G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 26
Trường Bộ Kinh · Nghèo Đói Sinh Trộm Cắp

Kinh Chuyển Luân Thánh Vương

Cakkavatti-Sīhanāda Sutta — Trường Bộ 26 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Chuyển Luân Thánh Vương

Đây là bài kinh nói về trách nhiệm của người cầm quyền, không phải về tu tập cá nhân. Mạch lập luận của nó sắc tới mức ngày nay đọc vẫn thấy đúng: vua không cấp của cải cho người nghèo → nghèo đói lan ra → sinh trộm cắp → sinh dùng vũ khí → sinh giết hại, rồi tuổi thọ và đức hạnh loài người tụt dốc từ đó.

  • Bộ — Trường Bộ, DN 26
  • Mở đầu — lời dạy “hãy tự làm hòn đảo cho chính mình”, cùng câu với Kinh Đại Bát Niết Bàn
  • Thể loại — kể chuyện: dòng các vua Chuyển Luân, rồi vị vua bỏ chánh pháp
  • Kết — trở lại lời mở đầu: hãy tự làm hòn đảo, tu Bốn Niệm Xứ

Kinh mở đầu bằng lời Phật dạy chúng Tỷ-kheo hãy sống "tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình", lấy Chánh pháp làm ngọn đèn và nơi nương tựa, tu tập Bốn Niệm Xứ (quán thân, thọ, tâm, pháp), và hãy đi lại "trong giới hạn Tổ phụ truyền lại" — nghĩa là ở trong lãnh vực tu tập của mình, thì Ma vương không có cơ hội xâm nhập. Kế đó Phật kể chuyện vua Daḷhanemi (Kiên-cố-niệm), một Chuyển Luân Thánh Vương dùng Chánh pháp trị nước, không dùng trượng, không dùng kiếm. Khi xe báu cõi Trời lặn xuống, vua trao ngôi cho thái tử rồi xuất gia. Vua con hỏi vị vua ẩn sĩ: "Thế nào là Thánh vương Chánh pháp?" Câu trả lời là cốt lõi chính trị - đạo đức của kinh: y cứ vào Pháp, kính trọng Pháp, lấy Pháp làm cờ hiệu, bảo vệ hợp pháp mọi hạng người cho đến loài thú và loài chim; "Chớ có làm gì phi pháp trong quốc độ của con"; và nếu trong nước có người nghèo thì phải cấp cho họ tiền của; đồng thời thường xuyên đến hỏi các Sa-môn, Bà-la-môn về thiện và bất thiện. Đến đời vua thứ tám, vua không hỏi Thánh vương Chánh pháp mà tự ý cai trị. Vua có bảo hộ dân, nhưng KHÔNG cấp tiền của cho người nghèo. Từ đó dây chuyền suy thoái bắt đầu: nghèo đói tăng thịnh → trộm cắp tăng thịnh → đao kiếm tăng thịnh → sát sanh, nói láo, nói xấu, tà hạnh, ác khẩu, tham sân, tà kiến… lần lượt tăng thịnh; tuổi thọ và sắc đẹp loài người giảm dần từ tám vạn năm xuống còn mười tuổi. Ở thời tuổi thọ mười tuổi có "đao trượng kiếp" bảy ngày, người ta xem nhau như thú vật mà giết hại. Một số người trốn vào rừng núi, sau bảy ngày trở ra, tỉnh ngộ mà giữ lại giới không sát sanh, rồi lần lượt giữ các thiện pháp khác; nhờ vậy tuổi thọ và sắc đẹp tăng trở lại đến tám vạn năm, thời của vua Saṅkha và đức Phật Metteyya (Di-lặc) ra đời. Kết kinh, Phật lặp lại lời dạy tự mình là ngọn đèn, và giải thích "tuổi thọ, sắc đẹp, an lạc, tài sản, sức mạnh" của người tu là bốn Như Ý Túc, giới hạnh, bốn thiền, bốn Vô lượng tâm và tâm giải thoát - tuệ giải thoát.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Tự mình là ngọn đèn, tự mình nương tựa (Attadīpasaraṇatā) — Phật dạy Tỷ-kheo sống tự mình là ngọn đèn, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, tu Bốn Niệm Xứ; đi lại trong giới hạn Tổ phụ truyền lại để Ma vương không có cơ hội.
  • 2. Vua Chuyển Luân Thánh Vương Daḷhanemi (Daḷhanemicakkavattirājā) — Vua Daḷhanemi dùng Chánh pháp trị nước, đủ bảy món báu; khi xe báu lặn xuống, vua trao ngôi cho thái tử rồi xuất gia.
  • 2.1 Thánh vương Chánh pháp (Cakkavattiariyavatta) — Nội dung Thánh vương Chánh pháp: y cứ vào Pháp, bảo hộ hợp pháp mọi hạng người và cả loài thú loài chim; chớ làm điều phi pháp trong quốc độ; cấp tiền của cho người nghèo; thường hỏi Sa-môn Bà-la-môn về thiện, bất thiện.
  • 2.2 Xe báu xuất hiện (Cakkaratanapātubhāva) — Vua thực hành Thánh vương Chánh pháp, xe báu ngàn căm xuất hiện; xe lăn về bốn phương, các vua chư hầu quy thuận và được dạy năm giới.
  • 3. Các Chuyển Luân Thánh Vương kế tiếp (Dutiyādicakkavattikathā) — Bảy đời vua Chuyển Luân nối tiếp theo cùng cách thức; đến vị vua sau đó thì không hỏi Thánh vương Chánh pháp mà tự ý cai trị, quốc gia không hưng thịnh.
  • 4. Tuổi thọ, sắc đẹp giảm thiểu (Āyuvaṇṇādiparihānikathā) — Vua bảo hộ dân nhưng không cấp tiền của cho người nghèo; nghèo đói → trộm cắp → đao kiếm → sát sanh → nói láo → nói xấu → tà hạnh → ác khẩu, nói phù phiếm → tham, sân → tà kiến → phi pháp tham, tham lam bất chánh, tà pháp → bất kính cha mẹ, Sa-môn, trưởng thượng; tuổi thọ giảm từ tám vạn năm xuống trăm năm.
  • 5. Thời tuổi thọ mười tuổi (Dasavassāyukasamaya) — Thời tuổi thọ mười tuổi: mất các vị ngon, mười thiện nghiệp đạo biến mất, người bất hiếu lại được tôn kính; và đao trượng kiếp bảy ngày, người xem nhau như thú vật mà giết hại; một số người trốn vào rừng núi sống sót.
  • 6. Tuổi thọ, sắc đẹp tăng trưởng (Āyuvaṇṇādivaḍḍhanakathā) — Những người sống sót tỉnh ngộ, lần lượt từ bỏ sát sanh rồi các bất thiện pháp khác; nhờ hành thiện pháp mà tuổi thọ và sắc đẹp tăng dần trở lại đến tám vạn năm.
  • 7. Vua Saṅkha ra đời (Saṅkharājauppatti) — Thời tuổi thọ tám vạn năm chỉ còn ba thứ bệnh (ham muốn, đói, già); kinh đô Bārāṇasī tên Ketumatī; vua Saṅkha là Chuyển Luân Thánh Vương.
  • 8. Đức Phật Metteyya ra đời (Metteyyabuddhuppāda) — Thế Tôn Metteyya (Di-lặc) sẽ xuất hiện, thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện như Thế Tôn hiện tại; vua Saṅkha xuất gia và chứng cứu cánh phạm hạnh.
  • 9. Tuổi thọ, sắc đẹp của Tỷ-kheo (Bhikkhunoāyuvaṇṇādivaḍḍhanakathā) — Lặp lại lời dạy tự mình là ngọn đèn; giải thích tuổi thọ = bốn Như Ý Túc, sắc đẹp = giới hạnh, an lạc = bốn thiền, tài sản = bốn Vô lượng tâm, sức mạnh = tâm giải thoát và tuệ giải thoát; không sức mạnh nào khó chinh phục bằng sức mạnh của Ma vương.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để quý anh chị đối chiếu được.

DN 26.1
Attadīpā, bhikkhave, viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā.
Này các Tỷ kheo, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác!
Mendicants, live as your own island, your own refuge, with no other refuge. Let the teaching be your island and your refuge, with no other refuge.
DN 26.1
Gocare, bhikkhave, caratha sake pettike visaye. Gocare, bhikkhave, carataṁ sake pettike visaye na lacchati māro otāraṁ, na lacchati māro ārammaṇaṁ.
Này các Tỷ kheo, hãy đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại. Này các Tỷ kheo, nếu các Ngươi đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại, thì Ma vương sẽ không có cơ hội để xâm nhập, không có cơ hội để nhắm vào đối tượng.
You should roam inside your own territory, the domain of your fathers. If you roam inside your own territory, the domain of your fathers, Māra won't find a vulnerability or get an opportunity.
DN 26.2
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, rājā daḷhanemi nāma ahosi cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. … So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasi.
Thuở xưa, này các Tỷ kheo, có Vua Chuyển luân Thánh vương tên là Dalhanemi (Kiên-cố-niệm), là vị pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, thống trị các quốc độ và đầy đủ bảy món báu. […] Vị này trị vì quả đất này cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị nước, không dùng trượng, không dùng kiếm.
Once upon a time, mendicants, there was a king named Daḷhanemi who was a wheel-turning monarch, a just and principled king… After conquering this land girt by sea, he reigned by principle, without rod or sword.
DN 26.5
Tena hi tvaṁ, tāta, dhammaṁyeva nissāya dhammaṁ sakkaronto … dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahassu antojanasmiṁ balakāyasmiṁ khattiyesu anuyantesu brāhmaṇagahapatikesu negamajānapadesu samaṇabrāhmaṇesu migapakkhīsu.
Này thái tử thân yêu, con y cứ vào Pháp, kính trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, tôn trọng Pháp, tự con trở thành Pháp tràng, Pháp kỳ, xem Pháp là thầy, tự trở thành người bảo vệ hợp pháp cho thứ dân, cho quân đội, cho Sát đế ly, cho quần thần, cho Bà la môn, cho gia chủ, cho thị dân, thôn dân, cho Sa môn, Bà la môn, cho các loài thú và loài chim.
Well then, my dear, relying only on principle—honoring, respecting, and venerating principle, having principle as your flag, banner, and authority—provide just protection and security for your court, troops, aristocrats, vassals, brahmins and householders, people of town and country, ascetics and brahmins, beasts and birds.
DN 26.5
Mā ca te, tāta, vijite adhammakāro pavattittha. Ye ca te, tāta, vijite adhanā assu, tesañca dhanamanuppadeyyāsi.
Chớ có làm gì phi pháp trong quốc độ của con. Này con thân yêu, nếu trong quốc độ của con, có những Sa môn, Bà-la-môn từ bỏ dục vọng, không phóng dật, thực thành nhẫn nhục từ ái, nhiếp phục tự kỷ, an chỉ tự kỷ, giải thoát tự kỷ, thỉnh thoảng sẽ đến với con và hỏi con: "Này Tôn giả, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện…"
Do not let injustice prevail in the realm. Provide money to the penniless in the realm.
DN 26.10
Tesaṁ sutvā dhammikañhi kho rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahi, no ca kho adhanānaṁ dhanamanuppadāsi. Adhanānaṁ dhane ananuppadiyamāne dāliddiyaṁ vepullamagamāsi. Dāliddiye vepullaṁ gate aññataro puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyi.
Này các Tỷ kheo, rồi vua Quán đảnh Sát đế ly cho mời họp các vị đại thần, cận thần, tài chánh quan, các cận vệ, các thủ môn quan, các vị sống bằng bùa chú và hỏi về Thánh vương Chánh pháp. Và những vị này được hỏi, đã trả lời về Thánh vương Chánh pháp. Khi nghe họ nói xong, vị vua có sắp đặt sự hộ trì, ngăn chận, che chở, nhưng không cho người nghèo tiền của. Và vì vậy, nghèo đói được lan rộng. Vì nghèo đói được lan rộng, một người đã lấy vật không cho của những người khác, và hành động ấy được gọi là ăn trộm.
After listening to them, he provided just protection and security. But he did not provide money to the penniless in the realm. And so poverty grew widespread. When poverty was widespread, a certain person stole from others, with the intention to commit theft.
DN 26.14
Iti kho, bhikkhave, adhanānaṁ dhane ananuppadiyamāne dāliddiyaṁ vepullamagamāsi, dāliddiye vepullaṁ gate adinnādānaṁ vepullamagamāsi, adinnādāne vepullaṁ gate satthaṁ vepullamagamāsi, satthe vepullaṁ gate pāṇātipāto vepullamagamāsi, pāṇātipāte vepullaṁ gate tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi.
Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho người nghèo tiền của, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh; vì trộm cắp tăng thịnh nên đao kiếm được tăng thịnh; và đao kiếm được tăng thịnh, nên sát sanh tăng thịnh; vì sát sanh tăng thịnh nên nói láo tăng thịnh; vì nói láo tăng thịnh nên tuổi thọ của loài hữu tình giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu; vì tuổi thọ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu, nên loài Người tuổi thọ đến tám vạn năm và con của họ thọ bốn vạn năm.
And so, mendicants, from not providing money to the penniless, poverty became widespread. When poverty was widespread, theft became widespread. When theft was widespread, swords became widespread. When swords were widespread, killing living creatures became widespread. And for the sentient beings among whom killing was widespread, their lifespan and beauty declined.
DN 26.12–13
Sutvāna tesaṁ etadahosi: 'yannūna mayampi tiṇhāni satthāni kārāpessāma, tiṇhāni satthāni kārāpetvā yesaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyissāma, te sunisedhaṁ nisedhessāma, mūlaghaccaṁ karissāma, sīsāni tesaṁ chindissāmā'ti.
Này các Tỷ kheo, nhiều người nghe: "Những ai lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm, vua ngăn chận triệt để họ, hình phạt thích đáng và chém đầu họ." Nghe vậy, những người ấy nghĩ: "Chúng ta hãy rèn kiếm cho thật bén, với những kiếm bén này, chúng ta sẽ lấy vật không cho của họ tức là ăn trộm, sẽ ngăn chận triệt để chúng, hình phạt thích đáng chúng và chém đầu họ".
'We'd better have sharp swords made. Then when we steal from others, we'll make an end of them, finish them off, and chop off their heads.'
Chữ PāliNghĩaGhi chú
cakkavattīChuyển Luân Thánh Vương — vị vua lấy Chánh pháp trị nước, không dùng trượng, không dùng kiếmcakka = bánh xe; vatti = chuyển vận
cakkaratanaXe báu (luân bảo) — món báu thứ nhất trong bảy món báu của Chuyển Luân Thánh Vương
ariya cakkavattivattaThánh vương Chánh pháp — bổn phận cao quý của vị Chuyển Luân Thánh Vương
attadīpa / attasaraṇaTự mình là ngọn đèn (hòn đảo) cho chính mình / tự mình nương tựa mìnhdīpa vừa có nghĩa "ngọn đèn" vừa có nghĩa "hòn đảo"; HT. Minh Châu dịch "ngọn đèn", Sujato dịch "island"
dhammadīpa / dhammasaraṇaLấy Chánh pháp làm ngọn đèn, làm nơi nương tựa
adhanānaṁ dhanānuppadānaCấp phát tiền của cho những người không có tiền của (người nghèo)adhana = người không có tài sản; đây là điểm then chốt của kinh
dāliddiyaNghèo đói, bần cùng
adinnādānaLấy vật không cho, trộm cắp
vepullaṁ gacchatiTăng thịnh, lan rộng
adhammakāraHành vi phi pháp, việc làm trái Chánh pháp
satthantarakappaĐao trượng kiếp — thời kỳ bảy ngày người ta giết hại lẫn nhau bằng đao kiếm
dasa kusalakammapathāMười thiện nghiệp đạo
āyu / vaṇṇaTuổi thọ / sắc đẹp — hai thứ giảm thiểu theo đà suy thoái đạo đức
MetteyyaĐức Phật Di-lặc, vị Phật sẽ ra đời khi tuổi thọ loài người trở lại tám vạn năm
iddhipādaNhư Ý Túc — bốn nền tảng thần thông (dục, tinh tấn, tâm, tư duy), được kinh giải thích là "tuổi thọ" của Tỷ-kheo
satipaṭṭhānaNiệm xứ — quán thân, thọ, tâm, pháp

Chuỗi suy thoái — đọc chậm đoạn này. Vua mới không hỏi thánh vương trước, tự trị nước theo ý mình, không cấp của cải cho người không có của. Từ đó nghèo lan rộng; có người vì nghèo mà lấy của không cho; bị bắt; vua cấp của cải; người khác thấy vậy cũng trộm để được cấp; vua đổi sang trừng phạt; rồi người trộm mang theo vũ khí để khỏi bị bắt; rồi giết người. Mỗi bước đều hợp lý, và cả chuỗi bắt đầu từ một việc không làm.

Kinh không đổ lỗi cho người nghèo. Chỗ hỏng đầu tiên nằm ở người cầm quyền. Đây là điểm cần nói rõ khi dạy, vì bài kinh rất dễ bị đọc ngược thành “người nghèo sinh trộm cắp”.

“Của báu” của Chuyển Luân Thánh Vương không phải quân đội. Vua ấy chinh phục không bằng gậy, không bằng kiếm, mà bằng chánh pháp. Chi tiết này định nghĩa cả hình mẫu: quyền lực chính đáng là quyền lực không cần bạo lực.

Đoạn rèn kiếm bén — chỗ đáng sợ nhất. Tới thời suy vi tột cùng, con người xem nhau như thú, rèn kiếm cho bén để giết nhau trong bảy ngày. Nhưng kinh không dừng ở đó: một số người trốn vào rừng, sống sót, rồi nhớ lại điều lành — và từ đó tuổi thọ đi lên trở lại.

Một chỗ chúng tôi phải ghi lại. Lượt soi độc lập chỉ ra rằng ở đoạn rèn kiếm, phần Pāli và Anh nằm trọn ở đoạn 13.4, không phải 12–13 như bản tra cứu đầu ghi. Chúng tôi đã sửa số đoạn; nguyên văn trích thì không đổi.

  • “Bài kinh nói người nghèo sinh trộm cắp.” Ngược lại. Nó nói vua không cấp của cải nên sinh nghèo, và nghèo mới sinh trộm. Gốc ở người cầm quyền.
  • “Chuyển Luân Thánh Vương là vị vua chinh phục thiên hạ.” Kinh nói rõ: chinh phục không bằng gậy, không bằng kiếm.
  • “Đây là lời tiên tri về ngày tận thế.” Chuỗi ấy đi xuống rồi đi lên lại. Bài kinh mô tả một vòng, không phải một kết cục.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy ý: ai có quyền thì phải lo cho người thiếu thốn. Hỏi các em: trong đội, ai có nhiều bánh hơn thì nên làm gì?
  • Ngành Thiếu. Chuỗi suy thoái, kể như một câu chuyện. Hỏi: chuyện hỏng từ bước nào? Để các em tự tìm ra bước đầu tiên.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đây là bài kinh hợp để nói về trách nhiệm của người có chức vụ trong đoàn — Liên Đoàn Trưởng, Đoàn Trưởng. Quyền đi kèm bổn phận chăm lo.
  • Chuỗi suy thoái bắt đầu từ việc gì không được làm?
  • Vì sao kinh nói chinh phục không bằng gậy, không bằng kiếm?
  • Sau chỗ tệ nhất, con người đi lên lại nhờ điều gì?
  • Bài kinh mở và kết đều bằng hãy tự làm hòn đảo. Vì sao một bài về việc nước lại kết như vậy?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số để đối chiếu được. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Thuật ngữ tiếng Việt theo bản dịch Trường Bộ của HT. Thích Minh Châu. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập — người soi tự tra lại nguồn gốc, không tin dữ liệu được đưa. Lượt soi ấy đã chỉ ra 2 chỗ cần sửa, và chúng tôi đã sửa, có ghi lại ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.