G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 79
Yêu Một Người Mình Chưa Từng Thấy

Tiểu Kinh Sakuludāyi

Cūḷasakuludāyi Sutta — MN 79 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộTiểu Kinh Sakuludāyi

Du sĩ Sakuludāyi nói giáo lý của thầy mình là "Sắc này là tối thượng". Thế Tôn hỏi: sắc tối thượng ấy là sắc gì? — và ông chỉ lặp lại định nghĩa vòng quanh.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 79
  • Nơi chốnRājagaha, tinh xá du sĩ ở Khổng Tước Lâm
  • Bài đi cặpMN 80, cùng đề tài "sắc tối thượng"
  • Chữ idappaccayatāKHÔNG có trong bản Pāli của bài này; kinh chỉ có công thức "imasmiṁ sati idaṁ hoti…"

Kinh này ghi lại một cuộc đối thoại rất sống động giữa Đức Phật và du sĩ ngoại đạo Sakuludāyi tại Khổng Tước Lâm, thành Vương Xá. Mở đầu, Sakuludāyi kể chuyện có vị tự nhận là "bậc biết tất cả, thấy tất cả", tri kiến thường hằng cả khi đi, đứng, ngủ, thức — nhưng khi bị hỏi về quá khứ thì tránh né, trả lời ra ngoài đề, rồi nổi giận. Vị ấy là Nigaṇṭha Nātaputta. Nhân đó Thế Tôn dạy: hãy gác lại quá khứ và tương lai, Ngài sẽ thuyết pháp duyên khởi — "cái này có mặt thì cái đây có mặt…". Sakuludāyi thú nhận mình không nhớ nổi đời này, huống chi các đời trước, nên xin trình bày giáo lý của thầy mình: "Sắc (quang sắc) này là tối thượng". Thế Tôn hỏi vặn: sắc tối thượng đó là sắc gì? Sakuludāyi chỉ lặp lại định nghĩa vòng quanh mà không chỉ ra được. Đức Phật đưa ví dụ người nói yêu một "cô gái đẹp trong nước này" mà không biết cô ta giai cấp gì, tên gì, ở đâu — lời nói ấy không có hiệu năng. Kế đó là chuỗi so sánh quang sắc nổi tiếng: hòn lưu ly bảo châu, con đom đóm, ngọn đèn dầu, đống lửa lớn, sao mai, mặt trăng rằm, mặt trời giữa trưa — và trên tất cả còn có chư Thiên mà ánh sáng mặt trời mặt trăng không chiếu tới. Phần hai bàn về "thế giới nhứt hướng lạc". Sakuludāyi cho rằng con đường là giữ giới và khổ hạnh; Đức Phật chỉ ra rằng khi ấy tự ngã vẫn "cả lạc cả khổ", nên đó không phải đạo lộ hợp lý. Đạo lộ đúng là Thiền thứ nhất đến Thiền thứ ba; còn chứng đắc thật sự thế giới nhứt hướng lạc là ở Thiền thứ tư. Cuối cùng Đức Phật dạy: các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh không phải chỉ vì thế giới nhứt hướng lạc, mà vì những pháp cao thượng hơn — trọn vẹn giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, bốn Thiền, ba minh, cho đến lậu tận. Sakuludāyi xin quy y và xuất gia, nhưng chính hội chúng du sĩ của ông đã ngăn cản, làm chướng ngại cho ông.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Thế Tôn đến tinh xá du sĩ Khổng Tước Lâm — Thế Tôn trú tại Trúc Lâm, Vương Xá. Sáng sớm còn quá sớm để khất thực nên Ngài đến chỗ du sĩ Sakuludāyi, khi ấy đang cùng đại chúng du sĩ lớn tiếng bàn các chuyện phù phiếm. Sakuludāyi khuyến cáo chúng im lặng vì "Sa-môn Gotama ưa mến an tịnh". (SC 1–11)
  • 2. Chuyện "bậc biết tất cả" và lời dạy về duyên khởi — Sakuludāyi kể về người tự nhận có tri kiến liên tục thường hằng nhưng bị hỏi thì tránh né, sân hận — đó là Nigaṇṭha Nātaputta. Thế Tôn nói về túc mạng và thiên nhãn, rồi bảo hãy gác quá khứ, gác tương lai, và thuyết pháp duyên khởi. Sakuludāyi thú nhận không hiểu nổi, xin trình bày giáo lý của thầy mình. (SC 12–16)
  • 3. Vấn đáp về "sắc tối thượng" và ví dụ cô gái đẹp trong nước — Giáo lý của thầy Sakuludāyi: "Sắc này là tối thượng". Bị hỏi sắc ấy là sắc gì, ông chỉ lặp lại định nghĩa vòng quanh. Thế Tôn đưa ví dụ người yêu "cô gái đẹp trong nước này" mà không biết gì về cô ấy — lời nói không hiệu năng. (SC 17–25)
  • 4. Chuỗi so sánh các quang sắc — Sakuludāyi ví tự ngã sau khi chết như hòn lưu ly bảo châu tám mặt đặt trên tấm màn màu nhạt. Thế Tôn lần lượt so sánh: bảo châu / con đom đóm / ngọn đèn dầu / đống lửa lớn / sao mai / mặt trăng rằm / mặt trời giữa trưa; và cho biết còn nhiều chư Thiên mà ánh sáng mặt trăng mặt trời không chiếu tới. Sakuludāyi nhận là các bậc Đạo sư của mình "trống không, hư vọng, thất bại". (SC 26–42)
  • 5. Thế giới nhứt hướng lạc và đạo lộ hợp lý — Sakuludāyi cho rằng đạo lộ là từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, hay thọ trì khổ hạnh; Thế Tôn chỉ ra khi ấy tự ngã "cả lạc cả khổ". Thế Tôn dạy đạo lộ hợp lý là Thiền thứ nhất đến Thiền thứ ba; chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc là ở Thiền thứ tư, cùng đứng và đàm luận với chư Thiên sanh vào thế giới ấy. (SC 43–70)
  • 6. Những pháp cao thượng hơn, thù thắng hơn — Không phải chỉ vì thế giới nhứt hướng lạc mà các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh. Thế Tôn trình bày trọn tiến trình: Như Lai xuất hiện ở đời, người nghe pháp sanh tín, xuất gia, giới hạnh, biết đủ, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, từ bỏ năm triền cái, bốn Thiền, túc mạng trí, sanh tử trí, lậu tận trí. (SC 71–92)
  • 7. Sakuludāyi xin xuất gia nhưng bị hội chúng ngăn cản — Sakuludāyi tán thán Chánh pháp, xin quy y Tam Bảo và xin xuất gia thọ đại giới. Chúng du sĩ của ông can ngăn: "đã là bậc Đạo sư, nay chớ có sống làm đệ tử", như ghè nước tốt nay bị thủng lỗ. Kinh kết: chính hội chúng ấy đã làm chướng ngại pháp cho ông. (SC 93–97)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 79, SC 1–2 (mn79:1.2–1.3)
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena sakuludāyī paribbājako moranivāpe paribbājakārāme paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá). Veluvana (Trúc Lâm), ở Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc). Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludayi ở tại Moranivapa (Khổng Tước Lâm), một tinh xá du sĩ, cùng với đại chúng du sĩ.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Now at that time the wanderer Sakuludāyī was residing together with a large assembly of wanderers in their monastery in the peacocks’ feeding ground.
MN 79, SC 15 (mn79:7.5–7.8)
Api ca, udāyi, tiṭṭhatu pubbanto, tiṭṭhatu aparanto. Dhammaṁ te desessāmi—imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati; imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhatī”ti.
Và thôi, này Udāyi, hãy dừng lại ở quá khứ, hãy dừng lại ở tương lai! Ta sẽ thuyết pháp cho Ông: Cái này có mặt thì cái đây có mặt; do cái này sanh, cái đây sanh. Cái này không có mặt thì cái đây không có mặt; do cái này diệt, cái đây diệt”.
Nevertheless, Udāyī, leave aside the first beginning and the final end. I shall teach you the Dhamma: ‘When this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. When this doesn’t exist, that is not; due to the cessation of this, that ceases.’”
MN 79, SC 23 (mn79:10.3–10.4)
Seyyathāpi, udāyi, puriso evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ yā imasmiṁ janapade janapadakalyāṇī taṁ icchāmi, taṁ kāmemī’ti.
Này Udāyi, như có người nói: “Tôi yêu và luyến ái một cô gái đẹp trong nước này”.
Suppose a man was to say, ‘Whoever the finest lady in the land is, it is her that I want, her I desire!’
MN 79, SC 26 (mn79:11.1)
“Seyyathāpi, bhante, maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato paṇḍukambale nikkhitto bhāsate ca tapate ca virocati ca, evaṁ vaṇṇo attā hoti arogo paraṁ maraṇā”ti.
Bạch Thế Tôn, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên, chói lên, bừng sáng lên; với sắc như vậy, tự ngã là không bệnh, sau khi chết.
“Worthy sir, suppose there was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked. When placed on a cream rug it would shine and glow and dazzle. Such is the splendor of the self that is free of disease after death.”
MN 79, SC 39 (mn79:18.1–18.4)
“Ato kho te, udāyi, bahū hi bahutarā devā ye imesaṁ candimasūriyānaṁ ābhā nānubhonti, tyāhaṁ pajānāmi. Atha ca panāhaṁ na vadāmi: ‘yasmā vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthī’ti. Atha ca pana tvaṁ, udāyi, ‘yvāyaṁ vaṇṇo kiminā khajjopanakena nihīnataro ca patikiṭṭhataro ca so paramo vaṇṇo’ti vadesi, tañca vaṇṇaṁ na paññapesī”ti.
Này Udāyi, hơn tất cả những quang sắc ấy có nhiều, rất nhiều chư Thiên, mà ánh sáng của những mặt trăng mặt trời này không thể chiếu sáng. Ta biết những chư Thiên ấy. Và Ta không nói: “Không có một quang sắc nào khác vi diệu hơn và thù thắng hơn quang sắc ấy. Còn Ông, này Udāyi, Ông lại nói: “Quang sắc này, thấp kém hơn, yếu đuối hơn quang sắc con sâu đom đóm, quang sắc ấy là tối thắng”. Và Ông không chỉ rõ quang sắc ấy.
“Beyond this, Udāyī, I know very many gods on whom the luminosity of the sun and moon makes no impression. Nevertheless, I do not say: ‘The splendor compared to which no other splendor is finer.’ But of the splendor inferior to a firefly you say, ‘This is the ultimate splendor.’ And you don’t describe that splendor.”
MN 79, SC 63 (mn79:25.1–25.4)
“Idhudāyi, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati—ayaṁ kho sā, udāyi, ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti.
Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo ly dục … chứng đắc và trú Thiền thứ nhất; sau khi diệt tầm và tứ … chứng đắc và trú Thiền thứ hai … chứng đắc và trú Thiền thứ ba. Như vậy, này Udāyi, là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
“It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption. With the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption. This is the grounded practice for realizing a world of absolute happiness.”
MN 79, SC 70 (mn79:27.2–27.4)
“Idhudāyi, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ … upasampajja viharati. Yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā tāhi devatāhi saddhiṁ santiṭṭhati sallapati sākacchaṁ samāpajjati. Ettāvatā khvāssa, udāyi, ekantasukho loko sacchikato hotī”ti.
Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo đoạn trừ lạc … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư; có bao nhiêu chư Thiên được sanh vào thế giới nhứt hướng lạc, Tỷ-kheo cùng đứng với các chư Thiên ấy, cùng nói chuyện, cùng đàm luận. Cho đến mức độ như vậy, này Udāyi, mới là chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
“It’s when, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption. There are deities who have been reborn in a absolutely happy world. That mendicant associates with them, converses, and engages in discussion. It’s at this point that a absolutely happy world has been realized.”
MN 79, SC 96 (mn79:46.2–46.4) — ô này chỉ trích tới hết 46.4; câu kết của người thuật ở SC 97 (mn79:46.7) và các đoạn 46.5–46.6 không có trong ô
“mā bhavaṁ, udāyi, samaṇe gotame brahmacariyaṁ cari; mā bhavaṁ, udāyi, ācariyo hutvā antevāsīvāsaṁ vasi. Seyyathāpi nāma udakamaṇiko hutvā udañcaniko assa, evaṁ sampadamidaṁ bhoto udāyissa bhavissati.
Tôn giả Udāyi, chớ có sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama. Tôn giả Udāyi, đã là bậc Ðạo sư, nay chớ có sống làm đệ tử. Như một ghè nước tốt, nay bị thủng lỗ bị chảy nước; hành động của Tôn giả Udāyi cũng sẽ như vậy.
“Worthy Udāyī, don’t lead the spiritual life under the ascetic Gotama. You have been a tutor; don’t live as a pupil. You’ll end up like a water jar that turns into a water ladle.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
paramo vaṇṇosắc tối thượng / quang sắc tối thượngChủ đề tranh luận phần đầu kinh; bản Anh dịch "ultimate splendor".
ekantasukho lokothế giới nhứt hướng lạc (thuần lạc, chỉ có lạc)
ākāravatī paṭipadāđạo lộ hợp lý (con đường có căn cứ) đưa đến chứng đắc
sukhadukkhīcả lạc cả khổCâu trả lời lặp lại của Sakuludāyi khi bị hỏi về tự ngã trong lúc trì giới, khổ hạnh.
paribbājakadu sĩ (tu sĩ khất sĩ ngoại đạo)
tiracchānakathāchuyện phù phiếm, câu chuyện vô ích
idappaccayatā (imasmiṁ sati idaṁ hoti…)lý duyên khởi: cái này có mặt thì cái đây có mặt…Đoạn SC 15. Xin lưu ý: chính chữ idappaccayatā KHÔNG xuất hiện trong bản Pāli của MN 79 — bản Mahāsaṅgīti chỉ có công thức “imasmiṁ sati idaṁ hoti…”. “Idappaccayatā” là nhãn giáo lý quy ước về sau, không phải chữ trong bài kinh này.
pubbenivāsānussatiñāṇatúc mạng trí — nhớ các đời sống quá khứ
dibbacakkhu / cutūpapātañāṇathiên nhãn, sanh tử trí — thấy chúng sanh chết và tái sanh theo nghiệp
āsavānaṁ khayañāṇalậu tận trí — trí đoạn tận các lậu hoặcBa minh kết thúc phần "pháp cao thượng hơn".
jhānaThiền (bốn Thiền)
brahmacariyaPhạm hạnh, đời sống thanh tịnh
pañca nīvaraṇānăm triền cáiTham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi.
janapadakalyāṇīcô gái đẹp nhất trong nướcVí dụ nổi tiếng ở SC 23.
Nigaṇṭha Nātaputtagiáo chủ Kỳ-na giáo, người bị nêu ra ở SC 14
antarāyachướng ngạiKinh kết: hội chúng du sĩ làm "chướng ngại pháp" cho Sakuludāyi.

Mở đầu là một câu chuyện rất đáng để ý. Sakuludāyi kể có vị tự nhận là "bậc biết tất cả, thấy tất cả", tri kiến thường hằng cả khi đi, đứng, ngủ, thức — nhưng khi bị hỏi về quá khứ thì tránh né, trả lời ra ngoài đề, rồi nổi giận.

Xin đối chiếu với MN 71. Ở đó, chính Đức Phật bác lời đồn tương tự về Ngài. Ở đây, một người khác nhận lời ấy — và không đỡ nổi câu hỏi.

Nhân đó Thế Tôn dạy: hãy gác lại quá khứ và tương lai. Ngài sẽ thuyết pháp duyên khởi"cái này có mặt thì cái đây có mặt…". Chuyển từ chỗ không kiểm được sang chỗ kiểm được ngay.

Sakuludāyi thú nhận rất thật. Ông không nhớ nổi đời này, huống chi các đời trước. Rồi ông xin trình bày giáo lý của thầy mình: "Sắc này là tối thượng."

Và Thế Tôn hỏi một câu rất giản dị: sắc tối thượng ấy là sắc GÌ? Ông chỉ lặp lại định nghĩa vòng quanhsắc nào không có sắc nào cao hơn thì là tối thượngmà không chỉ ra được.

Ví dụ Thế Tôn dùng để chỉ ra chỗ trống ấy rất hay. Như người nói mình yêu "cô gái đẹp nhất trong nước này" — mà không biết cô ta giai cấp gì, tên gì, họ gì, cao thấp, nước da, ở làng nào.

Và câu kết luận rất gọn. Lời nói ấy KHÔNG CÓ HIỆU NĂNG. Không phải sai — mà là rỗng.

Chỗ này rất dùng được cho người học đạo. Ta cũng hay nói những chữ rất lớn — "chân tâm", "bản thể", "cái tuyệt đối" — mà nếu bị hỏi "là gì" thì cũng chỉ định nghĩa vòng quanh.

Rồi tới chuỗi so sánh quang sắc, đi lên từng bậc. Hòn lưu ly bảo châu → con đom đóm → ngọn đèn dầu → đống lửa → sao mai → mặt trăng → mặt trời — và vẫn còn ánh sáng của chư Thiên vượt hơn nữa.

Ý của chuỗi ấy rất rõ. Hễ còn so sánh được thì chưa phải tối thượng. Cái gọi là "tối thượng" của ông chỉ là cái sáng nhất ông từng thấy.

Kết cục bài kinh rất buồn và rất người. Sakuludāyi xin xuất gia — nhưng hội chúng du sĩ của ông ngăn cản. Người muốn đi mà đồ chúng giữ lại.

  • "Nói được chữ lớn là hiểu." Kinh gọi lời ấy là không có hiệu năng.
  • "Ánh sáng mạnh nhất là tối thượng." Kinh cho thấy luôn còn cái hơn.
  • "Ai muốn tu thì tu được." Ông bị chính đồ chúng ngăn.
  • Ngành Oanh. Kể chuỗi ánh sáng: đom đóm, đèn dầu, lửa, sao, trăng, mặt trời.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: yêu một người mình chưa từng gặp — nói vậy có nghĩa gì không?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Tự kiểm: chữ lớn nào mình hay dùng mà chưa định nghĩa được?
  • Vì sao Thế Tôn gác lại quá khứ và tương lai?
  • Ví dụ cô gái đẹp nói điều gì?
  • Chuỗi quang sắc dạy điều gì?
  • Vì sao Sakuludāyi không xuất gia được?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.