G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 23.2
Trẻ Con Phá Nhà Cát Khi Đã Hết Thích

Kinh Chúng Sanh

Sattasutta — SN 23.2 · Tương Ưng Rādha · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộTương Ưng Rādha

Tôn giả Rādha hỏi một câu ngắn tới mức gần như câu hỏi của trẻ con: “chúng sanh” là gì? Câu đáp của Đức Phật không nói chúng sanh LÀM BẰNG gì, mà nói chúng sanh ĐANG DÍNH vào đâu — rồi Ngài cho ví dụ dịu dàng nhất mà cũng dữ dội nhất trong kinh tạng.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Uẩn, chương 23 (Tương Ưng Rādha), bài thứ 2; cả chương 46 bài
  • Người hỏi — Tôn giả Rādha, vị được Đức Phật khen là tối thắng về “năng khởi biện tài” (khiến người khác giảng hay) — xem AN 1.233
  • Nên đọc chung với Kinh Vô Ngã Tướng (SN 22.59)Kinh Đáng Được Ăn (SN 22.79)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Tôn giả Rādha ngồi xuống một bên và bạch: “‘Chúng sanh, chúng sanh’, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?” Thế Tôn đáp: “Này Rādha, dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào ĐỐI VỚI SẮC — triền phược ở đấy, triền miên ở đấy — do vậy gọi là chúng sanh.” Rồi lặp lại đủ năm uẩn: thọ, tưởng, các hành, thức. Xin để ý ngay cách trả lời. Câu hỏi là “chúng sanh là gì?” — nghe như hỏi về một vật. Câu đáp lại nói về một CHỖ DÍNH. Chữ Pāli chơi chữ rất khéo: satta vừa nghĩa là “chúng sanh” vừa nghĩa là “bị mắc, bị dính”; và visattadính chặt, mắc kẹt hẳn. Nên câu “tatra satto, tatra visatto, tasmā sattoti vuccati” có thể đọc là: “ở đó nó mắc, ở đó nó kẹt — nên gọi nó là kẻ-mắc-kẹt.” Rồi tới ví dụ. Đức Phật kể chuyện mấy đứa trẻ chơi nhà bằng đất. Chừng nào lòng tham, lòng dục, lòng thương, lòng khát, lòng nhiệt tình, lòng khát ái đối với mấy căn nhà ấy chưa thoát ly, thì chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước mấy căn nhà bằng đất. Nhưng khi nào những thứ ấy đã thoát ly, thì với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi nữa. “Cũng vậy, này Rādha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc” — và đủ năm uẩn như vậy. Câu cuối cùng của bài kinh chỉ có sáu chữ Pāli, và nó gọn tới mức đáng học thuộc: “Taṇhākkhayo hi, rādha, nibbānan”“Vì đoạn tận khát ái, này Rādha, là Niết-bàn.”

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Bài này ngắn nên chúng tôi chép TRỌN.

SN 23.2:1.3–1.4 (câu hỏi)
“‘satto, satto’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, sattoti vuccatī”ti?
—“Chúng sanh, chúng sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?
“Sir, they speak of this thing called a ‘sentient being’. How is a sentient being defined?”
SN 23.2:1.5 ⭐ (câu đáp)
“Rūpe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, tatra satto, tatra visatto, tasmā sattoti vuccati.
—Này Rādha, dục nào (chanda), tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh (sattā).
“Rādha, when you cling, strongly cling, to desire, greed, relishing, and craving for form, then a being is spoken of.
SN 23.2:1.6–1.9 (đủ năm uẩn)
Vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, tatra satto, tatra visatto, tasmā sattoti vuccati.
… thọ … tưởng … các hành … Dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh.
…feeling … perception … choices … consciousness, then a being is spoken of.
SN 23.2:2.1–2.2 ⭐ (mấy căn nhà bằng đất)
Seyyathāpi, rādha, kumārakā vā kumārikāyo vā paṁsvāgārakehi kīḷanti. Yāvakīvañca tesu paṁsvāgārakesu avigatarāgā honti … avigatataṇhā, tāva tāni paṁsvāgārakāni allīyanti keḷāyanti dhanāyanti mamāyanti.
Ví như, này Rādha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Suppose some boys or girls were playing with sandcastles. As long as they’re not rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for those sandcastles, they cling to them, dally with them, treasure them, and treat them as their own.
SN 23.2:2.3 ⭐ (khi đã hết thích)
Yato ca kho, rādha, kumārakā vā kumārikāyo vā tesu paṁsvāgārakesu vigatarāgā honti … vigatataṇhā, atha kho tāni paṁsvāgārakāni hatthehi ca pādehi ca vikiranti vidhamanti viddhaṁsenti vikīḷaniyaṁ karonti.
Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly … lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
But when they are rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for those sandcastles, they scatter, smash, and destroy them with their hands and feet, making them unplayable.
SN 23.2:2.4 (áp vào năm uẩn)
Evameva kho, rādha, tumhepi rūpaṁ vikiratha vidhamatha viddhaṁsetha vikīḷaniyaṁ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
Cũng vậy, này Rādha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
In the same way, you should scatter, smash, and destroy form, making it unplayable. And you should practice for the ending of craving.
SN 23.2:2.9 ⭐ (câu cuối — sáu chữ)
Taṇhākkhayo hi, rādha, nibbānan”ti.
Vì đoạn tận khát ái, này Rādha, là Niết-bàn.
For the ending of craving is extinguishment.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sattachúng sanh — và cũng có nghĩa “bị mắc, bị dính”chỗ chơi chữ của cả bài kinh
visattadính chặt, mắc kẹt hẳntatra satto, tatra visatto = ở đó nó mắc, ở đó nó kẹt
chanda · rāga · nandī · taṇhādục · tham · hỷ · khát áibốn chữ đi liền, chỉ các mức của cùng một sự bám
paṁsvāgārakacăn nhà bằng đất (trẻ con đắp)Sujato dịch sandcastle
vikirati · vidhamati · viddhaṁsetiphá tan · phá vỡ · phá sậpba động từ mạnh, dùng cho tay và chân của trẻ con
vikīḷaniyalàm cho không chơi được nữachữ then chốt: không phải phá cho hết, mà phá cho HẾT CHƠI ĐƯỢC
taṇhākkhayađoạn tận khát ái= Niết-bàn, theo chính câu cuối bài kinh
mamāyaticoi là của mìnhgốc mama = “của tôi”

Xin bắt đầu từ chính câu hỏi. “Chúng sanh là gì?” Hỏi như vậy là hỏi về một VẬT.

Nhưng câu đáp KHÔNG tả một vật. Nó chỉ ra MỘT CHỖ DÍNH. Dục, tham, hỷ, khát ái đối với năm uẩn — mắc ở đó, kẹt ở đó.

Và chữ Pāli ở đây chơi chữ, tiếc là tiếng Việt không mang theo được. Satta vừa là “chúng sanh”, vừa là “kẻ bị mắc”.

Nên câu ấy đọc được thành: “ở đó nó MẮC, ở đó nó KẸT — nên gọi nó là KẺ-MẮC-KẸT.” Cái tên đã là lời chẩn bệnh.

Rồi tới ví dụ. Xin đọc chậm, vì chỗ hay nằm ở điều nó KHÔNG nói.

Mấy đứa trẻ đắp nhà bằng đất. KHÔNG AI bảo chúng đừng chơi. Không ai giảng cho chúng rằng nhà bằng đất là vô thường.

Cái đổi KHÔNG PHẢI là mấy căn nhà. Cái đổi là LÒNG THÍCH.

Và khi lòng thích đã hết thì việc phá RẤT DỄđưa tay đưa chân, phá tan, rồi bỏ đi. Không tiếc, không cần dũng cảm, không phải cố gắng.

Đó chính là phương pháp bài kinh dạy. Kinh KHÔNG bảo mình gồng lên mà dứt bỏ năm uẩn.

Kinh bảo NHÌN cho tới khi hết thíchrồi việc buông xuống nhẹ như một cử chỉ của trẻ con.

Xin để ý chữ dùng cho việc phá: vikīḷaniya — LÀM CHO KHÔNG CHƠI ĐƯỢC NỮA. Không phải xoá sạch năm uẩn — mà làm cho chúng thôi là món đồ chơi.

Và câu cuối, gọn tới mức nên học thuộc: “Taṇhākkhayo hi, rādha, nibbānaṁ”“Đoạn tận khát ái, này Rādha, LÀ Niết-bàn.”

Niết-bàn ở đây KHÔNG được tả như một cõi, một nơi chốn, một trạng thái. Nó được định nghĩa bằng SỰ HẾT của MỘT thứ. Đúng như Tương Ưng Vô Vi sẽ nói lại ba mươi ba lần.

  • “Chúng sanh làm bằng năm uẩn.” Kinh không trả lời chúng sanh LÀM BẰNG gì. Kinh trả lời chúng sanh ĐANG DÍNH ở đâu.
  • “Phải tiêu diệt năm uẩn.” Chữ kinh là vikīḷaniyalàm cho thôi chơi được. Và mấy đứa trẻ chỉ phá SAU KHI đã hết thích.
  • “Buông bỏ là việc rất khó, phải gồng.” Trong ví dụ, việc phá chỉ mất một cái đưa tay đưa chân. Việc khó nằm ở chỗ NHÌN cho tới khi hết thích.
  • “Niết-bàn là một cõi để đi tới.” Câu cuối định nghĩa Niết-bàn là SỰ ĐOẠN TẬN KHÁT ÁIkhông thêm gì khác.
  • Ngành Oanh. Bài kinh này viết sẵn cho các em. Đi biển, đắp nhà cát, rồi tới giờ về thì hỏi: con có tiếc không? Vì sao hồi nãy quý mà bây giờ không?
  • Ngành Thiếu. Cho mỗi em kể một món ba năm trước mê lắm, giờ không màng. Rồi hỏi: ai bắt em thôi mê nó?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về phương pháp: kinh không dạy GỒNG mà dạy NHÌN. Trong việc tu của mình, chỗ nào mình đang làm ngược?
  • Ngài Rādha hỏi gì, và Đức Phật thật ra trả lời điều gì?
  • Chữ satta chơi chữ ra sao?
  • Trong ví dụ, cái gì đổi — mấy căn nhà hay mấy đứa trẻ?
  • Chữ vikīḷaniya nghĩa chính xác là gì?
  • Bài kinh định nghĩa Niết-bàn như thế nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên TRỌN bài — bài ngắn nên chép đủ. Cả chương 23 có 46 bài. Một chỗ xin nói rõ vì ba bản dịch khác nhau: paṁsvāgāraka nghĩa đen là “căn nhà nhỏ bằng ĐẤT”, HT. Thích Minh Châu dịch “nhà bằng đất”, Tỳ-kheo Sujato dịch “sandcastle” (lâu đài cát). Cùng một hình ảnh — thứ trẻ con đắp bằng tay rồi phá bằng chân; chúng tôi giữ chữ của bản Việt và ghi lại chữ của bản Anh. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem SN 23.2. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.