G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 2
Trường Bộ Kinh · Đi Tu Thì Được Gì

Kinh Sa-Môn Quả

Sāmaññaphala Sutta — Trường Bộ 2 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Sa-Môn Quả

Một ông vua vừa giết cha để cướp ngôi, đêm rằm đi tìm người để hỏi một câu rất thực tế: “Đi tu thì được gì?” Ông đã hỏi sáu vị giáo chủ nổi tiếng đương thời, và nhận xét về câu trả lời của họ bằng một câu để đời: hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít.

  • Bộ — Trường Bộ, DN 2
  • Nơi nói — thành Vương Xá, vườn xoài của y sĩ Jīvaka, đêm rằm tháng Komudī
  • Người hỏi — vua A-Xà-Thế (Ajātasattu), người đã hại vua cha
  • Nội dung nền — bài kinh ghi lại chủ trương của sáu vị giáo chủ ngoại đạo cùng thời; đây là nguồn sử liệu quý về tư tưởng Ấn Độ thế kỷ VI trước Tây lịch
  • Kết — vua xin quy y và thú nhận tội giết cha

Kinh Sa-môn quả là bài kinh thứ hai của Trường Bộ, ghi lại cuộc gặp giữa vua A-xà-thế và Đức Phật trong vườn xoài của y sĩ Jīvaka, đêm rằm sáng trăng. Vua nêu một câu hỏi rất thực tế: mọi nghề nghiệp ở đời đều cho "kết quả thiết thực hiện tại" — nuôi được thân, nuôi cha mẹ, vợ con, bạn bè, lại còn cúng dường được — vậy đời sống xuất gia cho kết quả thiết thực hiện tại nào? Trước đó vua đã đem câu hỏi này hỏi sáu vị giáo chủ ngoại đạo đương thời (Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambalī, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nātaputta) nhưng không ai trả lời đúng câu hỏi; vua ví như "hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít". Đức Phật trả lời bằng cách hỏi ngược lại vua. Quả thứ nhất: một người nô bộc xuất gia thì chính nhà vua cũng phải kính lễ, mời ngồi, cúng dường bốn vật dụng và bảo hộ đúng luật pháp. Quả thứ hai cũng như vậy với người nông phu nạp thuế. Rồi Ngài trình bày các quả "vi diệu thù thắng hơn", chính là con đường Giới – Định – Tuệ theo thứ lớp: Như Lai xuất hiện ở đời và thuyết pháp; người nghe pháp sanh lòng tín, thấy "đời sống gia đình đầy những triền phược" nên xuất gia; giữ giới bổn Pātimokkha (Tiểu giới – Trung giới – Đại giới); thủ hộ các căn; chánh niệm tỉnh giác; biết tri túc; sống nơi thanh vắng và xả ly năm triền cái — được ví như trả hết nợ, khỏi bệnh, ra khỏi ngục, thoát nô lệ, qua khỏi sa mạc. Từ đó tuần tự chứng bốn thiền, mỗi thiền có một ví dụ (cục bột tắm thấm nước, hồ nước tự dâng, hoa sen trong nước, tấm vải trắng trùm thân). Với tâm định tĩnh thuần tịnh, vị ấy hướng tâm đến tám minh trí: tri kiến về thân và thức, hóa hiện thân do ý, thần túc thông, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng, thiên nhãn, và cuối cùng là lậu tận trí — thấy như thật Bốn Sự Thật, tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, biết "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành". Đó là quả Sa-môn tối thượng, không có quả nào cao hơn. Nghe xong, vua A-xà-thế xin quy y Tam Bảo và thú nhận trọng tội giết vua cha; Phật nhận sự sám hối và dạy rằng thấy tội là tội, thú tội đúng Chánh pháp, ngăn chận ở tương lai — đó là sự tiến bộ trong luật pháp bậc Thánh. Khi vua đi rồi, Phật dạy các Tỷ-kheo: nếu vua không hại mạng vua cha thì ngay tại chỗ ngồi ấy đã chứng được pháp nhãn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Câu chuyện với các đại thần của vua (Rājāmaccakathā) — Đêm rằm Bố-tát, vua Ajātasattu cảm hứng về đêm trăng và hỏi nên chiêm bái vị Sa-môn nào. Sáu đại thần lần lượt tiến cử sáu vị giáo chủ ngoại đạo: Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambalī, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nātaputta. Mỗi lần vua đều yên lặng không nói gì.
  • 2. Câu chuyện với Jīvaka Komārabhacca (Komārabhaccajīvakakathā) — Y sĩ Jīvaka thưa rằng Thế Tôn đang trú trong chính vườn xoài của mình, tán thán mười danh hiệu Như Lai. Vua cho thắng năm trăm voi cái và vương tượng, đi trong đêm. Gần tới vườn xoài vua sợ hãi tóc dựng ngược vì đại chúng một nghìn hai trăm năm mươi vị mà tuyệt không một tiếng động.
  • 3. Câu hỏi về quả Sa-môn (Sāmaññaphalapucchā) và lời đáp của sáu ngoại đạo sư — Vua đảnh lễ Phật, nêu câu hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, rồi thuật lại lần lượt sáu chủ trương: 3.1 Pūraṇa Kassapa (thuyết vô nghiệp), 3.2 Makkhali Gosāla (luân hồi tịnh hóa, vô nhân vô duyên), 3.3 Ajita Kesakambalī (đoạn diệt), 3.4 Pakudha Kaccāyana (bảy thân thường trú), 3.5 Nigaṇṭha Nātaputta (bốn cấm giới), 3.6 Sañjaya Belaṭṭhaputta (ngụy biện trườn uốn như con lươn). Mỗi lần vua nhận xét: hỏi trái xoài trả lời trái mít.
  • 4. Quả Sa-môn (Sāmaññaphala) — 4.1 quả thứ nhất, 4.2 quả thứ hai — Đức Phật hỏi ngược lại vua. Quả thứ nhất: người nô bộc xuất gia thì vua phải kính lễ, cúng dường, bảo hộ. Quả thứ hai: cũng như vậy với người nông phu gia chủ nạp thuế má.
  • 4.3 Những quả vi diệu thù thắng hơn (Paṇītatarasāmaññaphala) — 4.3.1 Giới (Sīla) — Như Lai xuất hiện ở đời, thuyết pháp sơ thiện trung thiện hậu thiện; người gia trưởng nghe pháp, sanh lòng tín, xuất gia. Vị ấy sống chế ngự theo giới bổn Pātimokkha, trình bày theo ba phần: Tiểu giới (Cūḷasīla), Trung giới (Majjhimasīla), Đại giới (Mahāsīla) — kể cả việc từ bỏ các tà mạng, chú thuật, bói toán.
  • 4.3.2 Định — hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, tri túc, xả ly năm triền cái, bốn thiền — Thủ hộ các căn (Indriyasaṁvara); chánh niệm tỉnh giác (Satisampajañña); biết tri túc (Santosa) — ví như con chim chỉ mang theo hai cánh; sống nơi thanh vắng, đoạn trừ năm triền cái (Nīvaraṇappahāna) với năm ví dụ mắc nợ, bệnh hoạn, ngục tù, nô lệ, sa mạc; rồi chứng và trú Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, mỗi thiền có một ví dụ.
  • 4.3.3 Tám minh trí (Aṭṭhañāṇa) — Từ tâm định tĩnh thuần tịnh, vị ấy dẫn tâm đến: tri kiến về thân do bốn đại và thức (Vipassanāñāṇa, ví dụ hòn ngọc lưu ly); hóa hiện thân do ý (Manomayiddhi); thần túc thông (Iddhividha); thiên nhĩ thông (Dibbasota); tha tâm thông (Cetopariya); túc mạng minh (Pubbenivāsānussati); thiên nhãn minh (Dibbacakkhu); và lậu tận trí (Āsavakkhayañāṇa) — biết như thật Bốn Sự Thật và các lậu hoặc, tâm giải thoát. Đây là quả Sa-môn tối thượng, không quả nào hơn.
  • 5. Vua A-xà-thế tự nhận là cư sĩ (Ajātasattuupāsakattapaṭivedanā) — Vua tán thán Chánh pháp, xin quy y Phật – Pháp – Tăng trọn đời, thú nhận trọng tội hại mạng phụ vương. Phật nhận sự thú tội và dạy đó là sự tiến bộ trong luật pháp bậc Thánh. Vua từ biệt; sau khi vua đi, Phật bảo các Tỷ-kheo rằng nếu vua không hại mạng vua cha thì ngay tại chỗ ngồi ấy đã chứng được pháp nhãn không trần cấu.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để quý anh chị đối chiếu được.

Xin thưa trước: trong phần này có 1 đoạn mà chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in của HT. Thích Minh Châu — nguồn Việt ngữ chúng tôi tra không lấy được toàn văn bài kinh này. Những đoạn ấy có ghi chú riêng bên dưới. Phần Pāli và tiếng Anh thì lấy thẳng từ tệp dữ liệu gốc, đối chiếu được.
DN 2.14
Yathā nu kho imāni, bhante, puthusippāyatanāni … te diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sippaphalaṁ upajīvanti; … Sakkā nu kho, bhante, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun”ti?
Cũng như các công nghệ chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, quân thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dõng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại từ công nghiệp chức nghiệp của chúng. … Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ cho rõ ràng kết quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?
Sir, there are many different professional fields. … All these live off the fruits of their profession which are apparent in this very life. … Sir, can you point out a fruit of the ascetic life that's likewise apparent in this very life?
DN 2.18.2
Seyyathāpi, bhante, ambaṁ vā puṭṭho labujaṁ byākareyya, labujaṁ vā puṭṭho ambaṁ byākareyya;
Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Purāna Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp.
It was like someone who, when asked about a mango, answered with a breadfruit, or when asked about a breadfruit, answered with a mango.
DN 2.36
“No hetaṁ, bhante. Atha kho naṁ mayameva abhivādeyyāmapi, paccuṭṭheyyāmapi, āsanenapi nimanteyyāma … “Idaṁ kho te, mahārāja, mayā paṭhamaṁ diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññattan”ti.
Bạch Thế Tôn, không như vậy. Trái lại chúng con kính lễ người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bệnh và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp. … - Này Ðại vương đó là kết quả thiết thực hiện tại thứ nhất của hạnh Sa-môn mà Ta đã trình bày.
“No, sir. Rather, I would bow to them, rise in their presence, and offer them a seat. I'd invite them to accept robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. And I'd organize their lawful guarding and protection.” … “This is the first fruit of the ascetic life that's apparent in this very life, which I point out to you.”
DN 2.41.4–41.6
‘sambādho gharāvāso rajopatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan'ti.
“Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình”.
‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It's not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don't I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?'
DN 2.66
Seyyathāpi, mahārāja, pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti, sapattabhārova ḍeti; evameva kho, mahārāja, bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena.
Này Ðại vương, như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát).
They're like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in của HT. Thích Minh Châu. Phần Pāli và tiếng Anh phía trên là lấy từ tệp dữ liệu gốc. Kính mong quý anh chị đối chiếu giúp.
DN 2.74
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu yathā iṇaṁ yathā rogaṁ yathā bandhanāgāraṁ yathā dāsabyaṁ yathā kantāraddhānamaggaṁ, evaṁ ime pañca nīvaraṇe appahīne attani samanupassati. Seyyathāpi, mahārāja, yathā āṇaṇyaṁ yathā ārogyaṁ yathā bandhanāmokkhaṁ yathā bhujissaṁ yathā khemantabhūmiṁ; evameva kho, mahārāja, bhikkhu ime pañca nīvaraṇe pahīne attani samanupassati.
Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo tự mình quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường sa mạc. Này Ðại vương, cũng như không mắc nợ, như không bệnh tật, như được khỏi tù tội, như được tự do, như đất lành yên ổn, này Ðại vương, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi diệt trừ chúng.
In the same way, as long as these five hindrances are not given up inside themselves, a mendicant regards them as a debt, a disease, a prison, slavery, and a desert crossing. But when these five hindrances are given up inside themselves, a mendicant regards this as freedom from debt, good health, release from prison, emancipation, and a place of sanctuary at last.
DN 2.74.4–75.1
Tassime pañca nīvaraṇe pahīne attani samanupassato pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati. So vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ.
Seeing that the hindrances have been given up in them, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when blissful, the mind becomes immersed. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption…
DN 2.97
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati, vimuttasmiṁ ‘vimuttam'iti ñāṇaṁ hoti, ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā'ti pajānāti.
Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát. Vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they're freed, they know they're freed. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.'
DN 2.100
Yato ca kho tvaṁ, mahārāja, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma. Vuddhihesā, mahārāja, ariyassa vinaye, yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti, āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
Vì Ðại vương đã thấy tội ấy là một tội, đã thú tội đúng với Chánh pháp, Ta nhận tội ấy cho Ðại vương. Ðó là một sự tiến bộ, này Ðại vương, trong luật pháp của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, thú tội đúng với Chánh pháp, và ngăn chận ở tương lai.
But since you have recognized your mistake for what it is, and have dealt with it properly, I accept it. For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sāmaññaphalaquả (kết quả) của hạnh Sa-môn, quả của đời sống xuất giaTên bài kinh; HT. Minh Châu dịch là "kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn" khi đi chung với sandiṭṭhika.
sandiṭṭhikathiết thực hiện tại, thấy được ngay trong đời này
diṭṭheva dhammengay trong hiện tại, ngay trong đời này
pabbajjāsự xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình
sīlagiới, giới hạnhKinh chia ba phần: cūḷasīla (tiểu giới), majjhimasīla (trung giới), mahāsīla (đại giới).
pātimokkhasaṁvarasự chế ngự theo giới bổn Pātimokkha
indriyasaṁvarathủ hộ các căn, phòng hộ sáu giác quan
satisampajaññachánh niệm tỉnh giác
santosa / santuṭṭhatri túc, biết đủ
nīvaraṇatriền cái; năm triền cái: tham dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi
jhānathiền (thiền-na); kinh nêu bốn thiền: paṭhama, dutiya, tatiya, catuttha jhāna
vitakka – vicāratầm – tứ
pīti – sukhahỷ – lạc
upekkhāsatipārisuddhixả niệm thanh tịnh (đặc tính của Tứ thiền)
samādhiđịnh, tâm định tĩnh
ñāṇadassanatri kiến; ở đây là tri kiến về thân do bốn đại và thức nương nơi thân
manomayiddhithần thông hóa hiện thân do ý tạo
iddhividhathần túc thông, các loại thần thông biến hóa
dibbasotathiên nhĩ thông
cetopariyañāṇatha tâm thông, trí biết tâm người khác
pubbenivāsānussatitúc mạng minh, trí nhớ các đời sống quá khứ
dibbacakkhuthiên nhãn minh
āsavakkhayañāṇalậu tận trí, trí đoạn tận các lậu hoặc
āsavalậu hoặc; ba lậu: kāmāsava (dục lậu), bhavāsava (hữu lậu), avijjāsava (vô minh lậu)
brahmacariyaphạm hạnh, đời sống thanh tịnh
dhammacakkhupháp nhãn (virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ: pháp nhãn không trần cấu, không ô uế)
upāsakacư sĩ, đệ tử tại gia quy y Tam Bảo
accayalỗi lầm, tội; accayaṁ accayato disvā = thấy tội là tội

Đức Phật không trả lời bằng lý thuyết — Ngài hỏi ngược. Thay vì giảng, Ngài hỏi vua: nếu một người nô bộc của đại vương bỏ đi xuất gia, đại vương có bảo nó về hầu hạ như cũ không? Vua đáp không — trái lại còn phải kính lễ và cúng dường. Đó là quả thiết thực thứ nhất, thấy ngay trong đời này, không cần tin điều gì trước.

Rồi mới tới đường Giới – Định – Tuệ, theo thứ lớp. Giữ giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, biết đủ, xả năm triền cái, bốn thiền, rồi tám minh trí. Mỗi bước có một ví dụ cụ thể — đây là bài kinh trình bày trọn con đường tu rõ ràng nhất trong Trường Bộ.

Năm ví dụ về xả năm triền cái — chỗ hay nhất bài kinh. Bỏ được năm triền cái thì như trả hết nợ, khỏi bệnh, ra khỏi ngục, thoát kiếp nô lệ, qua khỏi sa mạc. Năm ví dụ ấy đều là chuyện đời thường ai cũng hiểu — không cần biết giáo lý cũng thấy được cảm giác nhẹ nhõm ấy.

Thần thông được kể, nhưng không phải đích. Trong tám minh trí có thần túc, thiên nhĩ, tha tâm, thiên nhãn. Nhưng kinh nói rõ quả tối thượng là lậu tận trí — biết như thật Bốn Sự Thật và tâm giải thoát. Xin đối chiếu với Kinh Kiên Cố, nơi Đức Phật từ chối cho phô diễn thần thông.

Đoạn kết là chỗ nặng nhất. Vua thú nhận tội giết cha. Đức Phật nhận lời sám hối và nói: thấy tội là tội, thú nhận đúng pháp, ngăn chận về sau — đó là tiến bộ. Nhưng khi vua đi rồi, Ngài nói với chúng Tỳ-kheo: nếu vua không hại mạng vua cha thì ngay tại chỗ ngồi ấy đã chứng được pháp nhãn. Sám hối được nhận, mà quả thì vẫn mất.

  • “Sám hối thì hết tội.” Kinh nói rõ: Đức Phật nhận sám hối, nhưng quả vẫn mất. Sám hối mở đường về sau, không xoá cái đã làm.
  • “Bài kinh dạy thần thông.” Thần thông chỉ là các bước giữa. Quả tối thượng là lậu tận trí.
  • “Sáu vị giáo chủ kia là người xấu.” Kinh chép lại chủ trương của họ một cách trung thực, không mạ lỵ. Vua chỉ nhận xét rằng họ trả lời lạc đề.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy năm ví dụ về năm triền cái — trả hết nợ, khỏi bệnh, ra khỏi ngục… Hỏi các em: lúc nào em thấy nhẹ người như vậy?
  • Ngành Thiếu. Câu hỏi mở đầu của vua: đi tu thì được gì? Rất hợp để các em tự hỏi sinh hoạt Gia Đình Phật Tử thì được gì thiết thực?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đoạn kết. Bàn: vì sao sám hối được nhận mà quả vẫn mất? Đây là chỗ nói rõ nhất về giới hạn của sám hối.
  • Vì sao Đức Phật hỏi ngược thay vì giảng ngay?
  • Năm ví dụ về năm triền cái — cái nào gần với em nhất?
  • Sám hối được nhận mà quả vẫn mất. Điều đó dạy ta gì?
  • Vua hỏi kết quả thiết thực hiện tại. Câu hỏi ấy có đáng hỏi không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số để đối chiếu được. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập — người soi tự tra lại nguồn gốc, không tin dữ liệu được đưa. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.