G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 80
Đứa Bé Được Cởi Trói · Lời Mời Thực Hành

Kinh Vekhanassa

Vekhanasa Sutta — MN 80 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Vekhanassa

Du sĩ Vekhanassa thốt lên: "Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng." Cùng đề tài với MN 79 — nhưng bài này kết bằng một lời mời rất đẹp.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 80; bài cuối của Phẩm Du Sĩ
  • Nơi chốn — Sāvatthi, Jetavana
  • Cách xưng hô — Thế Tôn gọi ông là Kaccāna; việc đó là tên họ thì theo Chú giải, chính bản kinh không nói
  • Bài đi cặpMN 79

Kinh Vekhanassa là bài kinh thứ 80 của Trung Bộ, cũng là bài cuối của Phẩm Du Sĩ. Nội dung là cuộc đối thoại giữa Thế Tôn và du sĩ ngoại đạo Vekhanassa, thuộc họ Kaccāna. Vekhanassa đến gặp Thế Tôn và thốt lên lời cảm hứng: "Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng." Thế Tôn hỏi sắc ấy là sắc gì, thì ông chỉ lặp lại một định nghĩa vòng quanh: sắc nào không có sắc nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn, sắc ấy là tối thượng — mà không hề chỉ ra được sắc ấy là gì. Thế Tôn dùng ví dụ người đàn ông tuyên bố mình yêu và luyến ái "cô gái đẹp nhất trong nước" nhưng không biết cô ấy thuộc giai cấp nào, tên gì, họ gì, cao thấp, nước da, ở làng nào: yêu một người mình chưa từng biết, chưa từng thấy, thì lời nói ấy là lời nói không có hiệu năng. Vekhanassa liền ví "sắc tối thượng" ấy như hòn lưu ly bảo châu tám mặt khéo mài đặt trên tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên — và cho rằng tự ngã sau khi chết có sắc như vậy, không có bệnh. Thế Tôn bèn dẫn ông đi qua một chuỗi so sánh quang sắc: hòn ngọc ấy còn kém con đom đóm trong đêm tối, đom đóm kém ngọn đèn dầu, đèn dầu kém đống lửa lớn, đống lửa kém sao mai lúc bình minh, sao mai kém mặt trăng rằm giữa đêm, mặt trăng kém mặt trời đứng bóng mùa thu. Rồi Thế Tôn cho biết còn rất nhiều chư Thiên mà ánh sáng mặt trời mặt trăng không thể chiếu tới; vậy mà Ngài vẫn không tuyên bố có một quang sắc "tối thượng", trong khi Vekhanassa lại gọi thứ quang sắc còn thua con đom đóm là tối thượng. Tiếp đó Thế Tôn giảng về năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái), về dục lạc, và về dục tối thượng lạc. Vekhanassa tán thán, nhưng khi Thế Tôn nói điều ấy khó cho ông hiểu vì ông khác kiến, khác nhẫn, khác mục đích, khác Ðạo sư — chỉ bậc A-la-hán lậu tận mới biết — thì ông phẫn nộ, mắng nhiếc Thế Tôn. Thế Tôn không tranh cãi về quá khứ vị lai, mà mời: hãy đến một người có trí, không gian trá, không xảo quyệt, chơn trực; Như Lai giảng dạy, và nếu người ấy thực hành theo lời dạy thì không bao lâu tự biết tự thấy mình được giải thoát khỏi trói buộc của vô minh, như đứa bé lớn lên thì tự thoát khỏi dây trói. Cuối kinh Vekhanassa xin quy y Tam Bảo trọn đời.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: lời cảm hứng "Sắc này là tối thượng" — Tại Kỳ-đà Lâm, du sĩ Vekhanassa đến chào Thế Tôn và thốt lên lời cảm hứng về một sắc tối thượng, nhưng khi được hỏi lại chỉ định nghĩa vòng quanh (đoạn 1–2).
  • Ví dụ cô gái đẹp trong nước — Thế Tôn dạy: nói mà không chỉ rõ được đối tượng thì cũng như người yêu một cô gái mình chưa từng biết, chưa từng thấy — lời nói không có hiệu năng (đoạn 3).
  • Hòn lưu ly bảo châu và tự ngã sau khi chết — Vekhanassa ví sắc tối thượng như hòn lưu ly tám mặt khéo mài, và cho rằng tự ngã không bệnh sau khi chết có sắc như vậy (đoạn 4).
  • Chuỗi so sánh các quang sắc — Đom đóm — đèn dầu — đống lửa lớn — sao mai — trăng rằm giữa đêm — mặt trời đứng bóng cuối mùa mưa; mỗi thứ sau vi diệu và thù thắng hơn thứ trước (đoạn 5–10).
  • Chư Thiên vượt ngoài ánh sáng nhật nguyệt — Thế Tôn biết rất nhiều chư Thiên mà ánh sáng mặt trời mặt trăng không chiếu tới, vậy mà Ngài không tuyên bố một quang sắc tối thượng; còn Vekhanassa lại gọi thứ thua cả đom đóm là tối thượng (đoạn 11).
  • Năm dục trưởng dưỡng, dục lạc, dục tối thượng lạc — Thế Tôn định nghĩa năm dục trưởng dưỡng và dạy: bởi có dục nên có dục lạc; từ dục lạc, dục tối thượng lạc được gọi là tối thượng (đoạn 12–13).
  • Chỉ bậc A-la-hán mới biết — Vekhanassa phẫn nộ — Vekhanassa tán thán; Thế Tôn nói điều ấy khó cho ông hiểu vì ông thuộc chấp kiến khác, Ðạo sư khác. Ông phẫn nộ, mắng nhiếc Thế Tôn và công kích lời tuyên bố "Sanh đã tận" của các Sa-môn, Bà-la-môn (đoạn 14–15).
  • Lời mời thực hành và ví dụ đứa bé được cởi trói — Thế Tôn gác qua quá khứ vị lai, mời người có trí chơn trực đến học; thực hành theo lời dạy thì tự biết tự thấy được giải thoát khỏi trói buộc của vô minh, như đứa bé lớn lên được cởi khỏi dây trói (đoạn 16).
  • Quy y — Vekhanassa tán thán Chánh pháp và xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời (đoạn 17).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 80, đoạn 2 (SC 3)
“ayaṁ paramo vaṇṇo, ayaṁ paramo vaṇṇo”ti.
—Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng.
“This is the ultimate splendor, this is the ultimate splendor.”
MN 80, đoạn 3 (SC 8, phần cuối ví dụ)
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, taṁ tvaṁ icchasi kāmesī’ti? Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya. Taṁ kiṁ maññasi, kaccāna, nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải bạn yêu và luyến ái một người bạn không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Kaccāna, Ông nghĩ thế nào? Sự tình là như vậy, thời lời nói của người có phải là không có hiệu năng không?
They’d say to him, ‘My man, do you desire someone who you’ve never even known or seen?’ Asked this, he’d say, ‘Yes.’ What do you think, Kaccāna? This being so, doesn’t that man’s statement turn out to have no demonstrable basis?”
MN 80, đoạn 4 (SC 11)
“Seyyathāpi, bho gotama, maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato paṇḍukambale nikkhitto bhāsate ca tapate ca virocati ca, evaṁ vaṇṇo attā hoti arogo paraṁ maraṇā”ti.
—Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài được đặt trên một tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên, chói lên, bừng sáng lên. Với sắc như vây, tự ngã là không có bệnh, sau khi chết.
“Mister Gotama, suppose there was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked. When placed on a cream rug it would shine and glow and dazzle. Such is the splendor of the self that is free of disease after death.”
MN 80, đoạn 11 (SC 24)
“Ato kho te, kaccāna, bahū hi bahutarā devā ye imesaṁ candimasūriyānaṁ ābhā nānubhonti, tyāhaṁ pajānāmi. Atha ca panāhaṁ na vadāmi: ‘yasmā vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro ca paṇītataro ca natthī’ti. Atha ca pana tvaṁ, kaccāna, ‘yvāyaṁ vaṇṇo kiminā khajjopanakena nihīnataro ca patikiṭṭhataro ca so paramo vaṇṇo’ti vadesi; tañca vaṇṇaṁ na paññapesi.
—Này Kaccāna, hơn tất cả quang sắc ấy có rất nhiều, rất nhiều chư Thiên, mà ánh sáng của những mặt trăng, mặt trời này không thể chiếu sáng. Ta biết những chư Thiên ấy và Ta không nói: “Không có một quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn quang sắc ấy”. Còn Ông, này Kaccāna, Ông lại nói: “Quang sắc này thấp kém hơn, yếu đuối hơn quang sắc con sâu đom đóm, quang sắc ấy là tối thắng”, và Ông không chỉ rõ quang sắc ấy.
“Beyond this, Kaccāna, I know very many gods on whom the luminosity of the sun and moon makes no impression. Nevertheless, I do not say: ‘The splendor compared to which no other splendor is finer.’ But of the splendor inferior to a firefly you say, ‘This is the ultimate splendor.’ And you don’t describe that splendor.
MN 80, đoạn 12–13 (SC 25)
Pañca kho ime, kaccāna, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, kaccāna, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, kaccāna, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ. Iti kāmehi kāmasukhaṁ, kāmasukhā kāmaggasukhaṁ tattha aggamakkhāyatī”ti.
Này Kaccāna, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc có mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức … các hương do mũi nhận thức … các vị do lưỡi nhận thức … các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Kaccāna, những pháp này là năm dục trưởng dưỡng. Này Kaccāna, lạc và hỷ nào khởi lên, duyên với năm dục trưởng dưỡng này, được gọi là dục lạc. Như vậy, bởi vì có dục, nên có dục lạc; từ nơi dục lạc, dục tối thượng lạc được gọi ở đây là tối thượng.
Kaccāna, there are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation. The pleasure and happiness that arises from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure. ‘From the senses comes sensual pleasure. Beyond sensual pleasure is the pleasure that surmounts the sensual, which is said to be the best of these.’”
MN 80, đoạn 14 (SC 28)
“dujjānaṁ kho etaṁ, kaccāna, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrayogena aññatrācariyakena—kāmā vā kāmasukhaṁ vā kāmaggasukhaṁ vā. Ye kho te, kaccāna, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā te kho etaṁ jāneyyuṁ—kāmā vā kāmasukhaṁ vā kāmaggasukhaṁ vā”ti.
—Cái này thật khó cho Ông có thể hiểu được, này Kaccāna, về dục, hay dục lạc, hay dục tối thượng lạc. Ông là người thuộc chấp kiến khác, thuộc kham nhẫn khác, thuộc mục đích khác, thuộc tu tập khác, thuộc Ðạo sư khác. Này Kaccāna, nhưng đối với Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, những vị ấy biết: “Dục, dục lạc, hay dục tối thượng lạc”.
“Kaccāna, since you have a different view, creed, and belief, and another discipline and denomination, it’s hard for you to understand the senses, sensual pleasure, and the pleasure that surmounts the sensual. There are mendicants who are perfected, who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment. They can understand the senses, sensual pleasure, and the pleasure that surmounts the sensual.”
MN 80, đoạn 16 (SC 33)
Api ca, kaccāna, tiṭṭhatu pubbanto, tiṭṭhatu aparanto. Etu viññū puriso asaṭho amāyāvī ujujātiko, ahamanusāsāmi ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno nacirasseva sāmaññeva ñassati sāmaṁ dakkhiti—evaṁ kira sammā bandhanā vippamokkho hoti, yadidaṁ avijjā bandhanā. Seyyathāpi, kaccāna, daharo kumāro mando uttānaseyyako kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddho assa suttabandhanehi; tassa vuddhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya tāni bandhanāni mucceyyuṁ; so mokkhomhīti kho jāneyya no ca bandhanaṁ.
Nhưng này Kaccāna, hãy bỏ qua quá khứ, hãy bỏ qua tương lai. Hãy đến, người có trí không gian trá, không xảo quyệt, chơn trực và nói như sau: “Ta giảng dạy, ta thuyết pháp”. Nếu thực hành theo điều đã dạy, thời không bao lâu người ấy tự biết mình, tự thấy mình: “Như vậy thật sự là đã giải thoát khỏi sự ràng buộc chánh, tức là sự ràng buộc của vô minh”. Ví như, này Kaccāna, một đứa trẻ, bé nhỏ, yếu ớt, nằm ngửa, bị trói buộc nơi cổ với năm trói buộc, rất có thể làm bằng dây. Sau khi nó lớn lên, sau khi các căn nó thuần thục, nó được giải thoát khỏi các trói buộc ấy, khi không còn trói buộc nữa, nó biết: “Ta được giải thoát”.
Nevertheless, Kaccāna, leave aside the first beginning and the final end. Let a sensible person come—neither devious nor deceitful, a person of integrity. I teach and instruct them. Practicing as instructed they will soon know and see for themselves, ‘So this is how to be rightly released from the bond, that is, the bond of ignorance.’ Suppose there was a little baby bound with swaddling up to the neck. As they grow up and their senses mature, they’re accordingly released from those bonds. They’d know ‘I’m released,’ and there would be no more bonds.
MN 80, đoạn 17 (SC 35)
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Xin Thế Tôn nhận con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
“Excellent, worthy Gotama! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
vaṇṇasắc, quang sắc (màu sắc, ánh sáng, dung sắc)Bản Việt HT. Thích Minh Châu dịch là "sắc" và "quang sắc"; bản Anh Sujato dịch là "splendor".
paramo vaṇṇosắc tối thượng / quang sắc tối thượng
paribbājakadu sĩ (tu sĩ ngoại đạo lang thang)
attātự ngã
arogo paraṁ maraṇākhông có bệnh, sau khi chếtChủ trương của ngoại đạo về tự ngã tồn tại sau khi chết.
kāmaguṇā (pañca)năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái)
kāmasukhadục lạc
kāmaggasukhadục tối thượng lạc
avijjā bandhanasự ràng buộc của vô minh
arahanta khīṇāsavabậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận
appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁlời nói không có hiệu năng
maṇi veḷuriyohòn lưu ly bảo châu
uposathangày Bố-tát (ngày trai giới)
saraṇaṁ gataquy y, đã đi đến nương tựa

Bài này lặp lại đúng thế bí của MN 79. Vekhanassa nói "sắc này là tối thượng", bị hỏi sắc ấy là sắc gì, và chỉ lặp lại định nghĩa vòng quanh.

Và cũng cùng một ví dụ. Người tuyên bố yêu "cô gái đẹp nhất trong nước"không biết cô ấy là ailời nói không có hiệu năng.

Nhưng Vekhanassa đi xa hơn một bước, và bước ấy mới là chỗ nguy. Ông ví sắc tối thượng ấy như hòn lưu ly bảo châu tám mặt khéo mài, đặt trên tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên — rồi cho rằng tự ngã sau khi chết có sắc như vậy, không có bệnh.

Thế Tôn liền dẫn ông qua chuỗi so sánh quang sắc — và mỗi bậc đều còn cái hơn, cho tới chư Thiên vượt ngoài ánh sáng nhật nguyệt.

Rồi Ngài chuyển sang chỗ thiết thực hơn: các thứ lạc. Năm dục trưởng dưỡng → dục lạc → dục tối thượng lạc. Và Ngài nói chỉ bậc A-la-hán mới biết được điều ấy.

Câu ấy làm Vekhanassa phẫn nộ. Bị nói là chưa biết thì ai cũng khó chịu. Kinh chép thẳng phản ứng ấy, không giấu.

Và đây là chỗ hay nhất bài kinh: Thế Tôn không cãi tiếp. Ngài mời ông thực hành. Người có trí không gian trá, không xảo quyệt, chơn trực — cứ đến, cứ làm theo điều đã dạy; không bao lâu người ấy TỰ BIẾT, TỰ THẤY.

Xin thưa một nhịp mà bản nháp của chúng tôi từng bỏ mất. Trước khi nói "hãy bỏ qua quá khứ, hãy bỏ qua tương lai", Thế Tôn ĐÃ NHÌN NHẬN lời chỉ trích của Vekhanassa là hợp pháp — đối với những ai không biết quá khứ vị lai mà vẫn tuyên bố "Sanh đã tận" thì bị chỉ trích là đúng. Ngài đồng ý về nguyên tắc trước, rồi mới chuyển hướng.

Và ví dụ cuối bài rất cảm động. Như đứa bé nhỏ bị trói, khi lớn lên, các căn thành thục thì được cởi trói — và bấy giờ nó tự biết mình đã được thong thả.

Ý của ví dụ ấy rất rộng lượng. Không ai bị giữ mãi. Cái trói là do chưa đủ sức, không phải do bị phạt. Đủ sức thì tự nhiên được mở.

Và Vekhanassa xin quy y. Người vừa phẫn nộ đó, ra về làm cư sĩ.

  • "Phật thắng cuộc tranh luận." Ngài ngừng tranh luận và mời thực hành.
  • "Nói người ta chưa biết là chê." Kinh chép ông phẫn nộ — rồi vẫn quy y.
  • "Bị trói là bị phạt." Ví dụ nói lớn lên thì được cởi.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ đứa bé được cởi trói khi lớn.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao bị nói "em chưa biết" lại khó chịu?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Học cách ngừng tranh luận và mời thực hành.
  • Vekhanassa chủ trương điều gì?
  • Vì sao ông phẫn nộ?
  • Lời mời của Thế Tôn là gì?
  • Ví dụ đứa bé được cởi trói dạy gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.