G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 54.1
Chỉ Một Pháp — Và Ai Cũng Sẵn Có

Kinh Một Pháp

Ekadhammasutta — SN 54.1 · Tương Ưng Hơi Thở · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộTương Ưng Hơi Thở

Đức Phật mở đầu cả chương này bằng câu: có MỘT pháp, được tu tập, được làm cho sung mãn, thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Không phải một nhóm bốn, không phải một nhóm bảy — MỘT.một pháp ấy là thứ mà mọi người trong phòng này đang sẵn có.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Đại Phẩm, chương 54 (Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra), bài thứ 1; cả chương có 20 bài
  • Phẩm — phẩm I mang tên Một Pháp, lấy theo chính bài kinh này
  • Cùng mười sáu bước với Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm (MN 118) — bài ấy khai triển tiếp thành Tứ Niệm Xứ rồi Thất Giác Chi
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bài kinh bắt đầu bằng một lời rao rất ngắn: có một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Thế nào là một pháp? Niệm hơi thở vô, hơi thở ra. Rồi Đức Phật dạy chỗ ngồi: đi đến rừng, hay đến gốc cây, hay đến chỗ nhà trống; ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt. Vị ấy chánh niệm thở vô, chánh niệm thở ra. Từ đó mở ra mười sáu bước, và mười sáu bước ấy chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm bốn bước. Bốn bước đầu ở nơi thân: biết hơi thở dài, biết hơi thở ngắn, cảm giác toàn thân, an tịnh thân hành. Xin để ý hai bước đầu chỉ dùng chữ rõ biết — chưa làm gì cả, chỉ biết. Phải tới bước thứ ba mới có chữ vị ấy tập. Bốn bước kế ở nơi thọ: cảm giác hỷ, cảm giác lạc, cảm giác tâm hành, an tịnh tâm hành. Bốn bước sau nữa ở nơi tâm: cảm giác về tâm, tâm hân hoan, tâm định tĩnh, tâm giải thoát. Và bốn bước cuối ở nơi pháp: quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt, quán từ bỏ. Bốn nhóm ấy chính là Tứ Niệm Xứ — thân, thọ, tâm, pháp — xếp theo đúng thứ tự. Bài MN 118 nói rõ chỗ tương ứng ấy; bài SN 54.1 này chỉ trình bày mười sáu bước rồi khép lại bằng đúng câu mở đầu: tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Điều đáng chú ý về mặt bố cục là chỗ đứng của bài kinh: nó mở đầu cả một chương gồm hai mươi bài, và chương ấy nằm trong Thiên Đại Phẩm, giữa các chương về ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Nghĩa là hơi thở không được xếp như một pháp môn phụ, mà đứng ngay cạnh Niệm Xứ, Giác Chi và Bát Chánh Đạo.

Mười sáu bướcBốn nhóm, mỗi nhóm bốn bước — cộng lại đúng mười sáu

BướcChữ PāliLời kinh (HT. Thích Minh Châu)
Nhóm I · THÂN (bước 1–4)
1dīghaṁ assasati / passasatiThở vô dài, rõ biết “Tôi thở vô dài”; thở ra dài, rõ biết “Tôi thở ra dài”
2rassaṁ assasati / passasatiThở vô ngắn, rõ biết “Tôi thở vô ngắn”; thở ra ngắn, rõ biết “Tôi thở ra ngắn”
3sabbakāyappaṭisaṁvedī“Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
4passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ“An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
Nhóm II · THỌ (bước 5–8)
5pītippaṭisaṁvedī“Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
6sukhappaṭisaṁvedī“Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
7cittasaṅkhārappaṭisaṁvedī“Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
8passambhayaṁ cittasaṅkhāraṁ“An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
Nhóm III · TÂM (bước 9–12)
9cittappaṭisaṁvedī“Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
10abhippamodayaṁ cittaṁ“Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
11samādahaṁ cittaṁ“Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
12vimocayaṁ cittaṁ“Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
Nhóm IV · PHÁP (bước 13–16)
13aniccānupassī“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
14virāgānupassī“Quán ly tham, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
15nirodhānupassī“Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập
16paṭinissaggānupassī“Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô / thở ra”, vị ấy tập

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 54.1:1.3–1.5 (lời rao)
“Ekadhammo, bhikkhave, bhāvito bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso. Katamo ekadhammo? Ānāpānassati.
—Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Thế nào là một pháp? Niệm hơi thở vô, hơi thở ra.
“Mendicants, when one thing is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. What one thing? Mindfulness of breathing.
SN 54.1:1.7–1.8 (chỗ ngồi và thế ngồi)
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So satova assasati, satova passasati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt; vị ấy chánh niệm thở vô, chánh niệm thở ra.
It’s when a mendicant—gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut—sits down cross-legged, sets their body straight, and brings mindfulness to the present. Just mindful, they breathe in. Mindful, they breathe out.
SN 54.1:2.1 (bước 1 · chỉ “rõ biết”, chưa làm gì)
Dīghaṁ vā assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṁ vā passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti pajānāti;
Thở vô dài, vị ấy rõ biết: “Tôi thở vô dài”. Thở ra dài, vị ấy rõ biết: “Tôi thở ra dài”.
Breathing in heavily they know: ‘I’m breathing in heavily.’ Breathing out heavily they know: ‘I’m breathing out heavily.’
SN 54.1:2.3–2.4 (bước 3 và 4 · bắt đầu có chữ “vị ấy TẬP”)
‘sabbakāyappaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati … ‘passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ passasissāmī’ti sikkhati.
“Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập … “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
They practice like this: ‘I’ll breathe in experiencing the whole body.’ … They practice like this: ‘I’ll breathe in stilling the physical process.’ They practice like this: ‘I’ll breathe out stilling the physical process.’
SN 54.1:3.1–3.2 (bước 5 và 6 · hỷ và lạc)
‘Pītippaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati … ‘sukhappaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati …
“Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập … “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập …
They practice like this: ‘I’ll breathe in experiencing rapture.’ … ‘I’ll breathe in experiencing bliss.’ …
SN 54.1:4.2–4.4 (bước 10, 11, 12 · làm việc với cái tâm)
‘abhippamodayaṁ cittaṁ assasissāmī’ti sikkhati … ‘samādahaṁ cittaṁ assasissāmī’ti sikkhati … ‘vimocayaṁ cittaṁ assasissāmī’ti sikkhati …
“Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập … “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập … “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập …
They practice like this: ‘I’ll breathe in gladdening the mind.’ … ‘I’ll breathe in immersing the mind in samādhi.’ … ‘I’ll breathe in freeing the mind.’ …
SN 54.1:4.5–5.4 (bước 13 tới 16 · bốn bước cuối)
‘aniccānupassī assasissāmī’ti sikkhati … ‘virāgānupassī …’ … ‘nirodhānupassī …’ … ‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati.
“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập … “Quán ly tham …” … “Quán đoạn diệt …” … “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
They practice like this: ‘I’ll breathe in observing impermanence.’ … ‘observing fading away.’ … ‘observing cessation.’ … ‘I’ll breathe in observing letting go.’ They practice like this: ‘I’ll breathe out observing letting go.’
SN 54.1:6.1 (khép lại bằng đúng câu mở đầu)
Evaṁ bhāvitā kho, bhikkhave, ānāpānassati evaṁ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā”ti.
Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như vậy, niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn.
Mindfulness of breathing, when developed and cultivated in this way, is very fruitful and beneficial.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ānāpānassatiniệm hơi thở vô, hơi thở raāna (thở vô) + apāna (thở ra) + sati (niệm)
ekadhammamột pháptên bài kinh và tên phẩm mở đầu chương
mahapphala · mahānisaṁsacó quả lớn · có lợi ích lớncặp chữ mở và đóng bài kinh
pajānātirõ biếtchữ của hai bước ĐẦU — chỉ biết, chưa làm gì
sikkhativị ấy tập, vị ấy họcchữ của mười bốn bước SAU — từ đây mới có sự tập luyện
parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvāđặt niệm trước mặtSujato dịch “brings mindfulness to the present”
kāyasaṅkhārathân hành — cái vận hành của thânchính hơi thở là thân hành
cittasaṅkhāratâm hành — cái vận hành của tâmgồm thọ và tưởng
pīti / sukhahỷ / lạchỷ là niềm nức nở, lạc là sự dễ chịu êm ả
paṭinissaggatừ bỏ, buông xuốngbước thứ mười sáu, cũng là bước cuối

Xin thưa chữ đáng để ý ngay từ dòng đầu: “MỘT PHÁP”. Không phải bốn, không phải bảy, không phải tám. MỘT.

Và một pháp ấy KHÔNG PHẢI thứ phải đi tìm cho có. Mọi người trong phòng đang làm nó sẵn rồi. Chỉ là chưa ai để ý.

Xin thưa vì sao điều ấy quan trọng với Gia Đình Phật Tử. Đây là pháp môn trao cho một em Oanh Vũ đượcmà cũng là pháp môn bậc A-la-hán vẫn còn dùng. Cùng một hơi thở, mười sáu bước.

Bây giờ xin bác nhìn kỹ chỗ khác nhau giữa bước HAI và bước BA. Cả phương pháp nằm trong một chữ.

Bước một và bước hai chỉ dùng chữ pajānāti — RÕ BIẾT. Thở dài thì biết là dài. Thở ngắn thì biết là ngắn. KHÔNG làm gì với hơi thở cả.

Từ bước ba trở đi, chữ đổi thành sikkhati — VỊ ẤY TẬP. Bây giờ mới có sự tập luyện.

Nghĩa là bài kinh KHÔNG mở đầu bằng cách bắt ai thở cho đúng. Nó mở đầu bằng việc BIẾT. Xin thưa, đó là chỗ nhiều người dạy thiền làm ngược — và làm các em sợ ngồi thiền.

Rồi tới bốn nhóm, mỗi nhóm bốn bước. THÂN · THỌ · TÂM · PHÁP. Đó chính là TỨ NIỆM XỨ, xếp theo đúng thứ tự — và MN 118 nói rõ chỗ tương ứng ấy.

Bốn nhân bốn là mười sáu. Con số tự cộng ra được, và nên cộng thửvì có sách kể thiếu bước, có sách gộp hai bước làm một.

Xin để ý riêng nhóm thứ ba, ở bước thứ mười: “VỚI TÂM HÂN HOAN, tôi sẽ thở vô.”

Làm cho cái tâm vui lên được KỂ NHƯ MỘT BƯỚC CỦA PHÁP TUchứ không phải phần thưởng sau khi tu. Đạo Phật không dạy ngồi thiền với bộ mặt nặng nề.

Và bước thứ mười sáu, bước cuối cùng, là QUÁN TỪ BỎ. Pháp môn này kết thúc bằng cách ĐẶT XUỐNG, không phải bằng cách được thêm.

Xin thưa lời cuối về chỗ đứng của chương kinh. Hai mươi bài, nằm trong Thiên Đại Phẩm, đứng ngay cạnh Niệm Xứ, Giác ChiBát Chánh Đạo. Hơi thở không phải pháp môn phụ — nó được xếp ngang hàng.

  • “Phải thở theo một cách đặc biệt.” Hai bước đầu chỉ bảo RÕ BIẾT hơi thở dài hay ngắn. Không sửa gì cả. Chữ “vị ấy tập” mãi bước ba mới xuất hiện.
  • “Ngồi thiền là phải nghiêm nghị.” Bước thứ mười là “với TÂM HÂN HOAN”và đó là một bước của pháp tu, không phải phần thưởng.
  • “Niệm hơi thở là bài tập cho người mới.” Chương này nằm giữa các chương về ba mươi bảy phẩm trợ đạo, và bước thứ mười sáu là QUÁN TỪ BỎ.
  • “Có mười sáu pháp môn riêng.” Chỉ có MỘT, mở ra mười sáu bước, chia bốn nhóm bốnđúng bốn niệm xứ.
  • Ngành Oanh. Chỉ hai bước đầu thôi. Mười hơi thở, rồi hỏi các em: hơi thở của con dài hay ngắn? Đừng dạy gì thêm — hai bước ấy đã đúng kinh.
  • Ngành Thiếu. Học trọn nhóm thứ nhất (bước 1–4), và chỉ cho các em thấy chữ đổi ở bước ba: từ “rõ biết” sang “vị ấy tập”.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đặt mười sáu bước cạnh Tứ Niệm Xứ mà đối chiếu, rồi đọc thêm MN 118. Bàn riêng về bước thứ mười — vì sao “làm tâm hân hoan” lại là một bước tu?
  • Ở trại. Đây là pháp môn không cần dụng cụ, không cần phòng yên. Trước giờ ngủ, mười hơi thở, không giảng gì thêm.
  • “Một pháp” ở đây là gì, và vì sao gọi là một pháp?
  • Chữ nào đổi giữa bước hai và bước ba, và vì sao điều ấy quan trọng?
  • Kể bốn nhóm, mỗi nhóm bốn bước.
  • Vì sao “với tâm hân hoan” lại được kể là một bước tu?
  • Bước thứ mười sáu là gì, và nó nói gì về chỗ kết của con đường?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên trọn bàiđếm lại mười sáu bước theo số đoạn có đánh số trong kinh văn (đoạn 2.1 tới 5.4) — bốn nhóm, mỗi nhóm bốn, cộng lại đúng 16; cả chương 54 có 20 bài (54.1–54.20). Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem SN 54.1. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.