng” ở đây là ninna — ĐÚNG chữ dùng cho sông Hằng nghiêng về phương Đông trong SN 49. Không ai đẩy dòng sông cả.

Xin thưa lời cuối, và đó là lý do con chọn một bài ngắn như vậy.

Nhiều em nghe Phật pháp như nghe một BẢN DANH SÁCH NHỮNG ĐIỀU MÌNH ĐANG LÀM SAI.

Bài kinh này cho mình một câu khác để nói với các em: “Con không có gì hư hỏng cả. Chỉ có cái gì đó đang cản đường thôi.”

Và câu ấy KHÔNG phải nói cho nhẹ đi. Đó đúng là điều chữ Pāli nói.

  • “Ham muốn là tội lỗi.” Chữ kinh dùng là upakkilesacái làm hỏng. Và cái bị hỏng là khả năng làm việc của cái tâm.
  • “Phải ép mình ly dục trước.” Thứ tự NGƯỢC LẠI: bỏ được tùy phiền não thì tâm TỰ nghiêng về ly dục.
  • “Con mắt là chỗ hỏng.”DỤC THAM đối với con mắtđúng điều SN 41.1 nói bằng hai con bò và cái ách.
  • “Kham nhẫn là chịu đựng giỏi.” Kammaniya nghĩa là DÙNG ĐƯỢC VÀO VIỆCchữ người thợ nói về vàng đã lọc sạch.
  • Ngành Oanh. Một cái ống hút bị nghẹt. Hỏi: “Ống hút này có hư không?”Không hư, chỉ bị nghẹt. Cái tâm cũng vậy.
  • Ngành Thiếu. Kể một thứ tuần này làm đầu óc mình không học nổi, không ngồi yên nổi. Rồi để ý: chuyện ấy không phải chuyện mình hư.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đổi câu mình vẫn nói với các em: từ “con làm vậy là sai” sang “cái đó đang cản đường con”. Bàn xem câu nào giúp em ấy đi tiếp được.
  • Chữ upakkilesa nghĩa là gì, và nó làm hỏng cái gì?
  • Chữ kammaniya nghĩa là gì, và hình ảnh người thợ ẩn dưới nó là gì?
  • Cái nào đến trước — ly dục, hay đoạn tận tùy phiền não?
  • Vì sao chữ “nghiêng về” lại đáng để ý?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên TRỌN bài — bài chỉ có bốn câu nên chép đủ. Cả chương 27 có 10 bài. Một chỗ xin nói rõ vì ba bản chọn chữ khác nhau: kammaniya được HT. Thích Minh Châu dịch là “kham nhẫn”, còn Tỳ-kheo Sujato dịch là “fit for work” (dùng được vào việc). Nghĩa gốc của kamma-niya là “làm việc được”, nên chúng tôi giảng theo nghĩa ấy và giữ nguyên chữ “kham nhẫn” của bản Việt trong phần trích để bác đối chiếu. Hình ảnh vàng của người thợ ở phần giảng là cách chúng tôi diễn ý chữ kammaniya, không phải ví dụ có sẵn trong bài kinh này. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem SN 27.1. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.