G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 34 & 53
Vào Được Và Giỏi Không Phải Cùng Một Tài

Hai Chương Về Thiền

Jhānasaṃyutta — SN 34 và SN 53 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộSN 34 & SN 53

Tương Ưng Bộ có HAI chương cùng một tên. Một chương tháo người tu Thiền ra thành các tài riêng và cho thấy VÀO ĐƯỢC một trạng thái và GIỎI trong đó là hai khả năng khác nhau. Chương kia không nói gì mới về Thiền cả, và nói điều ấy năm mươi bốn lần.

  • SN 34 — Thiên Uẩn, Tương Ưng Thiền; 55 bài
  • SN 53 — Thiên Đại Phẩm, cũng gọi Tương Ưng Thiền; 54 bài
  • Hai chương, CÙNG một tên Pāli (Jhānasaṃyutta), mà hình thức khác hẳn nhau — chúng con gom một trang để bác thấy chỗ khác nhau ấy
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

SN 34 bắt đầu bằng một phép chia bốn. “Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người tu Thiền.” Rồi Ngài kể: có vị thiện xảo về THIỀN ĐỊNHkhông thiện xảo về THIỀN CHỨNG; có vị thiện xảo về thiền chứng mà không thiện xảo về thiền định; có vị không thiện xảo cả hai; và có vị thiện xảo cả hai. Rồi Ngài kết: “Vị thiện xảo CẢ HAI là bậc tối thượng, tối thắng, cao nhất, thù diệu nhất trong bốn hạng ấy.” Đó là bài thứ nhất. Rồi năm mươi bốn bài còn lại đổi CẶP — và chính chỗ ấy là nội dung của chương. Kinh đem từng cặp tài riêng ra ghép với nhau: thiện xảo về đứng lại trong định và về ra khỏi định; về kham nhẫn trong định và về đối tượng của định; về bền bỉ thực hành (sātaccakārī) và về làm điều thích hợp (sappāyakārī). Mỗi cặp lại chia bốn hạng, và lần nào kết luận cũng là: vị có CẢ HAI là hơn hết. SN 53 thì làm một việc hoàn toàn khác. Nó mở đầu bằng công thức bốn Thiền — ly dục ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất; tịnh chỉ tầm tứ, chứng và trú Thiền thứ hai; ly hỷ trú xả, Thiền thứ ba; và Thiền thứ tư. Rồi nó đặt bốn Thiền ấy vào đúng cái ví dụ dòng sông mà mình đã gặp ở Tương Ưng Chánh CầnTương Ưng Lực: sông Hằng thiên về phương Đông; cũng vậy, vị Tỳ-kheo tu tập bốn Thiền thì thiên về Niết-bàn. Và cứ thế năm mươi bốn bài, đổi ví dụ mà giữ nguyên bốn Thiền. Hai chương, một đề tài, hai lối trình bày hoàn toàn khác nhau. SN 34 hỏi: người tu Thiền GIỎI hay DỞ ở chỗ nào? SN 53 hỏi: tu bốn Thiền thì ĐI VỀ ĐÂU?

Bốn hạng người tu ThiềnSN 34.1 — và cả 55 bài đều theo khuôn này

Thiện xảo về THIỀN ĐỊNH
(samādhikusala)
Thiện xảo về THIỀN CHỨNG
(samāpattikusala)
Hạng 1
Hạng 2
Hạng 3
Hạng 4— tối thượng trong bốn hạng

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 34.1:1.2–1.5 ⭐ (bốn hạng)
“Cattārome, bhikkhave, jhāyī. Katame cattāro? Idha, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ samādhikusalo hoti, na samādhismiṁ samāpattikusalo. Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ samāpattikusalo hoti, na samādhismiṁ samādhikusalo…
—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người tu Thiền này. Thế nào là bốn? Ở đây, có vị tu Thiền, thiện xảo về Thiền định trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về Thiền chứng trong Thiền định. Ở đây, có vị tu Thiền, thiện xảo về Thiền chứng trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về Thiền định…
“Mendicants, there are these four meditators. What four? One meditator is skilled in immersion but not in entering it. One meditator is not skilled in immersion but is skilled in entering it…
SN 34.1:1.8 ⭐ (hạng thứ tư)
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ jhāyī samādhismiṁ samādhikusalo ca hoti samādhismiṁ samāpattikusalo ca ayaṁ imesaṁ catunnaṁ jhāyīnaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền thiện xảo cả về Thiền định lẫn về Thiền chứng — vị ấy là tối thượng, tối thắng, cao nhất, thù diệu nhất trong bốn hạng ấy.
Of these, the meditator skilled in immersion and in entering it is the foremost, best, chief, highest, and finest of the four.
SN 34.55:1.4 (một cặp khác — bền bỉ và thích hợp)
Idha, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī hoti, na samādhismiṁ sappāyakārī.
Ở đây, có vị tu Thiền, làm một cách liên tục trong Thiền định, nhưng không làm điều thích hợp trong Thiền định.
One meditator is skilled in practicing persistently for immersion but not in doing what’s conducive to it.
SN 53.1:1.3–1.5 (SN 53 mở đầu — công thức bốn Thiền)
“cattārome, bhikkhave, jhānā. Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
—Này các Tỷ-kheo, có bốn Thiền này. Thế nào là bốn? Ở đây, Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
“Mendicants, there are these four absorptions. What four? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures … enters and remains in the first absorption…
SN 53.1:1.6 (Thiền thứ hai)
Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Làm tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm.
As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one…
Chữ PāliNghĩaGhi chú
jhāyīngười tu Thiềnchữ chỉ NGƯỜI, không phải chỉ trạng thái
samādhikusalathiện xảo về Thiền địnhbản Việt: “thiện xảo về Thiền định trong Thiền định”
samāpattikusalathiện xảo về Thiền chứngsamāpatti = sự NHẬP vào; Sujato dịch skilled in entering it
sātaccakārīngười làm một cách LIÊN TỤC, bền bỉmột trong các cặp về sau
sappāyakārīngười làm điều THÍCH HỢPghép với chữ trên thành một cặp rất đáng học
aggo seṭṭho mokkho uttamo pavarotối thượng · tối thắng · cao nhất · thù diệunăm chữ khen, dành cho hạng thứ tư
vivekaja pītisukhahỷ lạc do viễn ly sanhThiền thứ nhất
samādhija pītisukhahỷ lạc do định sanhThiền thứ hai
nibbānaninnathiên về Niết-bànchữ của ví dụ dòng sông trong SN 53

SN 34 hỏi một câu mà thường không ai hỏi: người tu Thiền GIỎI Ở CHỖ NÀO?

Và câu đáp đầu tiên là: CÓ NHIỀU HƠN MỘT THỨ để giỏi.

Thiện xảo về THIỀN ĐỊNH, và thiện xảo về THIỀN CHỨNG — là HAI khả năng riêng.

Chỗ ấy đúng với gần như mọi việc, và ai cũng đã gặp mà chưa gọi tên.

Có người VÀO ĐƯỢC một trạng thái mà KHÔNG BIẾT LÀM GÌ trong đó.

Có người BIẾT RẤT RÕ phải làm gì trong đó, mà KHÔNG VÀO ĐƯỢC cho chắc.

Chương kinh gọi tên đúng cái khoảng cách ấy — rồi dùng năm mươi bốn bài nữa để mở nó ra rộng hơn.

Có một cặp về sau đáng mang về riêng.

Sātaccakārī — người làm BỀN BỈ, liên tục. Sappāyakārī — người làm điều THÍCH HỢP.

Bền bỉ mà không thích hợp thì thành CÀY BỪA vô ích. Thích hợp mà không bền bỉ thì thành TRÔI NỔI. Và kinh nói vị có CẢ HAI là hơn hết.

Còn SN 53 thì xin mô tả cho thẳng thắn.

Nó KHÔNG thêm gì mới về Thiền. Nó nêu bốn Thiền theo đúng công thức chuẩn, rồi chạy chuỗi ví dụ sông Hằng lên trên.

Năm mươi bốn bài như vậy. Và đó là một việc chính đáng của một chương kinh.

Vì chuỗi sông Hằng chưa bao giờ nói về NỘI DUNG. Nó nói về HƯỚNG ĐI.

Nó nói về bốn Thiền ĐÚNG điều nó đã nói về bốn chánh cần và về năm lực: chúng NGHIÊNG về Niết-bàn.

Nên hai chương KHÔNG tranh nhau. Chúng trả lời hai câu hỏi khác nhau.

SN 34 hỏi: LÀM SAO GIỎI được việc này? SN 53 hỏi: việc này ĐI VỀ ĐÂU?

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng, và nó đến từ SN 34.

Khi dạy ngồi thiền, mình thường chỉ dạy CÁCH VÀO. Ngồi thế nào, thở ra sao, đếm tới mấy.

Chương kinh này nói đó mới là MỘT trong ít nhất HAI tàivà vị có CẢ HAI mới là hơn hết trong bốn hạng.

  • “Vào được trạng thái nghĩa là giỏi trạng thái ấy.” Cả bài kinh mở đầu tồn tại để TÁCH hai điều ấy ra.
  • “SN 53 dạy điều mới về Thiền.” Không, và chúng con nói thẳng như vậy. Nó áp chuỗi sông Hằng lên bốn Thiền.
  • “Hai chương cùng tên là nhầm lẫn.” Kinh tạng có cả hai, ở hai Thiên khác nhau, và làm hai việc khác nhau.
  • “Cứ bền bỉ là chính.” Cặp ấy là BỀN BỈ và THÍCH HỢP, và vị có cả hai mới được gọi là tối thượng.
  • Ngành Oanh. Xuống được hồ bơibiết bơi — hai chuyện khác nhau. Đó là cả bài kinh.
  • Ngành Thiếu. Sau giờ ngồi thiền, hỏi HAI câu riêng: “Con vào được không?”“Vào rồi con biết làm gì không?”
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về cặp BỀN BỈ / THÍCH HỢP: đơn vị mình đang thiếu cái nào? Ngồi đều mà không hợp, hay hợp mà không đều?
  • SN 34.1 tách ra hai tài nào?
  • Hạng nào được gọi là tối thượng, và vì sao?
  • Cặp “bền bỉ” và “thích hợp” nghĩa là gì trong thực tế?
  • SN 53 trả lời câu hỏi nào khác?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Số bài đã đếm lại theo danh mục: SN 34 có 55 bài, SN 53 có 54 bài.

Xin ghi rõ mức đối chiếu: chúng tôi đã đối chiếu ba bản trên bài mở đầu của cả hai chương và trên bài SN 34.55 (một cặp thiện xảo về sau). Chúng tôi KHÔNG đọc hết 55 bài của SN 34, nên câu “các bài còn lại đổi cặp” xin bác đọc ở mức đã kiểm trên mẫu. Về SN 53, chúng tôi đã kiểm bài mở đầu và xác nhận nó dùng đúng chuỗi ví dụ sông Hằng như SN 49 và SN 50. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng: SN 34.1 · SN 34.55 · SN 53.1–12. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.