G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tiểu Bộ · Itivuttaka
Một Trăm Mười Hai Bài Ngắn, Và Một Người Ở Đợ

Phật Thuyết Như Vậy

Itivuttaka — 4 nhóm · 112 bài · Pāli · hai bản Anh

Tam TạngTạng KinhTiểu BộPhật Thuyết Như Vậy

Cả một trăm mười hai bài trong quyển này đều được gói trong đúng hai câu. Mở đầu: “Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ“Điều này đã được đức Thế Tôn nói, đã được bậc A-la-hán nói — TÔI NGHE như vậy.” Khép lại: “Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutaṁ“Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói — tôi nghe như vậy.” Chúng tôi dò cả 112 tệp bằng máy: 112/112 đều có cái khung ấy. Nghĩa là ở cả hai đầu của từng bài một, có một người đang nói với ta rằng họ THUẬT LẠI, không phải họ soạn ra.

  • Vị tríTiểu Bộ Kinh, tập thứ tư trong mười lăm tập
  • Xếp theo lối Tăng Chi Bộgom theo SỐ, tăng dần từ một tới bốn. Nhóm Một Pháp nói về những điều đứng một mình, Nhóm Hai Pháp về từng cặp, và cứ thế
  • Bài nào cũng nửa văn xuôi nửa thi kệ: một đoạn dạy ngắn, rồi câu “Tatthetaṁ iti vuccati”“về điều ấy, có nói như vầy” — rồi bài kệ nhắc lại cùng ý
  • Rất ngắntrọn quyển còn mỏng hơn MỘT bài kinh dài của Trường Bộ. Bài dài nhất chỉ vài trang
  • Nguồn — Pāli ấn bản Mahāsaṅgīti, cùng hai bản tiếng Anh độc lập: Tỳ-kheo SujatoJohn D. Ireland. Ba nhân chứng, nhưng chỉ HAI ngôn ngữ — xin đọc kỹ phần Nguồn
#PāliViệtBàiSốTrong nhóm có
1EkakanipātaNhóm Một PhápIti 1–2727bài 27 nói từ tâm giải thoát sáng hơn mọi vì sao
2DukanipātaNhóm Hai PhápIti 28–4922bài 44 nêu hai Niết-bàn giới — xem Phần III
3TikanipātaNhóm Ba PhápIti 50–9950nhóm lớn nhất — 50 bài
4CatukkanipātaNhóm Bốn PhápIti 100–11213bài 107 nói hai bên nương nhau mà sống — xem Phần IV
27 + 22 + 50 + 13112đếm được đúng 112 tệp trong kho

Ở gần như mọi bài kinh khác, câu “tôi nghe như vầy” được hiểu là lời của ngài Ānanda, người tụng lại toàn bộ Tạng Kinh trong kỳ kết tập thứ nhất. Riêng quyển này thì các bản Chú giải nói khác: người thuật lại là bà Khujjuttarāmột người NỮ, một người ở đợ, hầu hoàng hậu xứ Kosambī. Bà nghe Pháp, thuộc lòng, rồi về dạy lại cho hoàng hậu và năm trăm cung nữ.

Xin nói cho thật đúng mức. Việc gán quyển sách cho bà là lời của CHÚ GIẢIchính bản kinh Phật Thuyết Như Vậy KHÔNG hề nêu tên bà, và chúng tôi chưa đối chiếu Chú giải nên chỉ ghi lại, không xác nhận. Nhưng những gì chính kinh tạng nói về bà thì chúng tôi đã dò bằng máy — và riêng phần ấy thôi cũng đã đủ đáng kể:

ChỗNguyên vănNói gì
AN 1.260
Bảng “tối thắng” của hàng nữ cư sĩ
Bahussutānaṁ yadidaṁ khujjuttarāTrong các nữ đệ tử cư sĩ, tối thắng về NGHE NHIỀU là bà Khujjuttarā
SN 17.24
Kinh “Người Con Gái Một”
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ upāsikānaṁ, yadidaṁ khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā“Đây là cái cân, đây là thước đo cho các nữ đệ tử cư sĩ của Ta” — và người mẹ dạy con gái hãy ước được như hai bà ấy
AN 2.133
Nhóm Hai Pháp
cùng một câu tulā … pamāṇaṁnhắc lại nguyên văn
AN 4.176
Kinh “Ước Nguyện”
cùng một câu tulā … pamāṇaṁngười nữ có lòng tin nên nguyện: “mong tôi được như bà Khujjuttarā và bà Nandamātā”

Xin đọc lại dòng thứ hai. Đức Phật không chỉ khen bà — ngài lấy bà làm CÁI CÂN. Câu ấy xuất hiện ở ba chỗ khác nhau trong Tam Tạng, và ở một trong ba chỗ, người mẹ dạy con gái được bảo hãy cho con ước nguyện được như hai bà ấy. Một trong hai người là một NGƯỜI Ở ĐỢ.

người được nêu tên bên cạnh bàbà Veḷukaṇḍakī Nandamātā — chính là người mà kinh AN 7.53 ghi lại đang tụng lớn phẩm Pārāyana của Kinh Tập vào lúc rạng sáng, và một vị Đại Thiên Vương đứng chờ nghe cho hết mới đi. Vậy hai người nữ mà Đức Phật lấy làm thước đo cho tất cả nữ cư sĩ, lại đúng là hai người gắn với hai quyển sách nhỏ này. Chúng tôi ghi lại chỗ trùng hợp ấy, không rút ra kết luận nào thêm.

Về cái tên. Chữ khujja nghĩa là gù lưng, còn Uttarā là tên người nữ. Đó là nghĩa của CHỮ. Chúng tôi chưa đối chiếu Chú giải về thân thế bà, nên không nói gì thêm về hình dáng của bà — chỉ ghi lại nghĩa của chữ.

Bài Iti 44 là một trong những đoạn được trích nhiều nhất của Phật giáo Nguyên Thủy, mà chỉ dài một trang. Nó trả lời một câu người ta vẫn hỏi: nếu bậc A-la-hán đã hết khổ, sao ngài vẫn thấy đau khi đạp phải hòn đá?

Iti 44:3 — saupādisesā, hữu dư y
…arahaṁ hoti khīṇāsavo… Tassa tiṭṭhanteva pañcindriyāni yesaṁ avighātattā manāpāmanāpaṁ paccanubhoti, sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedeti. Tassa yo rāgakkhayo, dosakkhayo, mohakkhayo — ayaṁ vuccati saupādisesā nibbānadhātu.
…vị ấy là bậc A-la-hán, lậu hoặc đã tận… Năm căn của vị ấy VẪN CÒN NGUYÊN, nhờ chưa hư hoại nên vị ấy vẫn gặp cái vừa ý và cái không vừa ý, vẫn cảm nhận lạc và khổ. Nơi vị ấy, sự hết THAM, hết SÂN, hết SI — đó gọi là Niết-bàn giới còn dư y.
“…his five sense faculties remain unimpaired, by which he still experiences what is agreeable and disagreeable and feels pleasure and pain. It is the extinction of attachment, hate, and delusion in him that is called the Nibbāna-element with residue left.” (Ireland)
Iti 44:4 — anupādisesā, vô dư y
…arahaṁ hoti khīṇāsavo… Tassa idheva, bhikkhave, sabbavedayitāni anabhinanditāni sīti bhavissanti. Ayaṁ vuccati anupādisesā nibbānadhātu.
…vị ấy là bậc A-la-hán, lậu hoặc đã tận… Đối với vị ấy, ngay tại đây, mọi cảm thọ — vì không còn được ưa thích nữa — sẽ trở nên NGUỘI MÁT. Đó gọi là Niết-bàn giới không còn dư y.
“For him, here in this very life, all that is experienced, not being delighted in, will be extinguished.” (Ireland) — “everything that’s felt, being no longer relished, will become cool right here.” (Sujato)

Hai chỗ đáng chỉ ra. Thứ nhất: câu định nghĩa của giới thứ nhất là ĐÚNG TỪNG CHỮ câu định nghĩa Niết-bàn được lặp lại ba mươi ba lầnTương Ưng 43rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo, sự HẾT của ba thứ. Không thêm gì cả.

Thứ hai: bậc A-la-hán ở giới thứ nhất VẪN cảm nhận lạc và khổkinh nói thẳng ra như vậy. Niết-bàn không phải là mất cảm giác; nó là hết tham, sân, si nơi người đang có cảm giác ấy. Câu kệ khép bài còn nói rõ hơn: giới thứ nhất là diṭṭhadhammikā“thuộc về đời này, thấy được ngay bây giờ.”

Bài Iti 107 dài bốn câu, và nó dứt điểm một câu hỏi vốn dễ làm hỏng không khí trong bất cứ đoàn thể nào: rốt cuộc AI đang giúp AI?

Iti 107:2 ⭐
Bahukārā, bhikkhave, brāhmaṇagahapatikā tumhākaṁTumhepi, bhikkhave, bahukārā brāhmaṇagahapatikānaṁ yaṁ nesaṁ dhammaṁ desetha… Evamidaṁ, bhikkhave, aññamaññaṁ nissāya brahmacariyaṁ vussati oghassa nittharaṇatthāya.
“Này các Tỳ-kheo, hàng bà-la-môn và gia chủ giúp các ngươi rất nhiều: họ dâng y phục, thức ăn, chỗ ở, thuốc men. Và các ngươi cũng giúp hàng bà-la-môn và gia chủ rất nhiều: các ngươi thuyết Pháp cho họ, pháp tốt đẹp ở chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối. Như vậy đó, này các Tỳ-kheo, phạm hạnh này được sống bằng cách NƯƠNG NHAU, để vượt qua dòng nước lũ và chấm dứt khổ đau.”
“Thus, bhikkhus, this holy life is lived with mutual support for the purpose of crossing the flood and making a complete end of suffering.” (Ireland)

Xin để ý: cùng MỘT chữ — bahukārā, “giúp rất nhiều” — được dùng cho CẢ HAI BÊN, trong cùng một câu, cùng một dạng. Không bên nào là khách của bên nào. Bài kệ tiếp theo còn nói gọn hơn nữa: Sāgārā anagārā ca, ubho aññoññanissitā“người có nhà và người không nhà, CẢ HAI nương vào nhau.”

  • “Kinh Phật Thuyết Như Vậy nói bà Khujjuttarā gom quyển này.” Không. Bản kinh KHÔNG hề nêu tên bà. Đó là lời Chú giải, và chúng tôi chưa đối chiếu Chú giải. Cái kinh tạng CÓ nói là bà tối thắng về nghe nhiều và là thước đo cho hàng nữ cư sĩba chỗ, đã dẫn ở Phần II.
  • “Niết-bàn hữu dư y là Niết-bàn hạng hai.” Kinh định nghĩa cả hai bằng CÙNG một sự hết — tham, sân, si. Chỗ khác nhau chỉ là thân và năm căn còn hay không.
  • “Bậc A-la-hán không còn cảm giác gì.” Iti 44 nói ngược lại, bằng chữ rất rõ: năm căn vẫn còn nguyên, và vị ấy vẫn cảm nhận lạc và khổ.
  • “Cư sĩ là bên CHO, chư Tăng là bên NHẬN.” Iti 107 dùng đúng một chữ cho cả hai chiều trong cùng một câu: bahukārā“giúp rất nhiều”. Và bài kệ nói “cả hai nương vào nhau.”
  • “Phật Thuyết Như Vậy là một phần của Tăng Chi Bộ.”xếp theo lối Tăng Chi (gom theo số), nhưng là một quyển RIÊNG trong Tiểu Bộ.
  • Ngành Oanh. Đọc Iti 107, rồi lập hai cột: ai giúp Gia Đình mìnhGia Đình mình giúp ai. Cố cho hai cột dài bằng nhau.
  • Ngành Thiếu. Kể chuyện bà Khujjuttarā. Một người ở đợ được lấy làm thước đo cho mọi nữ cư sĩ. Hỏi các em: vậy ai mới được phép hiểu Pháp giỏi?
  • Ngành Thanh. Lấy Iti 44. Đặt câu hỏi cho nghiêm túc: nếu bậc A-la-hán VẪN đau khi bị thương, thì rốt cuộc CÁI GÌ đã hết?
  • Huynh Trưởng. Để ý cái khung: mỗi bài nói HAI LẦN rằng người thuật chỉ đang thuật lại. Đó là một thói quen tốt cho bất cứ ai đứng lớpnói rõ chỗ nào là lời kinh, chỗ nào là lời mình.
  • Hai câu nào bọc lấy mỗi bài trong quyển này, và chúng khẳng định điều gì?
  • Kinh tạng nói gì về bà Khujjuttarā — và KHÔNG nói gì?
  • Niết-bàn giới hữu dư y, cái gì đã hếtcái gì CHƯA hết?
  • Iti 107 dùng chữ nào cho cả hai bên, và vì sao chỗ đó quan trọng?
  • 27 + 22 + 50 + 13. Nhóm nào lớn nhất, và cả quyển xếp theo lối nào?
  • Hai người nữ được nêu làm thước đo cho mọi nữ cư sĩ là ai, và mỗi người gắn với quyển sách nào?

Xin nói rõ ngay: trang này KHÔNG đủ ba nguồn theo đúng chuẩn thường lệ của chúng tôi. Kho kinh của trang KHÔNG có bản Việt cho quyển Itivuttaka (đã dò: 0/112 tệp có bản Việt), và suttacentral.net cũng không có bản Việt cho quyển này (dò ngày 24/8/2026). Ba nhân chứng của trang là: nguyên văn Pāli ấn bản Mahāsaṅgīti; bản Anh của Tỳ-kheo Sujato; bản Anh của John D. Irelandba nhân chứng độc lập, nhưng chỉ HAI ngôn ngữ. Mọi câu tiếng Việt trong các khung trích là do chúng tôi dịch từ Pāli rồi đối chiếu hai bản Anh, thuật ngữ theo lối dùng của HT. Thích Minh Châu. Riêng phần về bà Khujjuttarā thì ĐỦ BA NGUỒN, vì bốn bài dẫn ở Phần II đều thuộc Tăng ChiTương Ưng, có bản Việt của HT. Thích Minh Châu trong kho. Các con số đều đếm bằng máy: 27 + 22 + 50 + 13 = 112, và đếm được đúng 112 tệp; 112/112 tệp mang công thức Vuttañhetaṁ bhagavatā. Câu tulā … pamāṇaṁ về bà Khujjuttarā được dò trên toàn kho: có ở ba bài (SN 17.24 · AN 2.133 · AN 4.176), ngoài bài etadagga AN 1.260. Chỗ chúng tôi CHƯA kiểm, xin nói rõ: chưa đối chiếu Chú giải, nên không xác nhận việc quyển sách do bà truyền lại, cũng không nói gì về thân thế bà; và chưa kiểm xem bà Uttarā Nandamātā trong bảng etadagga có phải cùng một người với bà Veḷukaṇḍakī Nandamātā ở AN 7.53 hay không — chúng tôi chỉ dẫn theo đúng danh xưng mà từng bài kinh dùng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.