G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 73
Sáu Hạng Đệ Tử Đều Có Người Chứng Đạt

Đại Kinh Vacchagotta

Mahāvaccha Sutta — MN 73 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Vacchagotta

Vacchagotta xin Thế Tôn giảng thật vắn tắt: thế nào là thiện, thế nào là bất thiện? Và câu trả lời đúng là vắn tắt: tham, sân, si là bất thiện; vô tham, vô sân, vô si là thiện.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 73
  • Nơi chốnRājagaha, Veluvana (Trúc Lâm)
  • Người hỏi — du sĩ Vacchagotta, cũng là người ở MN 72
  • Kết bài — Vacchagotta xuất gia và chứng A-la-hán

Ðây là bài kinh dài nói về du sĩ ngoại đạo Vacchagotta, người nhiều lần đến vấn đạo Ðức Phật. Lần này ông xin Thế Tôn giảng thật vắn tắt: thế nào là thiện, thế nào là bất thiện. Ðức Phật trả lời rất gọn và rất rõ: tham, sân, si là bất thiện; vô tham, vô sân, vô si là thiện — ba pháp bất thiện, ba pháp thiện. Rồi Ngài mở rộng thành mười: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, vọng ngữ, nói hai lưỡi, ác khẩu, nói lời phù phiếm, xan tham, sân, tà kiến là bất thiện; từ bỏ những điều ấy là thiện. Ngài dạy thêm: khi ái đã được đoạn tận gốc rễ nơi một Tỷ-kheo thì vị ấy là bậc A-la-hán. Phần giữa bài kinh, Vacchagotta lần lượt hỏi Thế Tôn có bao nhiêu đệ tử chứng đạt: Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ và Nữ cư sĩ (cả hạng theo Phạm hạnh lẫn hạng còn hưởng thụ vật dục). Mỗi lần Thế Tôn đều đáp: không phải một trăm, hai trăm… mà còn nhiều hơn thế nữa. Vacchagotta hoan hỷ nhận ra rằng vì cả sáu hạng đệ tử ấy đều thành mãn nên Phạm hạnh này mới thật sự đầy đủ, và ví hội chúng của Thế Tôn như sông Hằng xuôi về biển cả — hướng về Niết-bàn. Ông xin xuất gia. Ðức Phật nêu quy định bốn tháng biệt trú dành cho người trước kia thuộc ngoại đạo; Vacchagotta xin sống biệt trú bốn năm. Nửa tháng sau khi thọ đại giới, ông xin pháp cao hơn, và Thế Tôn dạy tu tập hai pháp: chỉ (samatha) và quán (vipassanā), rồi kể ra các thắng trí có thể chứng đạt cho đến lậu tận. Không bao lâu, Tôn giả Vacchagotta trở thành một vị A-la-hán, nhắn lời "Thế Tôn đã được con hầu hạ", và Thế Tôn xác nhận ông là bậc tam minh, có đại thần lực, đại uy lực.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại Trúc Lâm — Thế Tôn ở Rājagaha, Veluvàna; du sĩ ngoại đạo Vacchagotta đến chào hỏi và xin nghe giảng vắn tắt về thiện, bất thiện pháp (SC 1–5).
  • 2. Ba pháp và mười pháp thiện, bất thiện — Tham, sân, si là bất thiện; vô tham, vô sân, vô si là thiện. Mở rộng thành mười pháp bất thiện và mười pháp thiện (SC 6).
  • 3. Ái đoạn tận thì thành A-la-hán — Khi ái được đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, Tỷ-kheo ấy là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, chánh trí giải thoát (SC 7).
  • 4. Sáu hạng đệ tử đều có người chứng đạt — Vacchagotta lần lượt hỏi về Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ theo Phạm hạnh, Nam cư sĩ hưởng thụ vật dục, Nữ cư sĩ theo Phạm hạnh, Nữ cư sĩ hưởng thụ vật dục; Thế Tôn đáp: không phải chỉ một trăm… mà còn nhiều hơn thế nữa (SC 8–19).
  • 5. Phạm hạnh đầy đủ; ví dụ sông Hằng — Vacchagotta kết luận Phạm hạnh này được đầy đủ vì cả bảy hạng đều thành mãn, và ví hội chúng của Thế Tôn như sông Hằng xuôi về biển cả, hướng về Niết-bàn (SC 20–21).
  • 6. Quy y và xin xuất gia — bốn tháng biệt trú — Vacchagotta quy y Phật, Pháp, Tăng, xin xuất gia; Thế Tôn nêu quy định bốn tháng biệt trú cho người trước kia thuộc ngoại đạo, Vacchagotta tự nguyện bốn năm (SC 22–24).
  • 7. Dạy pháp cao hơn: chỉ và quán — Nửa tháng sau khi thọ đại giới, Tôn giả Vacchagotta xin pháp cao hơn; Thế Tôn dạy tu tập chỉ (samatha) và quán (vipassanā), đưa đến thể nhập nhiều giới sai biệt (SC 26–27).
  • 8. Các thắng trí có thể chứng đạt — Thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thiên nhãn thông, và lậu tận — mỗi loại đều 'sẽ đạt được… nếu Ông còn giữ được đối tượng' (SC 28–33).
  • 9. Vacchagotta chứng A-la-hán và lời xác chứng của Thế Tôn — Sống độc trú, không phóng dật, Tôn giả chứng vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, trở thành A-la-hán; nhắn các Tỷ-kheo 'Thế Tôn đã được con hầu hạ'; Thế Tôn xác nhận ông là bậc tam minh, có đại thần lực, đại uy lực (SC 34–43).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 73, đoạn SC 6 (mn73:4.1–4.4)
“Lobho kho, vaccha, akusalaṁ, alobho kusalaṁ; doso kho, vaccha, akusalaṁ, adoso kusalaṁ; moho kho, vaccha, akusalaṁ, amoho kusalaṁ. Iti kho, vaccha, ime tayo dhammā akusalā, tayo dhammā kusalā.
—Tham, này Vaccha, là bất thiện, vô tham là thiện. Sân, này Vaccha, là bất thiện, vô sân là thiện. Si, này Vaccha, là bất thiện, vô si là thiện. Như vậy, này Vaccha, ba pháp là bất thiện, ba pháp là thiện.
“Greed is unskillful, contentment is skillful. Hate is unskillful, love is skillful. Delusion is unskillful, understanding is skillful. So there are these three unskillful things and three that are skillful.
MN 73, đoạn SC 6 (mn73:5.1–5.11)
Pāṇātipāto kho, vaccha, akusalaṁ, pāṇātipātā veramaṇī kusalaṁ; adinnādānaṁ kho, vaccha, akusalaṁ, adinnādānā veramaṇī kusalaṁ; kāmesumicchācāro kho, vaccha, akusalaṁ, kāmesumicchācārā veramaṇī kusalaṁ; musāvādo kho, vaccha, akusalaṁ, musāvādā veramaṇī kusalaṁ; pisuṇā vācā kho, vaccha, akusalaṁ, pisuṇāya vācāya veramaṇī kusalaṁ; pharusā vācā kho, vaccha, akusalaṁ, pharusāya vācāya veramaṇī kusalaṁ; samphappalāpo kho, vaccha, akusalaṁ, samphappalāpā veramaṇī kusalaṁ; abhijjhā kho, vaccha, akusalaṁ, anabhijjhā kusalaṁ; byāpādo kho, vaccha, akusalaṁ, abyāpādo kusalaṁ; micchādiṭṭhi kho, vaccha, akusalaṁ sammādiṭṭhi kusalaṁ. Iti kho, vaccha, ime dasa dhammā akusalā, dasa dhammā kusalā.
Sát sanh, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ sát sanh là thiện. Lấy của không cho, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện. Tà hạnh trong các dục, này Vaccha là bất thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện. Vọng ngữ, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ vọng ngữ là thiện. Nói hai lưỡi, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện. Nói ác khẩu, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ nói ác khẩu là thiện. Nói lời phù phiếm, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ nói lời phù phiếm là thiện. Xan tham, này Vaccha, là bất thiện, không xan tham là thiện. Sân, này Vaccha, là bất thiện, không sân là thiện. Tà kiến, này Vaccha, là bất thiện, chánh kiến là thiện. Như vậy, này Vaccha, mười pháp là bất thiện, mười pháp là thiện.
Killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; covetousness, ill will, and wrong view: these things are unskillful. Refraining from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; refraining from speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical; contentment, good will, and right view: these things are skillful. So there are these ten unskillful things and ten that are skillful.
MN 73, đoạn SC 7 (mn73:6.1)
Yato kho, vaccha, bhikkhuno taṇhā pahīnā hoti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā, so hoti bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto”ti.
Này Vaccha, khi ái được một Tỷ-kheo đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, không được tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai, Tỷ-kheo ấy là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát.
When a mendicant has given up craving so it is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future, that mendicant is perfected. They’ve ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment.”
MN 73, đoạn SC 9 (mn73:7.3)
“Na kho, vaccha, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova ye bhikkhū mama sāvakā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
—Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỷ-kheo đệ tử của Ta đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
“There are not just one hundred such monks who are my disciples, Vaccha, or two or three or four or five hundred, but many more than that.”
MN 73, đoạn SC 21 (mn73:14.1)
Seyyathāpi, bho gotama, gaṅgā nadī samuddaninnā samuddapoṇā samuddapabbhārā samuddaṁ āhacca tiṭṭhati, evamevāyaṁ bhoto gotamassa parisā sagahaṭṭhapabbajitā nibbānaninnā nibbānapoṇā nibbānapabbhārā nibbānaṁ āhacca tiṭṭhati.
Thưa Tôn giả Gotama, ví như con sông Hằng (Ganga) hướng về biển cả, chảy về biển cả, xuôi dòng về biển cả, liền đứng lại khi xúc chạm với biển cả; cũng vậy hội chúng này của Tôn giả Gotama, gồm có cư sĩ và xuất gia, hướng về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn, xuôi dòng về Niết-bàn, đứng lại khi xúc chạm với Niết-bàn.
Just as the Ganges River slants, slopes, and inclines toward the ocean, and keeps pressing into the ocean, in the same way Worthy Gotama’s assembly—with both laypeople and renunciates—slants, slopes, and inclines toward extinguishment, and keeps pressing upon extinguishment.
MN 73, đoạn SC 23 (mn73:16.1–16.2)
“Yo kho, vaccha, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ, so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya; api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
—Này Vaccha, ai trước kia thuộc ngoại đạo muốn xuất gia trong Pháp và Luật này, muốn thọ đại giới, người ấy phải sống bốn tháng biệt trú. Sau bốn tháng, (nếu) các Tỷ-kheo hoan hỷ, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để trở thành Tỷ-kheo. Nhưng ở đây, Ta biết sự sai biệt về tâm tánh chúng sanh.
“Vaccha, if someone formerly ordained in another sect wishes to take the going forth, the ordination in this teaching and training, they must spend four months on probation. When four months have passed, if the mendicants are satisfied, they’ll give the going forth, the ordination into monkhood. However, I recognize individual differences in this matter.”
MN 73, đoạn SC 27 (mn73:18.1–18.2)
“Tena hi tvaṁ, vaccha, dve dhamme uttari bhāvehi—samathañca vipassanañca. Ime kho te, vaccha, dve dhammā uttari bhāvitā—samatho ca vipassanā ca—anekadhātupaṭivedhāya saṁvattissanti.
—Vậy này Vaccha, hãy tu tập hai pháp cao hơn này, chỉ và quán. Này Vaccha, hai pháp này được tu tập cao hơn, chỉ và quán, sẽ đưa đến sự thể nhập vào một số giới sai biệt.
“Well then, Vaccha, further develop two things: serenity and discernment. When you have further developed these two things, they’ll lead to the penetration of many elements.
MN 73, đoạn SC 42 (mn73:28.5–28.6)
“Pubbeva me, bhikkhave, vacchagotto bhikkhu cetasā ceto paricca vidito: ‘tevijjo vacchagotto bhikkhu mahiddhiko mahānubhāvo’ti.
—Này các Tỷ-kheo, Ta đã được biết tâm của Tỷ-kheo Vacchagotta với tâm của Ta như sau: “Tỷ-kheo Vacchagotta là bậc tam minh, có đại thần lực, có đại uy lực”.
“I’ve already encompassed Vacchagotta’s mind and understood that he has the three knowledges, and is very mighty and powerful.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kusala / akusalathiện / bất thiệnChủ đề mở đầu bài kinh.
lobha, dosa, mohatham, sân, siBa gốc bất thiện; alobha, adosa, amoha là ba gốc thiện.
taṇhāái (khát ái)Ðoạn tận ái thì thành A-la-hán.
arahaṁ khīṇāsavobậc A-la-hán, các lậu đã tận
āsavalậu hoặc
cetovimutti, paññāvimuttitâm giải thoát, tuệ giải thoát
upāsaka / upāsikānam cư sĩ / nữ cư sĩ
gihī odātavasana brahmacārīngười tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh
kāmabhogīngười hưởng thụ vật dục
pañca orambhāgiyāni saṁyojanāninăm hạ phần kiết sử
opapātika, tattha parinibbāyīhóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy (bậc Bất lai)
brahmacariyaPhạm hạnh
nibbānaNiết-bàn
pabbajjā / upasampadāxuất gia / thọ đại giới
parivāsabiệt trúBốn tháng đối với người trước kia thuộc ngoại đạo.
samatha / vipassanāchỉ / quán
tevijjatam minh
iddhividhacác loại thần thông
dibbasota / dibbacakkhuthiên nhĩ / thiên nhãn
pubbenivāsānussatitúc mạng minh (nhớ các đời sống quá khứ)

Cách hỏi của Vacchagotta lần này đã khác.MN 72 ông hỏi mười câu siêu hình; lần này ông xin giảng thật vắn tắt về thiện và bất thiện. Người hỏi đã đổi hướng.

Và Thế Tôn đáp gọn đúng như ông xin. Tham, sân, si là bất thiện; vô tham, vô sân, vô si là thiện. Ba pháp, ba pháp.

Rồi Ngài mở rộng thành mười. Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, phù phiếm, xan tham, sân, tà kiếntừ bỏ những điều ấy là thiện.

Và Ngài thêm một câu rất gọn về đích đến. Khi ái đã được đoạn tận gốc rễ nơi một Tỷ-kheo thì vị ấy là bậc A-la-hán.

Phần giữa bài mới là phần đặc biệt. Vacchagotta lần lượt hỏi: Thế Tôn có bao nhiêu đệ tử chứng đạt? Hỏi đủ sáu hạng: Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ theo Phạm hạnh, nam cư sĩ hưởng dục, nữ cư sĩ theo Phạm hạnh, nữ cư sĩ hưởng dục.

Xin ghi đúng con số: SÁU hạng, không phải bảy. Bản nháp của trang này từng ghi bảy ở tiêu đề mà lại liệt kê sáutự mâu thuẫn. Con số bảy là do đếm nhầm cả chính Đức Phật vào hàng đệ tử. Lượt soi lại đã sửa.

Và mỗi lần Thế Tôn đều đáp cùng một cách. Không phải một trăm, hai trăm… mà còn nhiều hơn thế nữa. Kể cả hạng cư sĩ còn hưởng thụ vật dục.

Đó là chỗ Vacchagotta hoan hỷ nhận ra. Chính vì cả sáu hạng đều có người thành mãn nên Phạm hạnh này mới thật sự đầy đủ. Một con đường mà chỉ người xuất gia đi được thì chưa gọi là đầy đủ.

Và ông ví hội chúng của Thế Tôn như sông Hằng xuôi về biển cảtất cả đều hướng về Niết-bàn.

Ông xin xuất gia — và ở đây lặp lại một chi tiết đẹp. Phật nêu lệ bốn tháng biệt trú cho người vốn theo ngoại đạo; Vacchagotta xin sống biệt trú bốn NĂM. Giống hệt Seniya ở MN 57.

Phần cuối dạy pháp cao hơn: chỉ và quán. Hai pháp ấy được tu tập thì nhiều giới sai biệt được thể nhập — rồi kể ra các thắng trí có thể chứng đạt.

Và kinh kết bằng lời xác chứng. Tôn giả Vacchagotta chứng A-la-hánngười từng đi hỏi những câu hý luận nhất, cuối cùng đi hết con đường.

  • "Chỉ người xuất gia mới chứng đạt." Kinh kể cả sáu hạng, gồm cư sĩ hưởng dục.
  • "Bảy hạng đệ tử." Kinh chỉ có sáu; Đức Phật không phải một hạng đệ tử.
  • "Thiện ác là chuyện phức tạp." Kinh đáp gọn: tham, sân, si.
  • Ngành Oanh. Học ba chữ: tham, sân, si.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: cư sĩ có thể chứng đạt không? — kinh trả lời rất rõ.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài rất hợp để nói đạo không phải chỉ dành cho người xuất gia.
  • Ba pháp bất thiện là gì?
  • Sáu hạng đệ tử gồm những ai?
  • Vì sao Phạm hạnh mới gọi là đầy đủ?
  • Vacchagotta xin biệt trú bao lâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.