G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 22.79
Tương Ưng Uẩn · Năm Uẩn Định Nghĩa Bằng Chính Việc Chúng Làm

Kinh Đáng Được Ăn

Khajjanīya Sutta — SN 22.79 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Đáng Được Ăn

Ai nhớ được đời sống quá khứ thì tất cả cũng chỉ nhớ đến năm thủ uẩn"cái tôi kiếp trước" cũng chỉ là năm uẩn. Rồi Đức Phật định nghĩa từng uẩn bằng chính việc nó làm.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Uẩn (SN 22), bài 79
  • PhẩmKhajjanīyavagga, "Những Gì Được Ăn"
  • Nơi chốnSāvatthī
  • Chữ khajjati — nghĩa đen là "bị ăn"; Hoà thượng Minh Châu dịch "bị chinh phục". Chúng tôi giữ chữ của Hoà thượng trong trích dẫn và chỉ chú nghĩa đen ở đây.

Kinh "Ðáng Ðược Ăn" (Khajjanīyasutta) nằm trong Tương Ưng Uẩn (SN 22), phẩm "Những Gì Ðược Ăn", được Ðức Phật giảng tại Sāvatthi. Mở đầu, Ðức Phật dạy rằng bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào nhớ lại các đời sống quá khứ, tất cả đều chỉ nhớ đến năm thủ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hoặc một trong năm uẩn ấy — nghĩa là cái gọi là "ta của kiếp trước" cũng chỉ là năm uẩn, không có gì khác. Tiếp đó Ðức Phật định nghĩa từng uẩn bằng chính chức năng của nó: sắc gọi là sắc vì "bị thay đổi" (ruppati) bởi lạnh, nóng, đói, khát, ruồi muỗi, gió, nắng, rắn; thọ gọi là thọ vì "được cảm thọ" lạc, khổ, phi khổ phi lạc; tưởng gọi là tưởng vì "nhận rõ" màu xanh, vàng, đỏ, trắng; hành gọi là hành vì "làm cho hiện hành pháp hữu vi", tạo tác sắc thành sắc, thọ thành thọ…; thức gọi là thức vì "rõ biết" chua, đắng, cay, ngọt, mặn, không mặn. Phần cốt lõi: vị Ða văn Thánh đệ tử quán chiếu "Nay ta bị sắc chinh phục (bị sắc ăn nuốt), quá khứ cũng vậy; nếu hoan hỷ với sắc vị lai thì vị lai cũng sẽ bị sắc chinh phục" — nên không luyến tiếc quá khứ, không hoan hỷ vị lai, thực hành yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với hiện tại; tương tự với thọ, tưởng, hành, thức. Sau đó là đoạn vấn đáp quen thuộc: năm uẩn là vô thường, khổ, biến hoại, nên không thể xem là "của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi". Thấy vậy, Thánh đệ tử nhàm chán, ly tham, giải thoát, biết "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành…". Kinh kết bằng bài kệ chư Thiên và Phạm thiên từ xa đảnh lễ vị Tỷ-kheo tâm giải thoát ấy. Bài học cho đoàn sinh: đừng đi tìm "cái tôi" trong ký ức hay trong thân tâm — chỉ có năm uẩn đang vận hành; buông được chấp thủ năm uẩn là con đường an vui.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nhớ đời quá khứ chỉ là nhớ năm thủ uẩn — Sāvatthinidānaṁ. Mọi Sa-môn, Bà-la-môn nhớ đến các đời trước đều chỉ nhớ đến năm thủ uẩn hoặc một trong các uẩn ấy: 'Trong quá khứ, thân ta như thế này' → nhớ sắc; tương tự thọ, tưởng, hành, thức. (đoạn 1)
  • 2. Ðịnh nghĩa sắc — bị thay đổi (ruppati) — Bị thay đổi nên gọi là sắc: bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. (đoạn 2)
  • 3. Ðịnh nghĩa thọ — được cảm thọ (vedayati) — Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. (đoạn 3)
  • 4. Ðịnh nghĩa tưởng — nhận rõ (sañjānāti) — Nhận rõ màu xanh, vàng, đỏ, trắng. (đoạn 4)
  • 5. Ðịnh nghĩa hành — làm cho hiện hành pháp hữu vi — Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, các hành với hành tánh, thức với thức tánh. (đoạn 5)
  • 6. Ðịnh nghĩa thức — rõ biết (vijānāti) — Rõ biết chua, đắng, cay, ngọt, chất kiềm, không phải chất kiềm, mặn, không mặn. (đoạn 6)
  • 7. Quán chiếu 'bị năm uẩn chinh phục' (khajjati) trong ba thời — Với sắc (đoạn 7), thọ (đoạn 8), tưởng và hành (đoạn 9), thức (đoạn 10): không luyến tiếc quá khứ, không hoan hỷ vị lai, thực hành yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với hiện tại.
  • 8. Vấn đáp vô thường – khổ – vô ngã — Sắc… thức là thường hay vô thường? Vô thường, khổ, biến hoại, nên không hợp lý khi quán 'Cái này là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi'. Kết luận: tất cả năm uẩn, quá khứ vị lai hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đều phải như thật quán với chánh trí tuệ. (đoạn 11)
  • 9. Thánh đệ tử giảm thiểu, từ bỏ, xa lánh, phân tán — Giảm thiểu không tăng trưởng; từ bỏ không chấp thủ; xa lánh không thân cận; phân tán không huân tập — đối với cả năm uẩn. (đoạn 12)
  • 10. Nhàm chán – ly tham – giải thoát — Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát, và trí khởi lên: 'Ta đã được giải thoát'; biết rõ 'Sanh đã tận…'. (đoạn 13)
  • 11. Vị Tỷ-kheo đã an trú sau khi giảm thiểu — Không tăng trưởng cũng không giảm thiểu, mà an trú sau khi đã giảm thiểu; tương tự với từ bỏ, xa lánh, phân tán, đối với cả năm uẩn. (đoạn 14)
  • 12. Bài kệ chư Thiên đảnh lễ — Vị Tỷ-kheo tâm giải thoát được chư Thiên với Thiên chủ, Phạm thiên chúng với Phạm thiên đảnh lễ dầu cho ở xa, bằng bài kệ 'Ôi, ta đảnh lễ Ông…'. (đoạn văn chư Thiên đảnh lễ là sn22.79:14, tức Vi-n 37; bài kệ là sn22.79:15, tức Vi-n 38)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 22.79, đoạn 1 (Vi-n 3)
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussaramānā anussaranti sabbete pañcupādānakkhandhe anussaranti etesaṁ vā aññataraṁ.
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ đều nhớ đến năm thủ uẩn hay nhớ đến một trong những uẩn này.
Mendicants, whatever ascetics and brahmins recollect many kinds of past lives, all recollect the five grasping aggregates, or one of them.
SN 22.79, đoạn 2 (Vi-n 5)
Kiñca, bhikkhave, rūpaṁ vadetha? Ruppatīti kho, bhikkhave, tasmā 'rūpan'ti vuccati. Kena ruppati? Sītenapi ruppati, uṇhenapi ruppati, jighacchāyapi ruppati, pipāsāyapi ruppati, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassenapi ruppati.
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc.
And why do you call it form? It's deformed; that's why it's called 'form'. Deformed by what? Deformed by cold, heat, hunger, and thirst, and deformed by the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles.
SN 22.79, đoạn 3 (Vi-n 6)
Kiñca, bhikkhave, vedanaṁ vadetha? Vedayatīti kho, bhikkhave, tasmā 'vedanā'ti vuccati. Kiñca vedayati? Sukhampi vedayati, dukkhampi vedayati, adukkhamasukhampi vedayati.
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.
And why do you call it feeling? It feels; that's why it's called 'feeling'. And what does it feel? It feels pleasure, pain, and neutral.
SN 22.79, đoạn 4 (Vi-n 7)
Kiñca, bhikkhave, saññaṁ vadetha? Sañjānātīti kho, bhikkhave, tasmā 'saññā'ti vuccati. Kiñca sañjānāti? Nīlampi sañjānāti, pītakampi sañjānāti, lohitakampi sañjānāti, odātampi sañjānāti.
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.
And why do you call it perception? It perceives; that's why it's called 'perception'. And what does it perceive? It perceives blue, yellow, red, and white.
SN 22.79, đoạn 6 (Vi-n 9)
Kiñca, bhikkhave, viññāṇaṁ vadetha? Vijānātīti kho, bhikkhave, tasmā 'viññāṇan'ti vuccati. Kiñca vijānāti? Ambilampi vijānāti, tittakampi vijānāti, kaṭukampi vijānāti, madhurampi vijānāti, khārikampi vijānāti, akhārikampi vijānāti, loṇikampi vijānāti, aloṇikampi vijānāti.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm … rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức.
And why do you call it consciousness? It cognizes; that's why it's called 'consciousness'. And what does it cognize? It cognizes sour, bitter, pungent, sweet, hot, mild, salty, and bland.
SN 22.79, đoạn 7 (Vi-n 10)
Tatra, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: 'ahaṁ kho etarahi rūpena khajjāmi. Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva rūpena khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena rūpena khajjāmi. Ahañceva kho pana anāgataṁ rūpaṁ abhinandeyyaṁ, anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva rūpena khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena rūpena khajjāmī'ti. So iti paṭisaṅkhāya atītasmiṁ rūpasmiṁ anapekkho hoti; anāgataṁ rūpaṁ nābhinandati; paccuppannassa rūpassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Nay ta bị sắc chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục, như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục". Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại.
A learned noble disciple reflects on this: 'Currently I'm bitten by form. In the past I was also bitten by form just like now. If I were to look forward to enjoying form in the future, I'd be bitten by form in the future just as I am today.' Reflecting like this they are not concerned with past form, they don't look forward to enjoying future form, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present form.
SN 22.79, đoạn 11 (Vi-n 21)
Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ: 'netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā'ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng … xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
So you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: 'This is not mine, I am not this, this is not my self.'
SN 22.79, đoạn 13 (Vi-n 31)
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. 'Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā'ti pajānāti.
Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they're freed. When they're freed, they know they're freed. They understand: 'Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.'
Chữ PāliNghĩaGhi chú
khajjati / Khajjanīyabị ăn, bị gặm nhấm; HT. Thích Minh Châu dịch "bị chinh phục", tên kinh dịch "Ðáng Ðược Ăn"Sujato dịch "bitten by" — hình ảnh năm uẩn ăn nuốt, gặm nhấm con người.
pañcupādānakkhandhānăm thủ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức bị chấp thủ)
rūpa / ruppatisắc / bị thay đổi, bị hư hoạiKinh định nghĩa sắc bằng chính động từ ruppati (bị biến đổi).
vedanā / vedayatithọ / cảm thọ
saññā / sañjānātitưởng / nhận rõ, nhận biết dấu hiệu
saṅkhārā / saṅkhatamabhisaṅkharontihành / làm cho hiện hành pháp hữu vi
viññāṇa / vijānātithức / rõ biết
pubbenivāsānussatinhớ lại các đời sống quá khứ (túc mạng)
anicca – dukkha – anattāvô thường – khổ – vô ngã
netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attāCái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi
nibbidā – virāga – nirodhayếm ly (nhàm chán) – ly tham – đoạn diệt
ariyasāvaka / sutavā ariyasāvakoThánh đệ tử / vị Ða văn Thánh đệ tử
Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁSanh đã tận, Phạm hạnh đã thành
purisājañña / purisuttamabậc người như lương mã (thuần chủng) / bậc tối thắng nhân

Câu mở đầu đã cắt đứt một chỗ bám rất sâu. Người ta hay nghĩ nhớ được kiếp trước là gặp lại "cái tôi" cũ. Đức Phật nói: tất cả những vị nhớ được, đều chỉ nhớ đến năm thủ uẩnkhông ai gặp được cái gì khác.

Rồi tới phần hay nhất: định nghĩa bằng chức năng. Kinh không định nghĩa uẩn là "cái gì"định nghĩa bằng "nó làm gì". Đây là lối định nghĩa rất đặc trưng của kinh tạng.

Sắc gọi là sắc vì nó bị thay đổi (ruppati) — bởi lạnh, nóng, đói, khát, ruồi muỗi, gió, nắng, rắn. Xin để ý: đó là danh sách những thứ rất tầm thường. Sắc không cần đại nạn mới đổi.

Thọ gọi là thọ vì nó được cảm thọ (vedayati): lạc, khổ, phi khổ phi lạc.

Tưởng gọi là tưởng vì nó nhận rõ (sañjānāti): xanh, vàng, đỏ, trắng. Thức gọi là thức vì nó rõ biết (vijānāti): chua, đắng, cay, ngọt, mặn, không mặn.

Hành thì đặc biệt hơn cả. Hành gọi là hành vì nó làm cho hiện hành pháp hữu vitạo tác sắc thành sắc, thọ thành thọ… Nghĩa là hành là cái làm cho các uẩn kia "thành ra" như chúng đang là.

Rồi tới chữ đặt tên cho bài kinh. Vị Thánh đệ tử quán: "Nay ta bị sắc ăn nuốt; quá khứ cũng vậy; nếu hoan hỷ với sắc vị lai thì vị lai cũng sẽ bị sắc ăn nuốt." Ta tưởng ta đang hưởng năm uẩn — kinh nói năm uẩn đang ăn ta.

Từ đó ra ba thái độ với ba thời. Không luyến tiếc quá khứ, không hoan hỷ vị lai, thực hành yếm ly ly tham đoạn diệt với hiện tại. Gọn và đủ.

Kinh kết bằng một hình ảnh rất đẹp. Vị Tỷ-kheo tâm giải thoát ấy được chư Thiên với Thiên chủ, Phạm thiên chúng với Phạm thiên đảnh lễ — dầu cho ở xa.

  • "Nhớ được kiếp trước là biết mình là ai." Kinh nói chỉ nhớ được năm uẩn.
  • "Ta hưởng thụ năm uẩn." Kinh lật ngược: năm uẩn ăn ta.
  • "Sắc là thân thể." Kinh định nghĩa sắc bằng tính bị thay đổi, không bằng hình dáng.
  • Ngành Oanh. Hỏi: cái gì làm thân em thay đổi? — nóng, lạnh, đói, muỗi cắn.
  • Ngành Thiếu. Cho các em tự định nghĩa năm uẩn bằng việc chúng làm.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm Kinh Vô Ngã Tướng.
  • Người nhớ được đời trước thật ra nhớ gì?
  • Vì sao sắc được gọi là sắc?
  • Hành làm công việc gì?
  • “Bị năm uẩn ăn nuốt” nghĩa là sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.