G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 11
Trường Bộ Kinh · Đức Phật Từ Chối Thần Thông

Kinh Kiên Cố

Kevaṭṭa Sutta — Trường Bộ 11 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Kiên Cố

Một cư sĩ trẻ thưa với Đức Phật: dân thành này sẽ tín kính hơn nữa nếu Ngài cho một vị Tỳ-kheo thị hiện thần thông. Đức Phật từ chối. Cậu ấy thỉnh lại. Ngài lại từ chối. Rồi Ngài giải thích vì sao — và lý do ấy không phải vì Ngài không làm được.

  • Bộ — Trường Bộ, DN 11
  • Nơi nói — thành Nāḷandā, rừng Pāvārika
  • Người thỉnhKevaṭṭa, một cư sĩ trẻ
  • Ba loại thần thông — biến hoá (iddhipāṭihāriya), tha tâm (ādesanāpāṭihāriya), giáo hoá (anusāsanīpāṭihāriya)

Kinh Kiên Cố mở đầu bằng một lời thỉnh cầu rất "đời": cư sĩ Kevaddha xin Đức Phật cho một vị Tỷ-kheo biểu diễn thần thông giữa thành Nāḷandā đông đúc, để người ta thấy mà tin. ba lần thỉnh; Thế Tôn từ chối bằng lời từ chối ấy hai lần: "Ta không dạy cho các Tỷ-kheo pháp này: 'Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa cho các cư sĩ áo trắng'." Đức Phật nêu ba pháp thần thông (pāṭihāriya) mà Ngài đã tự mình giác ngộ: biến hóa thần thông (iddhipāṭihāriya) — bay trên hư không, đi xuyên vách, đi trên nước…; tha tâm thần thông (ādesanāpāṭihāriya) — nói rõ tâm ý, tư duy của người khác; và giáo hóa thần thông (anusāsanīpāṭihāriya) — dạy người "hãy suy tư như thế này, chớ suy tư như thế kia… hãy trừ bỏ điều này, hãy chứng đạt và an trú điều kia". Điểm then chốt: hai pháp đầu tuy phi thường nhưng có nguy hiểm. Người có lòng tin thấy thì thán phục, nhưng kẻ không tin sẽ nói đó chỉ là chú thuật Gandhārī hay chú thuật Maṇikā. Vậy thần thông không đưa người ta tới trí tuệ, lại còn dễ bị hiểu lầm là ảo thuật. Vì thấy sự nguy hiểm ấy mà Thế Tôn "nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ" hai loại thần thông này. Chỉ giáo hóa thần thông — tức con đường giới, định (bốn thiền), tuệ cho đến đoạn tận lậu hoặc — mới thật đáng quý. Phần sau kể chuyện một Tỷ-kheo muốn biết "bốn đại chủng — địa, thủy, hỏa, phong — đoạn diệt hoàn toàn ở chỗ nào?". Vị ấy dùng thần thông đi hỏi khắp các cõi trời, lên đến Phạm thiên; Đại Phạm thiên kéo riêng ra một bên thú nhận mình cũng không biết, và trách vị ấy đã bỏ qua Thế Tôn mà đi tìm bên ngoài. Đức Phật ví vị ấy như con chim tìm bờ của các hải thương: bay khắp bốn phương không thấy bờ thì phải quay về thuyền. Ngài dạy câu hỏi phải đặt lại cho đúng, và trả lời bằng bài kệ về "thức không thể thấy, vô biên", nơi danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn. Bài học cho Huynh trưởng và đoàn sinh: đạo Phật không lấy phép lạ làm phương tiện hoằng pháp, mà lấy sự chuyển hóa tâm — dạy người bỏ ác làm lành, tu giới định tuệ — làm phép lạ cao quý nhất.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Kevaddha ba lần thỉnh cầu, Thế Tôn ba lần từ chối — Tại vườn xoài Pāvārika ở Nāḷandā, cư sĩ trẻ Kevaddha ba lần xin Thế Tôn sai một Tỷ-kheo thị hiện thần thông cho dân chúng. Ba lần Thế Tôn đáp: Ta không dạy các Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa cho các cư sĩ áo trắng. (DN 11.1–3)
  • 2. Ba pháp thần thông — Thế Tôn nêu ba pháp thần thông Ngài đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết: biến hóa thần thông (iddhipāṭihāriya), tha tâm thần thông (ādesanāpāṭihāriya), giáo hóa thần thông (anusāsanīpāṭihāriya). (DN 11.3.8–3.10)
  • 2a. Biến hóa thần thông và sự nguy hiểm của nó — Tỷ-kheo chứng các loại thần thông: một thân hiện nhiều thân, đi xuyên vách núi, độn thổ, đi trên nước, ngồi kiết-già bay trên hư không, sờ mặt trăng mặt trời, thân có thần lực đến Phạm thiên giới. Nhưng kẻ không có lòng tin sẽ bảo đó là do chú thuật Gandhārī. Vì thấy nguy hiểm ấy, Thế Tôn nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ biến hóa thần thông. (DN 11.4–5)
  • 2b. Tha tâm thần thông và sự nguy hiểm của nó — Tỷ-kheo nói rõ tâm, tâm sở, tầm, tứ của chúng sanh khác. Kẻ không tin lại bảo đó là do chú thuật Maṇikā. Vì thấy nguy hiểm ấy, Thế Tôn nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ tha tâm thần thông. (DN 11.6–7)
  • 2c. Giáo hóa thần thông — pháp đáng quý — Tỷ-kheo giáo giới: hãy suy tư như thế này, chớ suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này…; hãy trừ bỏ điều này, hãy chứng đạt và an trú điều kia. Tiếp đó là toàn bộ lộ trình tu học: Như Lai xuất hiện ở đời, Tỷ-kheo thành tựu giới, chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, tri kiến, cho đến biết rõ không còn trở lui trạng thái này nữa — mỗi bậc đều được gọi là giáo hóa thần thông. (DN 11.8; 11.9–66)
  • 3. Chuyện vị Tỷ-kheo đi tìm chỗ đoạn diệt của bốn đại — Một Tỷ-kheo khởi nghĩ: bốn đại chủng địa, thủy, hỏa, phong đoạn diệt hoàn toàn ở chỗ nào? Vị ấy nhập định, theo thiên đạo lần lượt hỏi Tứ Thiên Vương thiên, bốn vị Đại Thiên Vương, Tam thập tam thiên, Thiên chủ Sakka, Yāma, Tusita, Nimmānaratī, Paranimmitavasavattī, rồi chư thiên Phạm chúng — không ai biết, đều chỉ lên vị cao hơn. (DN 11.67–79)
  • 4. Đại Phạm thiên cũng không biết — Đại Phạm thiên hai lần chỉ tự xưng danh hiệu 'Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng… Cha của tất cả những ai đã sanh và sẽ sanh'. Cuối cùng vị ấy nắm tay Tỷ-kheo kéo ra một bên, thú nhận mình cũng không biết, và bảo Tỷ-kheo đã lỗi lầm khi bỏ qua Thế Tôn mà tìm cầu bên ngoài; hãy trở về hỏi Thế Tôn. (DN 11.80–84)
  • 5. Ví dụ con chim thấy bờ và bài kệ kết thúc — Thế Tôn ví vị Tỷ-kheo như con chim thấy bờ của các hải thương: bay khắp các phương không thấy bờ thì trở về thuyền. Ngài dạy câu hỏi phải đặt lại: chỗ nào mà địa, thủy, hỏa, phong không có chân đứng; chỗ nào dài ngắn, tế thô, tịnh bất tịnh, danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn? Và trả lời bằng bài kệ về thức không thể thấy, vô biên. Kevaddha hoan hỷ tín thọ. (DN 11.85)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để quý anh chị đối chiếu được.

Xin thưa trước: trong phần này có 4 đoạn mà chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in của HT. Thích Minh Châu — nguồn Việt ngữ chúng tôi tra không lấy được toàn văn bài kinh này. Những đoạn ấy có ghi chú riêng bên dưới. Phần Pāli và tiếng Anh thì lấy thẳng từ tệp dữ liệu gốc, đối chiếu được.
DN 11.1.4–1.6
ayaṁ, bhante, nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā bhagavati abhippasannā. Sādhu, bhante, bhagavā ekaṁ bhikkhuṁ samādisatu, yo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati; evāyaṁ nāḷandā bhiyyoso mattāya bhagavati abhippasīdissatī’ti.
Bạch Thế Tôn, Nāḷandā này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Lành thay, nếu Thế Tôn chỉ định một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa. Như vậy, Nāḷandā này sẽ tín kính Thế Tôn nhiều hơn nữa.
“Sir, this Nāḷandā is successful and prosperous, populous and full of people. Please direct a mendicant to perform a superhuman demonstration of psychic power. Then Nāḷandā will become even more devoted to the Buddha!”
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in của HT. Thích Minh Châu. Phần Pāli và tiếng Anh phía trên là lấy từ tệp dữ liệu gốc. Kính mong quý anh chị đối chiếu giúp.
DN 11.1.8–1.9
“na kho ahaṁ, kevaṭṭa, bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ desemi: ‘etha tumhe, bhikkhave, gihīnaṁ odātavasanānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karothā’”ti.
Này Kevaddha, Ta không dạy cho các Tỷ-kheo pháp này: “Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa cho các cư sĩ áo trắng.”
“Kevaḍḍha, I do not teach Dhamma to the mendicants like this: ‘Come now, mendicants, perform a superhuman demonstration of psychic power for the white-clothed laypeople.’”
DN 11.3.8–3.10
“Tīṇi kho imāni, kevaṭṭa, pāṭihāriyāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni. Katamāni tīṇi? Iddhipāṭihāriyaṁ, ādesanāpāṭihāriyaṁ, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Này Kevaddha, có ba pháp thần thông này Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là ba? Tức là biến hóa thần thông, tha tâm thần thông, giáo hóa thần thông.
“Kevaḍḍha, there are three kinds of demonstration, which I declare having realized them with my own insight. What three? The demonstration of psychic power, the demonstration of revealing, and the demonstration of instruction.
DN 11.5.7
“Imaṁ kho ahaṁ, kevaṭṭa, iddhipāṭihāriye ādīnavaṁ sampassamāno iddhipāṭihāriyena aṭṭīyāmi harāyāmi jigucchāmi.
Này Kevaddha, chính vì Ta thấy sự nguy hiểm trong sự biến hóa thần thông mà Ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ biến hóa thần thông.
“Seeing this drawback in psychic power, I’m horrified, repelled, and disgusted by demonstrations of psychic power.
DN 11.7.8
“Imaṁ kho ahaṁ, kevaṭṭa, ādesanāpāṭihāriye ādīnavaṁ sampassamāno ādesanāpāṭihāriyena aṭṭīyāmi harāyāmi jigucchāmi.
Này Kevaddha, chính vì Ta thấy sự nguy hiểm trong sự tha tâm thần thông mà Ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ tha tâm thần thông.
“Seeing this drawback in revealing, I’m horrified, repelled, and disgusted by demonstrations of revealing.
DN 11.8.3–8.4
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha, evaṁ manasikarotha, mā evaṁ manasākattha, idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti. Idaṁ vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Hãy suy tư như thế này, chớ có suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, chớ có tác ý như thế kia; hãy trừ bỏ điều này, hãy chứng đạt và an trú điều kia. Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.
‘Think like this, not like that. Focus your mind like this, not like that. Give up this, and live having achieved that.’ This is called the demonstration of instruction.
DN 11.85.2–85.7
bhūtapubbaṁ, bhikkhu, sāmuddikā vāṇijā tīradassiṁ sakuṇaṁ gahetvā nāvāya samuddaṁ ajjhogāhanti… Evameva kho tvaṁ, bhikkhu, yato yāva brahmalokā pariyesamāno imassa pañhassa veyyākaraṇaṁ nājjhagā, atha mamaññeva santike paccāgato.
Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường đem theo con chim có thể thấy bờ… Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đã tìm cho đến Phạm thiên giới mà không gặp được câu trả lời cho câu hỏi ấy, nên nay trở về với Ta.
‘Once upon a time, mendicant, some sea-merchants set sail for the ocean deeps, taking with them a land-spotting bird… In the same way, after failing to get an answer to this question even after searching as far as the realm of divinity, you’ve returned to me.
DN 11.85.18–85.27
‘Viññāṇaṁ anidassanaṁ, anantaṁ sabbatopabhaṁ; Ettha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati. Ettha dīghañca rassañca, aṇuṁ thūlaṁ subhāsubhaṁ; Ettha nāmañca rūpañca, asesaṁ uparujjhati; Viññāṇassa nirodhena, etthetaṁ uparujjhatī’ti.
Thức là không thể thấy, vô biên, biến thông hết thảy xứ. Ở đây, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng… Ở đây danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn. Khi thức diệt, ở đây mọi thứ đều diệt tận.
“‘Consciousness where no form appears, infinite, radiant all-round.’ Here water and earth, fire and air have no footing; here long and short, tiny and huge, beautiful and ugly. Here name and form cease with no residue left behind—with the cessation of consciousness, here they cease.”
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in của HT. Thích Minh Châu. Phần Pāli và tiếng Anh phía trên là lấy từ tệp dữ liệu gốc. Kính mong quý anh chị đối chiếu giúp.
DN 11.85.28–85.29
Idamavoca bhagavā. Attamano kevaṭṭo gahapatiputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Thế Tôn thuyết như vậy. Kevaddha, cư sĩ trẻ tuổi hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
That is what the Buddha said. Satisfied, the householder Kevaḍḍha approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pāṭihāriyathần thông, điều kỳ diệu, sự thị hiệnKinh nêu ba loại: iddhi-, ādesanā-, anusāsanī-.
iddhipāṭihāriyabiến hóa thần thôngCác năng lực thần biến: một thân hiện nhiều thân, đi xuyên vách, đi trên nước, bay trên hư không…
ādesanāpāṭihāriyatha tâm thần thôngNói rõ tâm (citta), tâm sở (cetasika), tầm (vitakka), tứ (vicāra) của người khác.
anusāsanīpāṭihāriyagiáo hóa thần thôngThần thông duy nhất được Đức Phật tán thán trong kinh này.
uttari manussadhammathượng nhân pháp — pháp vượt trên loài người
ādīnavasự nguy hiểm, điều nguy hại, khuyết điểm
gandhārī vijjāchú thuật GandhārīĐiều kẻ vô tín viện ra để giải thích biến hóa thần thông.
maṇikā vijjāchú thuật MaṇikāĐiều kẻ vô tín viện ra để giải thích tha tâm thần thông.
cattāro mahābhūtābốn đại chủng: địa (pathavī), thủy (āpo), hỏa (tejo), phong (vāyo)
nāmarūpadanh và sắcTrong bài kệ kết: nơi danh sắc tiêu diệt hoàn toàn (asesaṁ uparujjhati).
viññāṇaṁ anidassanaṁthức không thể thấy (vô kiến), không hiển lộCùng với anantaṁ (vô biên) và sabbatopabhaṁ — đoạn kệ khó, có nhiều cách giải thích trong truyền thống.
tīradassī sakuṇacon chim thấy bờChim mà các hải thương mang theo để dò bờ; ví dụ nổi tiếng của kinh này.
mahābrahmāĐại Phạm thiênTrong kinh này chính Đại Phạm thiên thú nhận không biết câu trả lời.
samādhiđịnhVị Tỷ-kheo nhập định để thiên đạo (devayāniyo maggo) hiện ra.

Lý do Ngài từ chối — không phải vì khiêm nhường. Ngài nói: người thấy thần thông rồi có thể bảo đó chỉ là bùa chú Gandhāra. Vậy thì thần thông không tạo được lòng tin, nó tạo được sự tranh cãi. Người tin thì đã tin sẵn; người không tin thì có cách giải thích khác.

Chữ Ngài dùng rất mạnh. Ngài nói “Ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê tởm” đối với thần thông biến hoá và tha tâm. Không phải Ngài coi thường — mà vì hai loại ấy dễ bị lẫn với trò thuật, và dễ làm người ta chạy theo cái không phải đích.

Loại thứ ba mới là loại Ngài nhận. Anusāsanī-pāṭihāriyathần thông giáo hoá: chỉ cho người ta hãy suy tư thế này, chớ suy tư thế kia; hãy tác ý thế này, chớ tác ý thế kia. Nghe thì tầm thường bên cạnh việc bay trên trời. Nhưng đó là loại duy nhất đổi được một con người.

Câu chuyện vị Tỳ-kheo đi hỏi các cõi trời. Một vị Tỳ-kheo muốn biết bốn đại diệt ở đâu, bèn đi hỏi khắp chư thiên. Không ai biết. Lên tới Đại Phạm Thiên — vị này hai lần chỉ tự xưng danh hiệu thay vì trả lời, tới lần thứ ba mới kéo vị Tỳ-kheo ra một bên mà thú nhận là mình không biết, và bảo hãy về hỏi Đức Phật. Đây là đoạn hài hước nhất Tam Tạng, và nó nói một điều nghiêm túc: quyền năng không đồng nghĩa với hiểu biết.

Chỗ chúng tôi phải đính chính. Bản tra cứu đầu ghi Đại Phạm Thiên tự xưng danh hiệu ba lần, và Đức Phật từ chối ba lần. Lượt soi độc lập tra tận đoạn 11:81.5, 82.7 và 83.1–83.5 và chỉ ra: hai lần. Chúng tôi đã sửa và ghi lại đây.

  • “Đạo Phật phủ nhận thần thông.” Không. Kinh nói Đức Phật cả ba loại và đã tự mình giác ngộ. Ngài từ chối phô diễn, không phủ nhận.
  • “Giáo hoá là loại thần thông kém nhất.” Ngược lại — đó là loại Ngài nhận, hai loại kia Ngài nói mình nhàm chán, hổ thẹn, ghê tởm.
  • “Đại Phạm Thiên biết hết.” Chính đoạn ấy cho thấy vị ấy không biết, và phải bảo đi hỏi Đức Phật.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện vị Tỳ-kheo đi hỏi khắp các cõi trời mà không ai biết. Các em rất thích. Rồi hỏi: vì sao người có quyền lớn lại không biết?
  • Ngành Thiếu. Vì sao thần thông không tạo được lòng tin? Nối vào chuyện ngày nay: thấy một đoạn video lạ thì mình tin hay mình nghi?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài này nối thẳng vào bài Mê Tín – Chánh Tín của Thiền sư Thích Thanh Từ. Cùng một chủ đề, cách nhau hai mươi lăm thế kỷ.
  • Vì sao thần thông không tạo được lòng tin?
  • Ngài dùng chữ nhàm chán, hổ thẹn, ghê tởm. Vì sao mạnh vậy?
  • Thần thông giáo hoá nghe rất tầm thường. Vì sao lại là loại cao nhất?
  • Đại Phạm Thiên tự xưng danh hiệu thay vì trả lời. Em thấy quen không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số để đối chiếu được. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập — người soi tự tra lại nguồn gốc, không tin dữ liệu được đưa. Lượt soi ấy chỉ ra 5 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.