G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 71
Đức Phật Tự Đính Chính Một Lời Đồn Về Ngài

Kinh Dạy Vacchagotta Về Tam Minh

Tevijjavaccha Sutta — MN 71 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Dạy Vacchagotta Về Tam Minh

Người đời đồn rằng Sa-môn Gotama là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến, tri kiến luôn luôn tồn tại liên tục — khi đi, khi đứng, khi ngủ, khi thức. Và chính Đức Phật đính chính lời đồn ấy.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 71
  • Nơi chốnVesālī, rừng Đại Lâm; Ngài ghé vườn du sĩ Ekapuṇḍarīka vì còn sớm
  • Người hỏi — du sĩ Vacchagotta
  • Chữ tevijjāba minh

Kinh này ngắn nhưng rất quan trọng vì chính Đức Phật đính chính một lời đồn về Ngài. Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta thưa rằng ngoài đời người ta nói "Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, nhứt thiết kiến, tri kiến luôn luôn tồn tại liên tục, khi đi, khi đứng, khi ngủ, khi thức". Vacchagotta hỏi nói vậy có đúng không. Thế Tôn trả lời dứt khoát: nói như vậy là nói không đúng với điều Ngài đã nói, là vu khống Ngài với điều không thực, hư ngụy. Vacchagotta liền hỏi vậy phải nói thế nào mới đúng. Thế Tôn dạy: hãy nói "Sa-môn Gotama là bậc có ba minh (tevijjā)". Rồi Ngài kể rõ ba minh ấy: (1) khi nào Ngài muốn, Ngài nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết; (2) với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ngài thấy sự sống chết của chúng sanh, hạ liệt hay cao sang, đẹp đẽ hay thô xấu, may mắn hay bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ; (3) với sự đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại Ngài tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Điểm cần nhớ cho Huynh Trưởng: Đức Phật không tự nhận là "cái gì cũng biết mọi lúc"; Ngài dạy rằng khi nào Ngài muốn thì trí ấy hiện khởi. Đó là ba minh do tu tập mà thành, không phải phép lạ tự nhiên. Phần sau, Vacchagotta hỏi về người tại gia và về ngoại đạo. Thế Tôn dạy: không có người tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể đoạn tận khổ đau; nhưng người tại gia được sanh Thiên thì rất nhiều, không phải một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn nữa. Đây là điểm rất đáng khích lệ cho đoàn sinh và phụ huynh cư sĩ: giữ giới làm lành thì cõi lành rộng mở, còn giải thoát trọn vẹn thì phải đoạn trừ kiết sử. Cuối cùng, về hạng tà mạng ngoại đạo (ājīvaka), Thế Tôn nói trong 91 kiếp Ngài nhớ lại, Ngài không biết một vị nào đã sanh Thiên, trừ một vị, và vị này thuyết về nghiệp và thuyết về tác dụng của nghiệp — nghĩa là tin nhân quả nghiệp báo. Vacchagotta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Thế Tôn đến vườn du sĩ Ekapundarika — Thế Tôn ở Vesālī, rừng Ðại Lâm, Giảng đường Trùng Các; buổi sáng đi khất thực thấy còn sớm nên đến gặp du sĩ ngoại đạo Vacchagotta, được mời ngồi (Việt SC 1–6; Pali mn71:1.1–4.9).
  • Vacchagotta nêu lời đồn 'nhứt thiết trí, nhứt thiết kiến' — Vacchagotta thuật lại lời người ta nói về Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, nhứt thiết kiến, tri kiến luôn luôn tồn tại liên tục, và hỏi nói vậy có đúng pháp không (Việt SC 7; Pali mn71:5.1–5.4).
  • Thế Tôn bác bỏ lời đồn ấy — Thế Tôn dạy nói như vậy là không đúng với điều đã được nói, là vu khống Ngài với điều không thực, hư ngụy (Việt SC 8; Pali mn71:5.5).
  • Cách nói đúng: 'bậc có ba minh' (tevijjā) — Vacchagotta hỏi phải giải thích thế nào; Thế Tôn dạy phải nói 'Sa-môn Gotama là bậc có ba minh' (Việt SC 9–10; Pali mn71:6.1–6.2).
  • Ba minh được kể rõ — Túc mạng minh (nhớ nhiều đời quá khứ), Thiên nhãn minh (thấy chúng sanh sống chết theo hạnh nghiệp), Lậu tận minh (đoạn diệt lậu hoặc, chứng vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát); rồi lặp lại lời kết luận (Việt SC 11–14; Pali mn71:7.1–10.1).
  • Hỏi về người tại gia: khổ diệt và sanh Thiên — Không có người tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà có thể đoạn tận khổ đau; nhưng người tại gia sanh Thiên thì rất nhiều (Việt SC 15–19; Pali mn71:11.1–12.2).
  • Hỏi về tà mạng ngoại đạo (ājīvaka) — Không một tà mạng ngoại đạo nào diệt tận khổ đau; trong 91 kiếp Thế Tôn nhớ lại, chỉ có một vị sanh Thiên, và vị ấy thuyết về nghiệp và tác dụng của nghiệp (Việt SC 20–23; Pali mn71:13.1–14.3).
  • Kết luận: ngoại đạo giới là trống không; Vacchagotta hoan hỷ — Vacchagotta nhận xét ngoại đạo giới (titthāyatana) này là trống không cho đến vấn đề sanh Thiên; Thế Tôn xác nhận. Vacchagotta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy (Việt SC 24–26; Pali mn71:15.1–15.4).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 71:5.1–5.3 (ô tiếng Việt có thêm câu mở đầu “Bạch Thế Tôn, con nghe như sau” = mn71:5.1; phần Pāli và Anh ở ô này chỉ chép 5.2–5.3)
‘samaṇo gotamo sabbaññū sabbadassāvī, aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti, carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti.
Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: ‘Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, là bậc nhứt thiết kiến. Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: “Khi Ta đi, khi Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại, liên tục”’.
‘The ascetic Gotama claims to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception, thus: “Knowledge and vision are constantly and continually present to me, while walking, standing, sleeping, and waking.”’
MN 71:5.5
“Ye te, vaccha, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo sabbaññū sabbadassāvī, aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti, carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti, na me te vuttavādino, abbhācikkhanti ca pana maṁ asatā abhūtenā”ti.
Này Vaccha, những ai nói như sau: ‘Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, là bậc nhứt thiết kiến. Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: “Khi Ta đi, khi Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại, liên tục”’. Thì đấy là họ nói về Ta không đúng với điều đã được nói, họ đã vu khống Ta với điều không thực, hư ngụy.
“Vaccha, those who say this do not repeat what I have said. They misrepresent me with what is false and untrue.”
MN 71:6.2
“‘Tevijjo samaṇo gotamo’ti kho, vaccha, byākaramāno vuttavādī ceva me assa, na ca maṁ abhūtena abbhācikkheyya, dhammassa cānudhammaṁ byākareyya, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyya.
Ông phải giải thích: “Sa-môn Gotama là bậc có ba minh (tevijjā)”, thì này Vaccha, Ông mới là người nói về Thế Tôn đúng với điều đã được nói, mới không vu khống Thế Tôn với điều không thực, mới giải thích về Thế Tôn đúng pháp và tùy pháp, và mới không có một đồng pháp hành nào nói lời đúng pháp có thể lấy cớ để quở trách.
“‘The ascetic Gotama has the three knowledges.’ Answering like this you would repeat what I have said, and not misrepresent me with an untruth. You would explain in line with my teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
MN 71:7.1–7.2
Ahañhi, vaccha, yāvadeva ākaṅkhāmi anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi.
Này Vaccha, khi nào Ta muốn, Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Ta sẽ nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
For, Vaccha, whenever I want, I recollect my many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. I remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so I recollect my many kinds of past lives, with features and details.
MN 71:9.1
Ahañhi, vaccha, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi.
Này Vaccha, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, Ta ngay trong hiện tại, tự mình với thượng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
And I have realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. I live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.
MN 71:11.2–11.3
“atthi nu kho, bho gotama, koci gihī gihisaṁyojanaṁ appahāya kāyassa bhedā dukkhassantakaro”ti? “Natthi kho, vaccha, koci gihī gihisaṁyojanaṁ appahāya kāyassa bhedā dukkhassantakaro”ti.
—Tôn giả Gotama, có thể có vị tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể đoạn tận khổ đau? —Này Vaccha, không có người tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể đoạn tận khổ đau.
“Worthy Gotama, are there any laypeople who, without giving up the fetter of lay life, make an end of suffering when the body breaks up?” “No, Vaccha.”
MN 71:12.2
“Na kho, vaccha, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova ye gihī gihisaṁyojanaṁ appahāya kāyassa bhedā saggūpagā”ti.
Không phải chỉ một trăm, này Vaccha, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, nhưng nhiều hơn như vậy là những người tại gia không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại lại có thể sanh Thiên.
“There’s not just one hundred laypeople, Vaccha, or two or three or four or five hundred, but many more than that who, without giving up the fetter of lay life, go to heaven when the body breaks up.”
MN 71:14.2–14.3
“Ito kho so, vaccha, ekanavuto kappo yamahaṁ anussarāmi, nābhijānāmi kañci ājīvakaṁ saggūpagaṁ aññatra ekena; sopāsi kammavādī kiriyavādī”ti.
—Này Vaccha, dầu cho ta có nhớ đến 91 kiếp, Ta không biết một tà mạng ngoại đạo nào đã sanh Thiên, trừ một vị, và vị này thuyết về nghiệp và thuyết về tác dụng của nghiệp.
“Vaccha, when I recollect the past ninety-one eons, I can’t find any Ājīvaka ascetics who have gone to heaven, except one; and he taught the efficacy of deeds and action.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
tevijjāba minhTúc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh — tên kinh Tevijjavacchasutta lấy từ chữ này.
sabbaññū sabbadassāvīnhứt thiết trí, nhứt thiết kiếnLời đồn mà Thế Tôn bác bỏ trong kinh này.
ñāṇadassanatri kiến
pubbenivāsānussatinhớ đến nhiều đời sống quá khứ (túc mạng minh)Trong kinh dùng dạng 'pubbenivāsaṁ anussarāmi'.
dibbacakkhuthiên nhãnKinh văn dùng 'dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena' — thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân.
āsavalậu hoặc
cetovimuttitâm giải thoát
paññāvimuttituệ giải thoát
gihisaṁyojanakiết sử tại gia
saggūpagađược sanh Thiên
ājīvakatà mạng ngoại đạoMột giáo phái khổ hạnh thời Đức Phật, do Makkhali Gosāla lãnh đạo.
kammavādī kiriyavādīthuyết về nghiệp và thuyết về tác dụng của nghiệp
titthāyatanangoại đạo giớiBản Việt ghi chú dạng 'titthayatanan' ngay trong kinh văn.
paribbājakadu sĩ ngoại đạo

Bài kinh này ngắn nhưng rất quan trọng, vì đây là chỗ Đức Phật tự nói Ngài KHÔNG phải là gì.

Lời đồn nghe rất kính trọng. Rằng Ngài là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến, và tri kiến ấy luôn luôn tồn tại liên tục — khi đi, khi đứng, khi ngủ, khi thức.

Và Đức Phật bác dứt khoát. Nói như vậy là nói không đúng với điều Ngài đã nói, là vu khống Ngài với điều không thực, hư nguỵ.

Xin để ý: Ngài gọi lời khen quá đáng ấy là VU KHỐNG. Khen sai cũng là nói sai.

Vacchagotta hỏi lại: vậy phải nói thế nào mới đúng? Và Ngài cho một câu chính xác: hãy nói "Sa-môn Gotama là bậc có BA MINH".

Rồi Ngài kể rõ ba minh, và mỗi minh đều bắt đầu bằng một chữ rất quan trọng. "KHI NÀO NGÀI MUỐN" — tức không phải lúc nào cũng đang biết, mà hướng tâm tới thì biết.

Minh thứ nhất: túc mạng minh. Ngài nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Minh thứ hai: thiên nhãn minh. Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ngài thấy sự sống chết của chúng sanh — hạ liệt hay cao sang, đẹp đẽ hay thô xấu, may mắn hay bất hạnh — đều do hạnh nghiệp của họ.

Minh thứ ba: lậu tận minh. Với sự đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại Ngài tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Bài kinh này chữa một bệnh rất phổ biến trong đạo. Người ta hay tôn vinh thầy mình bằng những điều thầy không hề nhận. Ở đây chính Đức Phật bảo đừng làm vậy.

Và câu đính chính của Ngài không hề khiêm tốn giả vờ. Ba minh vẫn là điều phi thường. Ngài chỉ đổi lời đồn sai thành lời nói đúng.

  • "Phật biết hết mọi chuyện mọi lúc." Chính Ngài gọi lời ấy là vu khống.
  • "Đính chính là khiêm tốn." Ngài vẫn nhận ba minh — điều phi thường.
  • "Khen thầy thì không sao." Kinh cho thấy khen sai cũng là nói sai.
  • Ngành Oanh. Hỏi: nói quá lên về một người có phải là khen không?
  • Ngành Thiếu. Học ba minh và chữ "khi nào Ngài muốn".
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài rất hợp khi bàn về cách nói về Đức Phật cho đúng.
  • Lời đồn về Đức Phật là gì?
  • Vì sao Ngài gọi đó là vu khống?
  • Ba minh là gì?
  • Chữ “khi nào Ngài muốn” quan trọng ở chỗ nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.