"about": { "@type": "Thing", "name": "Parinibbāna · Theravāda Buddhism" }, "isPartOf": { "@type": "Book", "name": "Dīgha Nikāya", "url": "https://www.gdpthuyenquang.com/kinh/truong-bo.html" }, "publisher": { "@type": "Organization", "name": "Gia Đình Phật Tử Huyền Quang", "url": "https://www.gdpthuyenquang.com/" } }
G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 18
Trường Bộ · Lời Nhắn Từ Cõi Trời

Kinh Xa-Ni-Sa

Janavasabha Sutta — DN 18 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Xa-Ni-Sa

Tôn giả Ānanda áy náy: Đức Phật đã nói rõ chỗ tái sanh của cư sĩ nhiều xứ, mà chưa hề nói tới người xứ Magadha — kể cả vua Bimbisāra, vị đại thí chủ của Ngài. Câu trả lời trở lại bằng một giọng nói không ai ngờ: “Bạch Thế Tôn, con là Bimbisāra.”

  • Bộ — Trường Bộ, bài 18, thuộc Đại Phẩm.
  • NơiÑātika, tại ngôi nhà gạch (giñjakāvasatha).
  • Nhân vật chínhJanavasabha, chính là vua Seniya Bimbisāra nước Magadha, nay là một vị Dạ-xoa trong hàng của Đại vương Vessavaṇa.
  • Điểm đặc sắc — lời pháp đi qua một chuỗi truyền mà chính bài kinh kể ra ở đoạn kết: Phạm thiên → Vessavaṇa → Janavasabha → Đức Phật → Ānanda → bốn chúng.
  • Liên hệ — đoạn mở đầu về cư sĩ Ñātika trùng với đoạn “Gương Chánh Pháp” trong Kinh Đại Bát Niết-Bàn (DN 16).

Đức Phật trú ở Ñātika, trong ngôi nhà gạch. Bấy giờ Ngài đang nói về chỗ tái sanh của các cư sĩ đã mệnh chung khắp các xứ — Kāsi, Kosala, Vajji, Malla, Ceti, Vaṁsa, Kuru, Pañcāla, Maccha, Sūrasena. Riêng ở Ñātika, Ngài nói: hơn năm mươi vị đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, hoá sanh và nhập Niết-bàn tại đó; hơn chín mươi vị chứng Nhất lai; hơn năm trăm vị chứng Dự lưu. Dân Ñātika nghe vậy thì hoan hỷ, phấn khởi. Tôn giả Ānanda nghe chuyện ấy rồi suy nghĩ một mình: còn người xứ Magadha thì sao? Họ đông, họ theo Phật đã lâu, mà “cứ như thể Aṅga và Magadha không có một cư sĩ nào mệnh chung cả!” Và nhất là vua Seniya Bimbisāra — vị vua trị vì như pháp, làm lợi ích cho Bà-la-môn, gia chủ, dân thành thị lẫn thôn quê; dân chúng đến nay còn hát: “Vị vua như pháp ấy, người đã làm chúng ta an vui, nay đã mệnh chung. Sống dưới quyền vua ấy thật là hạnh phúc.” Người ta còn kể: “Cho đến khi chết, vua Bimbisāra vẫn tán thán Thế Tôn.” Vậy mà Đức Phật chưa nói gì. Sáng sớm hôm sau, Tôn giả Ānanda đem trọn nỗi băn khoăn ấy bạch Phật rồi lui ra. Đức Phật đi khất thực ở Ñātika, ăn xong, rửa chân, vào nhà gạch, tác ý và chú tâm đến chỗ tái sanh của cư sĩ Magadha, “Ta sẽ biết sanh thú của họ, đời sau của họ thế nào.”Ngài đã thấy. Chiều đến, Ngài ra ngồi dưới bóng hiên nhà gạch. Tôn giả Ānanda tới, thấy dung sắc Ngài thanh tịnh, sáng suốt, bèn thưa: “Bạch Thế Tôn, hôm nay Thế Tôn an trú trong một cảnh giới tịch tịnh nào chăng?” Đức Phật thuật lại: khi Ngài đang tác ý như vậy thì có tiếng nói cất lên mà không thấy hình: “Con là Janavasabha, bạch Thế Tôn! Con là Janavasabha, bạch Thiện Thệ!” Đức Phật hỏi Ānanda có bao giờ nghe cái tên ấy chưa. Tôn giả đáp chưa, “nhưng khi nghe danh hiệu ấy, con rởn tóc gáy: đây hẳn không phải một Dạ-xoa tầm thường mới mang một tên cao quý như thế.” Rồi hình hiện ra, và tiếng gọi lần thứ hai đổi tên: “Con là Bimbisāra, bạch Thế Tôn!” Vị ấy kể: đây là lần thứ bảy con sanh làm thuộc hạ Đại vương Vessavaṇa; chết ở đây con có thể làm vua loài người. Bảy từ đây, bảy từ kia — cộng lại mười bốn đời. Con biết từ lâu rằng con không còn đọa ác thú, nhưng con vẫn mong chứng quả Nhất lai. Nhờ đâu mà biết? — “Không do ai khác, chỉ do lời dạy của Thế Tôn. Từ ngày con có lòng tin bất động nơi Phật, con biết như vậy.” Phần lớn còn lại của bài kinh là chuyện Janavasabha nghe được ở cõi trời. Vào ngày rằm Bố-tát đầu mùa mưa, chư Thiên Tam Thập Tam họp tại Thiện Pháp đường; bốn vị Đại Thiên Vương ngồi bốn phương: Dhataraṭṭha phương Đông, Virūḷhaka phương Nam, Virūpakkha phương Tây, Vessavaṇa phương Bắc. Chư Thiên mới sanh — những vị từng sống phạm hạnh dưới lời dạy của Đức Phậtchói sáng hơn hẳn các vị khác. Chư Thiên hoan hỷ reo: “Thiên chúng tăng thịnh, A-tu-la chúng giảm thiểu!” Rồi phương Bắc hiện hào quang lớn. Thiên chủ Sakka bảo: đó là điềm Phạm thiên sắp hiện. Phạm thiên Sanaṅkumāra hiện ra dưới hình đồng tử Pañcasikha, ngồi kiết-già giữa hư không. Kinh tả tiếng nói của Phạm thiên có tám đức: lưu loát, dễ hiểu, êm tai, nghe rõ, sung mãn, không tán loạn, thâm sâu, vang động — và tiếng ấy chỉ vang trong hội chúng, không ra ngoài. Phạm thiên hoá ra ba mươi ba thân, ngồi trên chỗ ngồi của từng vị Thiên, rồi giảng. Bốn điều được nhắc lại nguyên văn: Một — bốn Thần túc (dục, tinh tấn, tâm, tư duy định cần hành). Phạm thiên hỏi thẳng: “Chư vị có thấy thần lực nơi tôi không?” — “Thưa có.” — “Chính ta cũng nhờ tu bốn Thần túc này mà được như vậy.” Hai — ba con đường mở ra an lạc (tayo okāsādhigamā): (1) người sống lẫn lộn với dục và pháp bất thiện, nghe Thánh pháp, như lý tác ý, hành đúng pháp, rồi sống viễn ly — sanh lạc và hơn cả lạc; (2) người có thân hành, khẩu hành, ý hành thô chưa lắng, nay lắng xuống; (3) người không biết rõ thiện – bất thiện, nay biết như thật, vô minh diệt, minh sanh. Ba — bốn Niệm xứ, với một điểm ít gặp: quán bên trong trước, chánh định rồi mới sanh tri kiến về bên ngoài — thân, thọ, tâm, pháp. Bốn — bảy định cụ (satta samādhiparikkhārā): chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Nhất tâm có đủ bảy chi ấy làm tư trợ thì gọi là Thánh chánh định. Và một chuỗi nhân sanh: chánh tri kiến sanh chánh tư duy… chánh niệm sanh chánh định, chánh định sanh chánh trí, chánh trí sanh chánh giải thoát. Rồi Phạm thiên công bố con số: hơn hai trăm bốn mươi vạn cư sĩ Magadha đã mệnh chung, đoạn ba kiết sử, chứng Dự lưu; lại có những vị Nhất lai. Còn số người dự phần công đức thì “không thể ước lượng được — con sợ nói lời vọng ngữ.” Bài kinh khép lại bằng chuỗi truyền: Phạm thiên Sanaṅkumāra nói cho chư Thiên Tam Thập Tam nghe; Đại vương Vessavaṇa nghe rồi nói lại cho hội chúng mình; Dạ-xoa Janavasabha nghe rồi thưa lại Đức Phật; Đức Phật — vừa nghe từ Janavasabha, vừa tự mình biết — nói lại cho Tôn giả Ānanda; Tôn giả Ānanda nói lại cho Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ. “Và như vậy phạm hạnh này được hưng thịnh, quảng bá, rộng rãi, được nhiều người biết đến, cho đến chư Thiên và loài Người.”

Bố cục bài kinhChín phần theo tên trong ấn bản Mahāsaṅgīti

  • 1. Nātikiyādibyākaraṇa — Nói về chỗ tái sanh (đoạn 1–3) — Ở Ñātika: hơn 50 Bất lai · hơn 90 Nhất lai · hơn 500 Dự lưu.
  • 2. Ānandaparikathā — Nỗi băn khoăn của Tôn giả Ānanda (đoạn 4–8) — Vì sao chưa nói tới người Magadha, và tới vua Bimbisāra?
  • 3. Janavasabhayakkha — Dạ-xoa Janavasabha (đoạn 9–11) — Tiếng nói không hình; rởn tóc gáy; rồi “Con là Bimbisāra”; bảy đời từ đây, bảy đời từ kia — mười bốn.
  • 4. Devasabhā — Buổi họp chư Thiên (đoạn 12–15)Thiện Pháp đường; bốn Đại Thiên Vương ngồi bốn phương; kệ của Thiên chủ Sakka.
  • 5. Sanaṅkumārakathā — Phạm thiên Sanaṅkumāra (đoạn 16–21) — Hiện dưới hình đồng tử Pañcasikha; tiếng nói có tám đức; hoá ba mươi ba thân.
  • 6. Bhāvitaiddhipāda — Bốn Thần túc (đoạn 22)Dục · Tinh tấn · Tâm · Tư duy, mỗi thứ có định và cần hành.
  • 7. Tividhaokāsādhigama — Ba con đường mở ra an lạc (đoạn 23–25)Ba, đếm lại đúng ba.
  • 8. Catusatipaṭṭhāna — Bốn Niệm xứ (đoạn 26) — Quán bên trong trước, rồi sanh tri kiến về bên ngoài.
  • 9. Sattasamādhiparikkhāra — Bảy định cụ (đoạn 27–29)Bảy chi làm tư trợ cho chánh định; con số 2.400.000; và chuỗi truyền khép bài.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 18.1
(dn18:1.5–1.7)
Paropaññāsa nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. Sādhikā navuti… sakadāgāmino… Sātirekāni pañcasatāni… sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā.
Hơn năm mươi cư sĩ ở Ñātika đã mệnh chung, đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hoá sanh, nhập Niết-bàn tại đó, không còn trở lui đời này nữa. Hơn chín mươi vị… chứng quả Nhất lai. Hơn năm trăm vị… chứng quả Dự lưu, không còn đọa ác thú, chắc chắn đạt đến chánh giác.
Over fifty devotees in Ñātika have passed away having ended the five lower fetters… More than ninety… are once-returners… More than five hundred… are stream-enterers, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.
DN 18.4
(dn18:4.12)
‘yāva maraṇakālāpi rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavantaṁ kittayamānarūpo kālaṅkato’ti.
Người ta nói: “Cho đến khi mệnh chung, vua Seniya Bimbisāra nước Magadha vẫn tán thán Thế Tôn.”
People say: ‘Until his dying day, King Bimbisāra sang the Buddha’s praises!’
DN 18.9
(dn18:9.9–9.11)
“Na kho ahaṁ, bhante, abhijānāmi ito pubbe evarūpaṁ nāmadheyyaṁ sutaṁ yadidaṁ janavasabhoti, api ca me, bhante, lomāni haṭṭhāni ‘janavasabho’ti nāmadheyyaṁ sutvā… ‘na hi nūna so orako yakkho bhavissati yadidaṁ evarūpaṁ nāmadheyyaṁ supaññattaṁ yadidaṁ janavasabho’”ti.
Bạch Thế Tôn, con chưa từng nghe danh hiệu ấy. Nhưng khi nghe tiếng “Janavasabha”, con rởn tóc gáy và nghĩ: đây hẳn không phải là một Dạ-xoa tầm thường mới mang một danh hiệu như vậy.
“No, worthy sir. But when I heard the word, I got goosebumps! I thought, ‘This must be no ordinary spirit to bear such an exalted name as Janavasabha.’”
DN 18.10
(dn18:10.3–10.10)
‘Bimbisāro ahaṁ, bhagavā; bimbisāro ahaṁ, sugatā’ti. Idaṁ sattamaṁ kho ahaṁ, bhante, vessavaṇassa mahārājassa sahabyataṁ upapajjāmi… Ito satta tato satta, saṁsārāni catuddasa… Dīgharattaṁ kho ahaṁ, bhante, avinipāto avinipātaṁ ājānāmi; āsā ca pana me santiṭṭhati sakadāgāmitāya.
“Bạch Thế Tôn, con là Bimbisāra! Bạch Thiện Thệ, con là Bimbisāra!” Ðây là lần thứ bảy con sanh vào chúng của Đại vương Vessavaṇa… Bảy từ đây, bảy từ kia — luân chuyển mười bốn đời. Ðã lâu con biết con không còn đọa ác thú; nhưng con vẫn còn mong ước chứng quả Nhất lai.
‘I am Bimbisāra, Blessed One! I am Bimbisāra, Holy One! This is the seventh time I am reborn in the company of the Great King Vessavaṇa… Seven from here, seven from there—fourteen transmigrations in all. For a long time I’ve known that I won’t be reborn in the underworld, but that I still hope to become a once-returner.’
DN 18.11
(dn18:11.1–11.2)
‘Na aññatra, bhagavā, tava sāsanā, na aññatra, sugata, tava sāsanā; yadagge ahaṁ, bhante, bhagavati ekantikato abhippasanno, tadagge ahaṁ, bhante, dīgharattaṁ avinipāto avinipātaṁ sañjānāmi, āsā ca pana me santiṭṭhati sakadāgāmitāya.
Bạch Thế Tôn, không do ai khác, chỉ do lời dạy của Thế Tôn, chỉ do lời dạy của Thiện Thệ. Từ ngày con có lòng tin bất động nơi Thế Tôn, từ ngày ấy con biết con không còn đọa ác thú.
‘None other than the Blessed One’s instruction! From the day I had absolute devotion to the Buddha I have known that I won’t be reborn in the underworld.’
DN 18.12
(dn18:12.10–12.11)
‘Dibbā vata bho kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā’ti.
Thiên chúng được tăng thịnh, còn A-tu-la chúng bị giảm thiểu!
“The heavenly hosts swell, while the titan hosts dwindle!”
DN 18.19
(dn18:19.2–19.3)
imamatthaṁ, bhante, brahmuno sanaṅkumārassa bhāsato aṭṭhaṅgasamannāgato saro hoti vissaṭṭho ca viññeyyo ca mañju ca savanīyo ca bindu ca avisārī ca gambhīro ca ninnādī ca. Yathāparisaṁ kho pana, bhante, brahmā sanaṅkumāro sarena viññāpeti; na cassa bahiddhā parisāya ghoso niccharati.
Tiếng nói của Phạm thiên Sanaṅkumāra có tám đặc điểm: lưu loát, dễ hiểu, êm tai, nghe rõ, sung mãn, không tán loạn, thâm sâu và vang động. Phạm thiên khiến hội chúng nghe rõ tiếng mình, nhưng tiếng ấy không vang ra ngoài hội chúng.
And while he was speaking on that topic, his voice had eight qualities: it was clear, comprehensible, charming, audible, lucid, undistorted, deep, and resonant. He makes sure his voice is intelligible as far as the assembly goes, but the sound doesn’t extend outside the assembly.
DN 18.27
(dn18:27.8)
Sammādiṭṭhissa, bho, sammāsaṅkappo pahoti, sammāsaṅkappassa sammāvācā pahoti, sammāvācassa sammākammanto pahoti. Sammākammantassa sammāājīvo pahoti, sammāājīvassa sammāvāyāmo pahoti, sammāvāyāmassa sammāsati pahoti, sammāsatissa sammāsamādhi pahoti, sammāsamādhissa sammāñāṇaṁ pahoti, sammāñāṇassa sammāvimutti pahoti.
Chư Thiện hữu, chánh tri kiến sanh chánh tư duy; chánh tư duy sanh chánh ngữ; chánh ngữ sanh chánh nghiệp; chánh nghiệp sanh chánh mạng; chánh mạng sanh chánh tinh tấn; chánh tinh tấn sanh chánh niệm; chánh niệm sanh chánh định; chánh định sanh chánh trí; chánh trí sanh chánh giải thoát.
Right view produces right purpose. Right purpose produces right speech… Right mindfulness produces right immersion. Right immersion produces right knowledge. Right knowledge produces right freedom.
DN 18.27
(dn18:27.12)
…sātirekāni catuvīsatisatasahassāni māgadhakā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā.
…hơn hai trăm bốn mươi vạn vị cư sĩ ở Magadha đã mệnh chung, đều diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, không còn đọa vào ác thú, chắc chắn đạt đến chánh giác.
…more than 2,400,000 such Magadhan devotees have passed away having ended three fetters. They’re stream-enterers, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.
DN 18.29
(dn18:29.3–29.4)
Imamatthaṁ bhagavā janavasabhassa yakkhassa sammukhā sutvā sammukhā paṭiggahetvā sāmañca abhiññāya āyasmato ānandassa ārocesi, imamatthamāyasmā ānando bhagavato sammukhā sutvā sammukhā paṭiggahetvā ārocesi bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ. Tayidaṁ brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitanti.
Thế Tôn nghe điều ấy từ Dạ-xoa Janavasabha, và cũng tự mình thắng tri, rồi nói lại cho Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda nghe từ Thế Tôn rồi nói lại cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ. Và như vậy phạm hạnh này được hưng thịnh, quảng bá, rộng rãi, được nhiều người biết đến, cho đến chư Thiên và loài Người.
And the Buddha, having heard and learned it in the presence of the spirit Janavasabha, and also from his own direct knowledge, informed Venerable Ānanda. And Venerable Ānanda… informed the monks, nuns, laymen, and laywomen. And that’s how this spiritual life has become successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
Janavasabha“Ngưu chúa của loài người” — tên vị Dạ-xoaChính là vua Bimbisāra. Bản Việt phiên là Xa-ni-sa.
Seniya Bimbisāravua nước MagadhaVị vua cúng vườn Trúc Lâm cho Tăng đoàn; bị con là Ajātasattu hại chết (xem DN 2).
sotāpanna · sakadāgāmī · anāgāmīDự lưu · Nhất lai · Bất laiBa trong bốn quả Thánh. Ở Ñātika: hơn 500 · hơn 90 · hơn 50.
catuvīsatisatasahassānihai trăm bốn mươi vạn = 2.400.000Đã cộng lại: 24 × 100 × 1.000 = 2.400.000. Ba nguồn khớp nhau — Pāli, bản Việt (“hơn hai trăm bốn mươi vạn”) và bản Anh (2,400,000).
lomāni haṭṭhānirởn tóc gáy, dựng lông tócPhản ứng của Tôn giả Ānanda khi chỉ mới nghe cái tên.
Sudhammā sabhāThiện Pháp đường — hội trường của chư ThiênNơi chư Thiên Tam Thập Tam họp vào ngày rằm Bố-tát.
cattāro mahārājābốn vị Đại Thiên VươngDhataraṭṭha (Đông) · Virūḷhaka (Nam) · Virūpakkha (Tây) · Vessavaṇa (Bắc). Đếm lại đúng bốn phương, bốn vị.
SanaṅkumāraThường Đồng Hình Phạm thiên — “vị mãi trẻ thơ”Hiện ra dưới hình đồng tử Pañcasikha. Cũng xuất hiện trong Kinh Đại Điển Tôn (DN 19).
aṭṭhaṅgasamannāgato sarotiếng nói đủ tám đứcĐếm lại đúng tám: vissaṭṭha (lưu loát) · viññeyya (dễ hiểu) · mañju (êm tai) · savanīya (nghe rõ) · bindu (sung mãn) · avisārī (không tán loạn) · gambhīra (thâm sâu) · ninnādī (vang động).
iddhipādaThần túc — nền tảng của thần lựcBốn: dục (chanda), tinh tấn (vīriya), tâm (citta), tư duy (vīmaṁsā).
okāsādhigamachỗ mở ra để đạt an lạcBa — và cả ba đều theo cùng một khuôn: nghe Thánh pháp → như lý tác ý → hành đúng pháp.
samādhiparikkhārađịnh cụ — vật tư trợ cho địnhBảy chi đầu của Bát Chánh Đạo. Chi thứ tám — chánh định — chính là cái được tư trợ.

Chỗ đáng chú ý nhất là điều vị ấy KHÔNG nói. Vua Bimbisāra không nói mình đã giải thoát. Vị ấy nói hai điều rất chừng mực: con biết mình không còn đọa ác thú — đó là quả Dự lưu — và con vẫn còn mong ước chứng quả Nhất lai. Một bậc Thánh vẫn còn đường phải đi, và kinh chép nguyên lời ấy.

Mười bốn đời không phải là phần thưởng. Bảy từ đây, bảy từ kia — vị ấy đếm ra cả một chặng luân hồi còn dài. Làm thuộc hạ Thiên vương bảy lần, làm vua loài người bảy lần. Kinh không gọi đó là phước, chỉ gọi là saṁsāra — luân chuyển.

Chuỗi truyền cuối bài mới là chữ ký của bài kinh. Phạm thiên → Vessavaṇa → Janavasabha → Đức Phật → Ānanda → bốn chúng. Kinh kể tên từng người một, không giấu chỗ nào. Và chú ý một chữ: Đức Phật vừa nghe lại, vừa “tự mình thắng tri” (sāmañca abhiññāya) — Ngài không chỉ thuật lại lời người khác.

Một nỗi băn khoăn riêng thành cả một bài kinh. Tôn giả Ānanda chỉ nghĩ thầm một mình — rằng người xứ mình bị bỏ quên, rằng vị vua ân nhân chưa được nhắc tới. Kinh không chê nỗi băn khoăn ấy; kinh chép lại đầy đủ, và Đức Phật đã nhập định để trả lời.

  • “Vua Bimbisāra đã giải thoát.” Không. Vị ấy tự nói chỉ mới không còn đọa ác thú (Dự lưu) và còn mong chứng Nhất lai.
  • “Janavasabha là một vị trời.” Kinh gọi vị ấy là Dạ-xoa (yakkha), thuộc hàng Đại vương Vessavaṇa — tức cõi Tứ Thiên Vương, cõi trời thấp nhất.
  • “Đức Phật chỉ thuật lại lời một Dạ-xoa.” Kinh ghi rõ: Ngài vừa nghe từ Janavasabha, vừa tự mình thắng tri.
  • “Phạm thiên Sanaṅkumāra là đấng sáng tạo.” Trong bài này Phạm thiên tán thán giáo pháp của Đức Phật và nói thần lực của mình do tu bốn Thần túc mà có. Về chủ thuyết “Phạm thiên sáng tạo”, xin xem Kinh Ba-Lê (DN 24).
  • Ngành Oanh. Chơi trò truyền tin: một câu đi qua sáu em rồi xem còn đúng không — đúng chuỗi truyền cuối bài kinh.
  • Ngành Thiếu. Một bậc Dự lưu vẫn nói “con còn mong”. Hỏi: đã đi đúng đường có nghĩa là đã tới chưa?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Lấy tám đức của tiếng nói làm bảng tự soi khi mình nói trước đoàn: lưu loát · dễ hiểu · êm tai · nghe rõ · sung mãn · không tán loạn · thâm sâu · vang động.
  • Vì sao Tôn giả Ānanda lại băn khoăn về người xứ Magadha?
  • Vì sao vua Bimbisāra vẫn nói “con còn mong” chứ không nói “con đã tới”?
  • Chuỗi truyền cuối bài nói gì về cách Chánh pháp tồn tại?
  • Trong tám đức của tiếng nói, đức nào em thấy khó nhất?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bản Việt ghi tên bài là “Kinh Xa-ni-sa”. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.