G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 41.1
Một Cư Sĩ Giải Được Điều Các Trưởng Lão Còn Cãi

Kinh Kiết Sử

Saṃyojanasutta — SN 41.1 · Tương Ưng Tâm · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộTương Ưng Tâm

Một nhóm Tỳ-kheo trưởng lão bàn với nhau mà không thống nhất được. Một gia chủ đi ngang qua vì công việc nghe chuyện, bước tới, đảnh lễ, rồi giải xong bằng một ví dụ về hai con bò. Và các vị trưởng lão khen ông.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Sáu Xứ, chương 41 (Tương Ưng Tâm), bài mở đầu; cả chương 10 bài
  • Cả chương nói về MỘT NGƯỜI TẠI GIA — gia chủ Citta ở Macchikāsaṇḍa
  • Ông là ai — vị được Đức Phật khen tối thắng trong hàng nam cư sĩ về THUYẾT PHÁP; xem AN 1.250
  • Nơi chốn — rừng Ambāṭaka (rừng xoài) gần Macchikāsaṇḍa
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Một số đông Tỳ-kheo trưởng lão trú ở rừng xoài gần Macchikāsaṇḍa. Sau buổi ăn, đi khất thực về, các vị ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn, và một câu hỏi khởi lên giữa các vị: “Này chư Hiền, ‘kiết sử’ và ‘các pháp bị kiết sử’ — hai pháp này khác nghĩa khác ngôn từ, hay đồng nghĩa mà chỉ khác ngôn từ?” Một số vị trả lời: khác nghĩa, khác ngôn từ. Một số vị trả lời: đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ. Bài kinh ghi lại cả hai bên, không nói bên nào là số đông. Lúc bấy giờ gia chủ Citta đến Migapathaka vì có việc. Ông nghe được câu chuyện ấy, liền đi đến chỗ các vị trưởng lão, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa lại đúng những gì mình nghe được. Các vị xác nhận: “Đúng vậy, này Gia chủ.” Rồi ông nói ý mình — và xin để ý ông nói rất khiêm nhường mà cũng rất dứt khoát: “Bạch chư Thượng tọa, kiết sử và các pháp bị kiết sử: các pháp này là khác nghĩa và cũng khác ngôn từ. Con sẽ nói lên một ví dụ cho quý vị. Ở đây, một số người có trí, nhờ ví dụ hiểu được ý nghĩa lời nói.” Ví dụ của ông: một con bò đực ĐEN và một con bò đực TRẮNG được buộc chung bởi MỘT sợi dây hay một cái ách. Nếu có người nói “con bò đen là kiết sử của con bò trắng, và con bò trắng là kiết sử của con bò đen” — nói vậy có chơn chánh không? Các vị trưởng lão đáp: không. Con bò đen không phải kiết sử của con bò trắng, con bò trắng cũng không phải kiết sử của con bò đen. Cái buộc chúng lại — chính SỢI DÂY, CÁI ÁCH ấy mới là kiết sử. Ông Citta chốt lại: “Cũng vậy, bạch chư Thượng tọa, con mắt không phải là trói buộc của các sắc; các sắc cũng không phải là trói buộc của con mắt. Và ở đây, do duyên cả hai mà khởi lên DỤC THAM nào — dục tham ấy mới chính là trói buộc.” Rồi ông kể đủ sáu căn: tai với tiếng, mũi với hương, lưỡi với vị, thân với xúc, ý với pháp. Các vị trưởng lão đáp lại bằng lời khen mà kinh tạng chỉ dành cho những chỗ rất đặc biệt: “Lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ! Khéo lợi ích thay cho Ông! Vì rằng TUỆ NHÃN của Ông đi vào được lời dạy thâm sâu của đức Phật.”

Ví dụ hai con bòĐặt cạnh sáu căn thì thấy ngay

Vế thứ nhấtVế thứ haiCái TRÓI BUỘC thật sự
Ví dụcon bò đencon bò trắngsợi dây / cái ách buộc hai con lại
Áp vàocon mắt (và tai, mũi, lưỡi, thân, ý)các sắc (và tiếng, hương, vị, xúc, pháp)DỤC THAM khởi lên do duyên cả hai (chandarāga)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 41.1:1.3 (câu hỏi khởi lên giữa các trưởng lão)
“‘saṁyojanan’ti vā, āvuso, ‘saṁyojaniyā dhammā’ti vā ime dhammā nānatthā nānābyañjanā udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
—Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ?
“Reverends, the ‘fetter’ and the ‘things that tighten the fetters’: do these things differ in both meaning and phrasing? Or do they mean the same thing, and differ only in the phrasing?”
SN 41.1:4.2–4.3 (lời mở của ông Citta)
Tena hi, bhante, upamaṁ vo karissāmi. Upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Bạch chư Thượng tọa, con sẽ nói lên một ví dụ cho quý vị. Ở đây, một số người có trí, nhờ ví dụ hiểu được ý nghĩa lời nói.
Well then, sirs, I shall give you a simile. For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said.
SN 41.1:4.4–4.6 ⭐ (hai con bò)
Seyyathāpi, bhante, kāḷo ca balībaddo odāto ca balībaddo ekena dāmena vā yottena vā saṁyuttā assu. Yo nu kho evaṁ vadeyya: ‘kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṁyojanaṁ, odāto balībaddo kāḷassa balībaddassa saṁyojanan’ti, sammā nu kho so vadamāno vadeyyā”ti?
Bạch chư Thượng tọa, ví như một con bò đực đen và con bò đực trắng được dính lại với nhau bởi một sợi dây hay một cái ách. Nếu có người nói: “Con bò đực đen là kiết sử cho con bò đực trắng, và con bò đực trắng là kiết sử cho con bò đực đen”. Nói như vậy có phải là nói một cách chơn chánh không?
Suppose there was a black ox and a white ox yoked by a single harness or yoke. Would it be right to say that the black ox is the yoke of the white ox, or the white ox is the yoke of the black ox?”
SN 41.1:4.7–4.9 ⭐ (các trưởng lão đáp)
“No hetaṁ, gahapati. Na kho, gahapati, kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṁyojanaṁ, napi odāto balībaddo kāḷassa balībaddassa saṁyojanaṁ; yena kho te ekena dāmena vā yottena vā saṁyuttā taṁ tattha saṁyojanan”ti.
—Không phải vậy, này Gia chủ. Con bò đực đen không phải là kiết sử của con bò đực trắng, con bò đực trắng cũng không phải là kiết sử của con bò đực đen. Do sợi dây hay cái ách buộc chúng lại — chính cái ấy ở đấy là kiết sử.
“No, householder. The black ox is not the yoke of the white ox, nor is the white ox the yoke of the black ox. The yoke there is the single harness or yoke that they’re yoked by.”
SN 41.1:4.10–4.11 ⭐ (áp vào sáu căn)
“Evameva kho, bhante, na cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, na rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ; yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo taṁ tattha saṁyojanaṁ.
—Cũng vậy, bạch chư Thượng tọa, con mắt không phải là trói buộc của các sắc; các sắc không phải là trói buộc của con mắt. Và ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham gì, dục tham ấy ở đây chính là trói buộc.
“In the same way, the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.
SN 41.1:4.12–4.18 (đủ sáu căn)
Na sotaṁ saddānaṁ … na ghānaṁ gandhānaṁ … na jivhā rasānaṁ … na kāyo phoṭṭhabbānaṁ … na mano dhammānaṁ saṁyojanaṁ … yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo taṁ tattha saṁyojanan”ti.
Cái tai không phải là trói buộc của các tiếng … Mũi không phải là trói buộc của các hương … Lưỡi không phải là trói buộc của các vị … Thân không phải là trói buộc của các xúc … Ý không phải là trói buộc của các pháp. Các pháp cũng không phải là trói buộc của ý. Và ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham gì, dục tham ấy ở đây chính là trói buộc.
The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.”
SN 41.1:4.19–4.20 ⭐ (lời khen của các trưởng lão)
“Lābhā te, gahapati, suladdhaṁ te, gahapati, yassa te gambhīre buddhavacane paññācakkhu kamatī”ti.
—Lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ! Khéo lợi ích thay cho Ông, này Cư sĩ! Vì rằng tuệ nhãn của Ông tiếp tục (kamati) lời dạy thâm sâu của đức Phật.
“You’re fortunate, householder, so very fortunate, to traverse the Buddha’s deep teachings with the eye of wisdom.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saṁyojanakiết sử, trói buộcnghĩa gốc: cái buộc hai thứ lại với nhau — nên ví dụ cái ách rất sát
saṁyojaniyā dhammācác pháp bị kiết sửtức những thứ BỊ trói, không phải cái trói
chandarāgadục thamcái trói buộc thật sự, theo bài kinh
tadubhayaṁ paṭiccado duyên CẢ HAIkhông do căn, không do trần, mà do cả hai gặp nhau
balībaddabò đựckāḷa = đen; odāta = trắng
dāma · yottasợi dây · cái áchcái buộc hai con bò
upamāví dụông Citta xin phép nói ví dụ trước khi nói
paññācakkhutuệ nhãn — con mắt trí tuệchữ các trưởng lão dùng để khen ông
gahapatigia chủ, người tại gia

Trước khi nói giáo lý, xin nhìn cái CẢNH đã — vì cảnh ấy đã là nửa bài học.

Một nhóm Tỳ-kheo TRƯỞNG LÃO bàn mãi không xong. Kinh ghi lại cả hai bên, không nói bên nào đông hơnkinh tạng không giấu chỗ Tăng chúng chưa thống nhất.

Và người giải được là MỘT CƯ SĨđang đi ngang qua vì công việc làm ăn.

Xin để ý CÁCH ông làm, vì đây là bài học về cách thưa lại với người trên.

Ông ĐẢNH LỄ trước. Ông thuật lại đúng điều mình nghe và xin các vị xác nhận. Rồi mới nói ý mình.

Rồi ông xin phép nói một ví dụ, và câu xin phép ấy rất khéo: “một số người có trí, NHỜ VÍ DỤ hiểu được ý nghĩa lời nói.” Ông đặt các vị vào chỗ “người có trí”, không đặt mình vào chỗ ấy.

Rồi tới ví dụ, và nó gọn vào bậc nhất của kinh tạng.

Một con bò ĐEN và một con bò TRẮNG, buộc chung một cái ách. Con bò đen có phải là dây trói của con bò trắng không?

Ai cũng thấy ngay: KHÔNG. CÁI ÁCH mới là dây trói. Hai con bò chỉ là hai con bò.

Rồi tới chỗ áp dụng, và chỗ ấy đổi hẳn cách hiểu về việc tu.

CON MẮT không phải là trói buộc của các SẮC. Các SẮC cũng không phải là trói buộc của con mắt.

Cái trói buộc là DỤC THAM khởi lên do duyên CẢ HAI.

Nghĩa là chỗ vướng KHÔNG nằm ở thế giới bên ngoài, mà cũng KHÔNG nằm ở các giác quan.

Xin thưa vì sao điều ấy quan trọng: HAI cái sai kia đều rất phổ biến, và cái nào cũng dẫn tới ngõ cụt.

Đổ cho THẾ GIỚI thì mất cả đời loay hoay sắp đặt cho vừa ý. Đổ cho GIÁC QUAN thì thành ra tập không nhìn, không nghevà đó là khổ hạnh vô ích, không phải Phật pháp.

Bài kinh đặt việc tu vào ĐÚNG MỘT CHỖ: cái dục tham khởi lên khi căn và trần gặp nhau. Chỗ ấy không ở ngoài, không ở trong — nó ở chỗ GẶP.

Xin thưa lời cuối, và với một Gia Đình Phật Tử tại gia thì có lẽ đây là điều đáng mừng nhất trong cả kinh tạng.

MỘT NGƯỜI TẠI GIA — một người đang bận chuyện làm ăn — đã đi vào được lời dạy thâm sâu của Đức Phật bằng TUỆ NHÃN. Và chính các vị trưởng lão nói ra điều đó.

  • “Giác quan là chỗ hỏng, phải đóng nó lại.” Kinh nói rõ con mắt KHÔNG phải là trói buộc. Nhắm mắt lại không làm dục tham bớt đi.
  • “Tại hoàn cảnh bên ngoài.” Các sắc cũng KHÔNG phải là trói buộc. Sắp đặt lại thế giới cho vừa ý thì không giải thoát được ai.
  • “Chuyện giáo lý là của người xuất gia.” Ở đây một cư sĩ giải xong, và chính các trưởng lão khen ông.
  • “Ông Citta cãi lại các thầy.” Ông đảnh lễ, thuật lại, xin xác nhận, rồi xin phép nói ví dụcả bài là một mẫu mực về cách thưa lại với người trên.
  • Ngành Oanh. Cho hai em cột chung một sợi dây. Hỏi: “Bạn này có phải là sợi dây của bạn kia không?” Sợi dây là cái nào?
  • Ngành Thiếu. Cho mỗi em kể một thứ mình hay đổ lỗi — một người, cái điện thoại, một chỗ. Rồi hỏi: cái ách nằm ở đâu?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Học CÁCH ông Citta nói ngang với học điều ông nói. Đảnh lễ trước, thuật lại cho đúng, xin xác nhận, rồi mới đưa ví dụ.
  • Các vị trưởng lão bàn không xong điều gì?
  • Trong ví dụ, cái gì đúng là dây trói?
  • Bài kinh đặt việc tu vào chỗ nào?
  • Vì sao “tại giác quan” là một ngõ cụt?
  • Học được gì từ CÁCH ông Citta nói, chứ không chỉ điều ông nói?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên TRỌN bài, và đếm lại đủ SÁU căn ở đoạn 4.10–4.18. Cả chương 41 có 10 bài, tất cả đều về gia chủ Citta. Một chỗ xin ghi rõ: bản Việt dịch saṁyojana khi thì “kiết sử” khi thì “trói buộc” ngay trong cùng một bài — vẫn là một chữ Pāli duy nhất; chúng tôi giữ nguyên chữ của bản Việt ở phần trích và dùng “trói buộc” khi giảng. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem SN 41.1. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.