"about": { "@type": "Thing", "name": "Parinibbāna · Theravāda Buddhism" }, "isPartOf": { "@type": "Book", "name": "Dīgha Nikāya", "url": "https://www.gdpthuyenquang.com/kinh/truong-bo.html" }, "publisher": { "@type": "Organization", "name": "Gia Đình Phật Tử Huyền Quang", "url": "https://www.gdpthuyenquang.com/" } }
G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 17
Trường Bộ · Nói Bên Giường Nhập Diệt

Kinh Đại Thiện Kiến Vương

Mahāsudassana Sutta — DN 17 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Đại Thiện Kiến Vương

Tôn giả Ānanda nài xin Đức Phật đừng nhập diệt ở cái thị trấn nhỏ giữa rừng này. Đức Phật đáp bằng một câu chuyện: nơi đây từng là Kusāvatī, kinh đô của một Chuyển Luân Thánh Vương, bảy lớp thành bằng vàng bạc châu báu, tám vạn bốn ngàn voi. Rồi Ngài nói: Ta chính là vị vua ấy — và tất cả đã qua, đã diệt, đã biến hoại.

  • Bộ — Trường Bộ, bài 17, thuộc Đại Phẩm.
  • Nơi và lúcrừng Sāla của dòng Malla ở Upavattana, gần Kusinārā, giữa hai cây Sāla — đúng lúc Đức Phật sắp nhập Niết-bàn.
  • Người ngheTôn giả Ānanda, vừa xin Ngài hãy nhập diệt ở một đại đô thị nào đó thay vì “thị trấn nhỏ bé này, thị trấn hoang vu này, thị trấn phụ thuộc này”.
  • Quan hệ với DN 16Kinh Đại Bát Niết-Bàn nhắc tới chuyện này rất vắn tắt; DN 17 kể trọn.
  • Câu kếtđúng bài kệ được đọc lúc Đức Phật nhập diệt: aniccā vata saṅkhārā…

Đức Phật nằm giữa hai cây Sāla ở Kusinārā, sắp nhập diệt. Tôn giả Ānanda thưa: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, đô thị hoang vu này, đô thị phụ thuộc này. Có những đô thị khác to lớn hơn — Campā, Rājagaha, Sāvatthī, Sāketa, Kosambī, Bārāṇasī. Thế Tôn hãy diệt độ tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy có đại chúng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ rất tin tưởng Thế Tôn, họ sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.” Đức Phật ngăn lại: “Này Ānanda, chớ có nói như vậy!” Rồi Ngài kể: thuở xưa nơi đây là kinh thành Kusāvatī, kinh đô của vua Đại Thiện Kiến (Mahāsudassana), một Chuyển Luân Thánh Vương trị vì bốn phương. Bài kinh dành phần lớn để tả kinh thành ấy — tả rất dài và rất chi tiết. Kusāvatī dài mười hai do-tuần, rộng bảy do-tuần; phồn thịnh, đông người, đầy đủ đồ ăn; không lúc nào vắng mười thứ tiếng: voi, ngựa, xe, trống lớn, trống nhỏ, tỳ bà, ca hát, xập xỏa, chuông — và tiếng thứ mười là “Hãy uống đi, hãy ăn đi!”. Thành có bảy lớp tường (vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh, san hô, xa cừ, và một lớp bằng mọi thứ báu), bốn cửa, bảy hàng cây tāla bằng bảy thứ báu — cây vàng thì thân vàng lá và trái bạc. Rồi tới bảy báu của Chuyển Luân Thánh Vương: xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, cư sĩ báu, tướng quân báu; và bốn như ý đức. Rồi lâu đài Dhammahồ sen. Vua vào cao đường Đại Trang Nghiêm, tu bốn thiền rồi trú bốn phạm trú — từ, bi, hỷ, xả. Đoạn cảm động nhất là lúc hoàng hậu Subhaddā tới thăm. Bà tưởng vua muốn nghe kể lại của cải nên đọc lại từng thứ một: tám vạn bốn ngàn kinh thành này là của Đại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài, voi, ngựa, xe, châu ngọc, phụ nữ, gia chủ, Sát-đế-lỵ, nhũ ngưu…“Đại vương hãy khởi lòng ái dục đối với chúng, Đại vương hãy tha thiết với đời sống!” Nhưng vua bảo bà nói ngược lại: “Đại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Đại vương chớ có ái luyến đời sống!” Bà khóc, lau nước mắt, rồi nói đúng như vậy. Vua Đại Thiện Kiến mệnh chung — kinh ghi cảm giác lúc chết “như một người gia chủ sau bữa cơm thịnh soạn trở nên buồn ngủ” — và sanh lên cõi Phạm thiên. Ngài sống tám vạn bốn ngàn năm làm hoàng tử, ngần ấy năm làm phó vương, ngần ấy năm làm quốc vương, ngần ấy năm sống phạm hạnh trong lâu đài Dhamma. Rồi tới chỗ then chốt: “Này Ānanda, ngươi có thể nghĩ: thời ấy vua Đại Thiện Kiến là một người khác. Chớ có quan niệm như vậy. Thời ấy chính Ta là vua Đại Thiện Kiến. Và Ngài đếm lại: trong tám vạn bốn ngàn kinh thành, Ta chỉ ở một; trong tám vạn bốn ngàn lâu đài, Ta chỉ ở một; tám vạn bốn ngàn sàng toạ, Ta chỉ dùng một; tám vạn bốn ngàn voi, Ta chỉ cỡi một — tượng vương Uposatha; ngựa, chỉ một — mã vương Valāhaka; xe, chỉ một — xe Vejayanta; phụ nữ, chỉ một người hầu; y phục, chỉ một đôi; và trong tám vạn bốn ngàn món ăn, Ta chỉ ăn nhiều nhất một nāḷi cơm với đồ ăn tương xứng. Rồi: “Này Ānanda, hãy xem, tất cả các pháp hữu vi ấy đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Các hành là vô thường như vậy, không kiên cố như vậy, không đáng tin cậy như vậy. Vậy đủ để nhàm chán, đủ để ly tham, đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.” Ngài nói thêm: “Ta nhớ đã sáu lần bỏ thân tại chỗ này; lần thứ bảy là khi làm Chuyển Luân Thánh Vương. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới này mà Như Lai sẽ bỏ thân lần thứ tám.” Và bài kinh khép lại bằng bài kệ mà về sau được đọc lên chính lúc Đức Phật nhập diệt: Các hành là vô thường / có sanh phải có diệt / đã sanh rồi phải diệt / tịch diệt ấy là lạc.

Bố cục bài kinhTám phần theo tên trong ấn bản Mahāsaṅgīti

  • Mở đầu (đoạn 1.1–1.3) — Lời thỉnh cầu của Tôn giả Ānanda và câu ngăn của Đức Phật.
  • 1. Kusāvatīrājadhānī — Kinh thành Kusāvatī12 × 7 do-tuần; mười thứ tiếng không lúc nào dứt; bảy lớp tường, bốn cửa, bảy hàng cây tāla.
  • 2. Sattaratanasamannāgata — Bảy báuxe báu · voi báu · ngựa báu · châu báu · nữ báu · cư sĩ báu · tướng quân báu (đếm lại đúng bảy).
  • 3. Catuiddhisamannāgata — Bốn như ý đứcbốn điều thành tựu của vị vua.
  • 4. Dhammapāsādapokkharaṇī — Lâu đài Dhamma và hồ sen.
  • 5. Jhānasampatti — Chứng thiền — Vua vào cao đường Đại Trang Nghiêm, chứng bốn thiền, trú bốn phạm trú (từ, bi, hỷ, xả).
  • 6. Caturāsītinagarasahassādi — Tám vạn bốn ngàn mỗi thứ.
  • 7. Subhaddādeviupasaṅkamana — Hoàng hậu Subhaddā tới thăm — Bà nói “hãy tha thiết với đời sống”; vua bảo bà nói ngược lại. Bà khóc, lau nước mắt, rồi nói đúng như vua dạy.
  • 8. Brahmalokūpagama — Sanh lên Phạm thiên“Ta chính là vua ấy”; đếm lại chỉ dùng một trong mỗi tám vạn bốn ngàn; kết bằng bài kệ vô thường.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 17.1
(dn17:1.2.2)
“mā, bhante, bhagavā imasmiṁ khuddakanagarake ujjaṅgalanagarake sākhānagarake parinibbāyi.
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, đô thị hoang vu này, đô thị phụ thuộc này.
“Sir, please don’t be fully extinguished in this little hamlet, this jungle hamlet, this branch hamlet.”
DN 17.1
(dn17:1.3.4–1.3.6)
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano nāma ahosi khattiyo muddhāvasitto cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto. Rañño, ānanda, mahāsudassanassa ayaṁ kusinārā kusāvatī nāma rājadhānī ahosi.
Này Ānanda, thuở xưa có vị vua tên là Đại Thiện Kiến, một vị Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, chinh phục bốn phương, đã đạt được sự an ổn cho quốc độ. Này Ānanda, chính Kusinārā này là kinh đô của vua Đại Thiện Kiến, tên gọi là Kusāvatī.
“Once upon a time, there was a king named Mahāsudassana whose dominion extended to all four sides, and who achieved stability in the country. His capital was this Kusinārā, which at the time was named Kusāvatī.”
DN 17.1
(dn17:1.3.10–1.3.11)
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī dasahi saddehi avivittā ahosi divā ceva rattiñca, seyyathidaṁ—hatthisaddena assasaddena rathasaddena bherisaddena mudiṅgasaddena vīṇāsaddena gītasaddena saṅkhasaddena sammasaddena pāṇitāḷasaddena ‘asnātha pivatha khādathā’ti dasamena saddena.
Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī ngày đêm không lúc nào vắng mười loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông, và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi!”
Kusāvatī was never free of ten sounds by day or night, namely: the sound of elephants, horses, chariots, drums, clay drums, arched harps, singing, horns, gongs, and handbells; and the cry, ‘Eat, drink, be merry!’ as the tenth.
DN 17.2
(dn17:2.13.1–2.13.2)
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano na cirasseva kālamakāsi. Seyyathāpi, ānanda, gahapatissa vā gahapatiputtassa vā manuññaṁ bhojanaṁ bhuttāvissa bhattasammado hoti, evameva kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa māraṇantikā vedanā ahosi.
Này Ānanda, không bao lâu vua Đại Thiện Kiến mệnh chung. Này Ānanda, giống như một người gia chủ hay con một người gia chủ, sau một bữa cơm thịnh soạn trở nên buồn ngủ — cũng tương tự như vậy là cảm giác của vua Đại Thiện Kiến khi mệnh chung.
Not long after that, King Mahāsudassana passed away. And the feeling he had close to death was like a householder or their child falling asleep after eating a satisfying meal.
DN 17.2
(dn17:2.14.1–2.14.3)
Siyā kho panānanda, evamassa: ‘añño nūna tena samayena rājā mahāsudassano ahosī’ti, na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Ahaṁ tena samayena rājā mahāsudassano ahosiṁ.
Này Ānanda, các ngươi có thể nghĩ: “Thời ấy, vua Đại Thiện Kiến là một vị khác”. Này Ānanda, chớ có quan niệm như vậy. Thời ấy chính Ta là vua Đại Thiện Kiến.
Now, Ānanda, you might think: ‘Surely King Mahāsudassana must have been someone else at that time?’ But you should not see it like that. I myself was King Mahāsudassana at that time.
DN 17.2
(dn17:2.15.10)
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti thālipākasahassānaṁ ekoyeva so thālipāko hoti, yato nāḷikodanaparamaṁ bhuñjāmi tadupiyañca sūpeyyaṁ.
Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn món ăn ấy, chỉ có một món ăn mà Ta dùng thời ấy — Ta ăn nhiều nhất là một nāḷi cơm với đồ ăn tương xứng.
Of those 84,000 servings of food, I only had one, eating at most a cup of rice with suitable sauce.
DN 17.2
(dn17:2.16.1–2.16.5)
Passānanda, sabbete saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā. Evaṁ aniccā kho, ānanda, saṅkhārā; evaṁ addhuvā kho, ānanda, saṅkhārā; evaṁ anassāsikā kho, ānanda, saṅkhārā. Yāvañcidaṁ, ānanda, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ, alaṁ virajjituṁ, alaṁ vimuccituṁ.
Này Ānanda, hãy xem, tất cả những pháp hữu vi ấy nay đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Này Ānanda, các hành là vô thường như vậy, không kiên cố như vậy, không đáng tin cậy như vậy. Này Ānanda, thật đủ để nhàm chán, đủ để ly tham, đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
See, Ānanda! All those conditioned phenomena have passed, ceased, and perished. So impermanent are conditions, so unstable are conditions, so unreliable are conditions. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.
DN 17.2
(dn17:2.17.1–2.17.2)
Chakkhattuṁ kho panāhaṁ, ānanda, abhijānāmi imasmiṁ padese sarīraṁ nikkhipitaṁ, tañca kho rājāva samāno cakkavattī… ayaṁ sattamo sarīranikkhepo. Na kho panāhaṁ, ānanda, taṁ padesaṁ samanupassāmi… yattha tathāgato aṭṭhamaṁ sarīraṁ nikkhipeyyā”ti.
Này Ānanda, Ta nhớ đã sáu lần bỏ thân tại chỗ này, và lần thứ bảy là khi Ta làm Chuyển Luân Thánh Vương. Nhưng này Ānanda, Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới này mà Như Lai sẽ bỏ thân lần thứ tám.
Six times, Ānanda, I recall having laid down my body at this place. And the seventh time was as a wheel-turning monarch… But Ānanda, I do not see any place in this world… where the Realized One would lay down his body for the eighth time.
DN 17.2
(dn17:2.17.5–2.17.8)
“Aniccā vata saṅkhārā,
uppādavayadhammino;
Uppajjitvā nirujjhanti,
tesaṁ vūpasamo sukho”ti.
Các hành là vô thường,
có sanh phải có diệt;
đã sanh rồi phải diệt,
tịch diệt ấy là lạc.
“Oh! Conditions are impermanent,
their nature is to rise and fall;
having arisen, they cease;
their settling is such bliss.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
MahāsudassanaĐại Thiện Kiến — “bậc đại thiện kiến”Tên vị vua. Kusinārā thuở ấy tên là Kusāvatī.
cakkavattīChuyển Luân Thánh VươngVị vua trị vì như pháp, đủ bảy báu, chinh phục bốn phương không bằng gươm đao.
khuddakanagaraka, ujjaṅgalanagaraka, sākhānagarakađô thị nhỏ bé, hoang vu, phụ thuộcBa chữ Tôn giả Ānanda dùng để chê Kusinārā — chính ba chữ ấy khơi ra cả bài kinh.
dasa saddāmười thứ tiếng của kinh thànhChỗ hai ấn bản đếm không khớp — chúng tôi cộng lại thật. Bản Việt của HT. Thích Minh Châu kể chín thứ tiếng rồi gọi lời “Hãy uống đi, hãy ăn đi!”tiếng thứ mười — cộng ra đúng 10. Nhưng ấn bản Mahāsaṅgīti kể mười tiếng (hatthi, assa, ratha, bheri, mudiṅga, vīṇā, gīta, saṅkha, samma, pāṇitāḷa) rồi mới gọi lời kêu ấy là dasamena saddenatiếng thứ mười, thành ra đếm được 11. Chúng tôi không sửa bản nào, chỉ ghi rõ chỗ chênh.
yojanado-tuần (đơn vị đường dài của Ấn Độ cổ)Kusāvatī dài 12, rộng 7 do-tuần.
lohitaṅka · masāragallahai trong bảy chất liệu của bảy lớp tườngHai bản dịch khác nhau. HT. Thích Minh Châu dịch là san hôxa cừ; Tỳ-kheo Sujato dịch là ruby (hồng ngọc) và emerald (lục bảo). Trang này theo bản Việt và ghi rõ chỗ khác biệt.
caturāsīti … sahassānitám vạn bốn ngàn (84.000)Con số lặp lại mười bốn lần trong đoạn liệt kê: kinh thành, lâu đài, cao đường, sàng toạ, voi, ngựa, xe, châu ngọc, phụ nữ, gia chủ, Sát-đế-lỵ, nhũ ngưu, vải, món ăn.
caturāsīti vatthakoṭisahassānitám vạn bốn ngàn koṭi tấm vảiChỗ các bản dịch khác nhau. HT. Thích Minh Châu để nguyên: “tám vạn bốn ngàn vải Koṭi”. Tỳ-kheo Sujato dịch thành 8.400.000.000. Một koṭi thường được hiểu là mười triệu. Chúng tôi giữ nguyên chữ Pālighi rõ hai bản dịch khác nhau, chứ không tự chọn một con số.
nāḷikodanamột nāḷi cơm — một bát/lon cơmCâu sắc nhất trong đoạn đếm. Tám vạn bốn ngàn món mà ăn nhiều nhất một nāḷi cơm.
Subhaddā devīhoàng hậu SubhaddāCũng chính là nữ báu (itthiratana) trong bảy báu. Đừng lẫn với du sĩ Subhadda — người đệ tử cuối cùng của Đức Phật trong DN 16.
bhattasammadacơn buồn ngủ sau bữa ăn noVí dụ tả cảm giác lúc chết của vua — không đau đớn, chỉ như thiu thiu ngủ.
addhuva, anassāsikakhông kiên cố, không đáng tin cậyĐi kèm anicca. Ba chữ, không phải một.
aniccā vata saṅkhārā…bài kệ vô thườngChính bài kệ mà Thiên chủ Sakka đọc lên lúc Đức Phật nhập diệt trong DN 16. Đây là bài kệ được đọc nhiều nhất trong tang lễ Phật giáo Nam truyền.

Bài kinh có bố cục như một cái bẫy sập. Phần lớn bài là tả của cải — vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh, xích châu, san hô — tả lâu đến sốt ruột. Rồi một câu duy nhất làm rỗng tất cả: “tất cả đã qua, đã diệt, đã biến hoại”. Tả càng dài thì câu ấy càng nặng.

Đoạn đếm “chỉ một” mới là chỗ dạy. Đức Phật không nói của cải là xấu. Ngài chỉ đếm lại: tám vạn bốn ngàn cái mà một lúc chỉ dùng được một. Một chỗ ngồi, một con voi, một đôi y phục, một nāḷi cơm. Có nhiều tới đâu thì thân này cũng chỉ dùng được chừng ấy.

Chỗ cảm động nhất: hoàng hậu Subhaddā. Bà tới để buộc vua vào đời sống — kể lại từng thứ của cải và xin vua “hãy tha thiết với đời sống”. Vua bảo bà nói ngược lại. Kinh chép rằng bà khóc, rồi lau nước mắt, rồi mới nói. Kinh không giấu chỗ ấy.

Vì sao Ngài kể chuyện này ngay lúc ấy? Vì Tôn giả Ānanda chê chỗ này nhỏ và muốn một nơi to đẹp hơn. Đức Phật cho thấy: nơi này đã từng to đẹp nhấtvà cái to đẹp ấy nay không còn gì. Câu trả lời cho lòng muốn một chỗ chết sang trọng, chính là lịch sử của chỗ ấy.

  • “Bài kinh ca ngợi giàu sang.” Bài kinh tả giàu sang thật dàiđể rồi làm rỗng nó bằng một câu.
  • “Hoàng hậu Subhaddā là ông Subhadda cuối Kinh Đại Bát Niết-Bàn.” Hai người khác nhau, chỉ trùng tên.
  • “Chuyển Luân Thánh Vương chinh phục bằng vũ lực.” DN 17 không nói vậy. Câu adaṇḍena asatthena dhammenakhông bằng gậy, không bằng gươm, mà bằng pháp — nằm ở Kinh Chuyển Luân Thánh Vương (DN 26). Chúng tôi đã tra và bài DN 17 tuyệt không có chữ ấy, nên ghi rõ xuất xứ đúng chỗ.
  • “Sanh lên Phạm thiên là đích rồi.” Vua Đại Thiện Kiến đã sanh Phạm thiên — mà Đức Phật vẫn gọi tất cả những cái ấy là vô thường. Xem thêm Kinh Đại Điển Tôn (DN 19).
  • Ngành Oanh. Tám vạn bốn ngàn món ăn mà chỉ ăn một chén cơm. Hỏi các em: em có bao nhiêu đồ chơi, và mỗi lúc chơi được mấy cái?
  • Ngành Thiếu. Cho các em tả thật kỹ một thứ mình quý, rồi hỏi: một trăm năm nữa nó ở đâu?đúng bố cục bài kinh.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc song song với DN 16: một câu ở đó thành cả một bài kinh ở đây.
  • Vì sao Đức Phật đáp lời Tôn giả Ānanda bằng một câu chuyện chứ không bằng một lời dạy?
  • Câu “Ta chỉ ăn một nāḷi cơm” chứng minh điều gì?
  • Vì sao vua bảo hoàng hậu nói ngược lại điều bà định nói?
  • Nếu cõi Phạm thiên cũng vô thường thì cái gì không vô thường?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này nối liền với Kinh Đại Bát Niết-Bàn (DN 16): DN 16 nhắc tới vua Mahāsudassana một câu, DN 17 kể trọn câu ấy. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.