G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 57
Tu Thành Thì Sanh Làm Chó · Tu Không Thành Thì Đoạ

Kinh Hạnh Con Chó

Kukkuravatika Sutta — MN 57 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hạnh Con Chó

Hai người tu khổ hạnh bắt chước loài vật: Puñña hành hạnh con bò, lõa thể Seniya hành hạnh con chó — ông này ngồi chõ hỏ như con chó. Mỗi người hỏi Phật về sanh thú của người kia.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 57
  • Nơi chốn — giữa dân chúng Koliya, thị trấn Haliddavasana
  • Hai vịPuñña Koliyaputta (hạnh con bò), lõa thể Seniya (hạnh con chó)
  • Kết bài — Seniya xuất gia và chứng A-la-hán

Kinh này ghi lại cuộc gặp giữa Thế Tôn với hai vị tu khổ hạnh theo lối bắt chước loài vật: Puñña Koliyaputta hành trì hạnh con bò, và lõa thể Seniya hành trì hạnh con chó. Puñña ba lần hỏi Phật rằng người hành hạnh con chó lâu năm như vậy sẽ sanh về đâu. Hai lần đầu Thế Tôn từ chối: "Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa." Đến lần thứ ba Ngài mới trả lời, và câu trả lời rất thẳng: ai hành trì hạnh con chó — giới con chó, tâm con chó, uy nghi con chó — một cách hoàn toàn viên mãn, thì sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào loài chó; còn nếu kèm thêm tà kiến "do giới này, hạnh này, khổ hạnh này mà ta sẽ sanh làm chư Thiên", thì sanh thú là địa ngục hay bàng sanh. Nghĩa là: hạnh ấy thành tựu thì sanh làm chó, không thành tựu thì sanh địa ngục. Seniya nghe xong khóc. Rồi chính Seniya hỏi ngược lại về Puñña, và Phật trả lời y như vậy đối với hạnh con bò; đến lượt Puñña khóc. Điều đáng chú ý là cả hai không giận. Chỉ MỘT người lên tiếng thỉnh pháp — Puñña Koliyaputta — nhưng ông xin thay cho cả hai: “Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để con có thể từ bỏ hạnh con bò này và để lõa thể Seniya… có thể bỏ hạnh con chó này” (SC 17). Nhân đó Thế Tôn giảng bốn loại nghiệp mà Ngài đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết: nghiệp đen đưa đến quả báo đen (thân, khẩu, ý có tổn hại — như chúng sanh trong địa ngục); nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng (thân, khẩu, ý không tổn hại — như chư Thiên Biến Tịnh); nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng lẫn lộn (như loài Người và một số chư Thiên); và nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, tức ý chí (cetanā) đoạn trừ cả ba loại nghiệp trên, đưa đến sự đoạn tận các nghiệp. Câu then chốt được lặp lại ba lần: "Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)." Kết thúc, Puñña xin quy y làm cư sĩ; Seniya xin xuất gia. Phật nêu điều lệ bốn tháng biệt trú cho người vốn theo ngoại đạo, Seniya tự nguyện xin biệt trú bốn năm. Sau khi thọ đại giới, Tôn giả Seniya tinh cần tu tập và chứng quả A-la-hán.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: hai vị khổ hạnh đến gặp Phật — Thế Tôn ở giữa dân chúng Koliya, tại thị trấn Haliddavasana. Puñña Koliyaputta (hạnh con bò) và lõa thể Seniya (hạnh con chó) cùng đến; Seniya ngồi chõ hỏ như con chó.
  • 2. Puñña ba lần hỏi về sanh thú của Seniya — Hai lần đầu Thế Tôn từ chối trả lời; đến lần thứ ba Ngài mới đáp.
  • 3. Quả báo của hạnh con chó — Hành trì viên mãn thì sanh trong loài chó; nếu có tà kiến cho rằng do giới hạnh khổ hạnh ấy sẽ sanh chư Thiên thì sanh thú là địa ngục hay bàng sanh. Seniya nghe xong khóc.
  • 4. Seniya ba lần hỏi về sanh thú của Puñña — quả báo của hạnh con bò — Thế Tôn trả lời tương tự: thành tựu thì sanh trong loài bò, không thành tựu thì sanh địa ngục. Puñña nghe xong khóc.
  • 5. Lời thỉnh cầu: xin Phật thuyết pháp để từ bỏ hai hạnh ấy — Puñña bày tỏ lòng tin và xin Thế Tôn thuyết pháp; Thế Tôn dạy hãy nghe và khéo tác ý.
  • 6. Bốn loại nghiệp — Nghiệp đen quả báo đen; nghiệp trắng quả báo trắng; nghiệp đen trắng quả báo đen trắng; nghiệp không đen trắng quả báo không đen trắng, đưa đến sự đoạn tận các nghiệp. Mỗi loại được giải thích qua thân hành, khẩu hành, ý hành có tổn hại hay không tổn hại, cùng cảnh giới tái sanh tương ứng; loại thứ tư là ý chí (cetanā) đoạn trừ ba loại kia.
  • 7. Quy y và xuất gia — Puñña xin quy y Tam Bảo làm cư sĩ trọn đời. Seniya xin xuất gia; Phật nêu quy định bốn tháng biệt trú cho người trước kia là ngoại đạo, Seniya xin biệt trú bốn năm.
  • 8. Tôn giả Seniya chứng A-la-hán — Sau khi thọ đại giới, sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu vị ấy chứng vô thượng phạm hạnh và trở thành một vị A-la-hán.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 57.1 (SC 1 — mn57:1.2)
ekaṁ samayaṁ bhagavā koliyesu viharati haliddavasanaṁ nāma koliyānaṁ nigamo.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Koliya Haliddavasana là tên một thị trấn của dân chúng Koliya.
At one time the Buddha was staying in the land of the Koliyans, where they have a town named Haliddavasana.
MN 57.2 (SC 4 — mn57:2.6)
“Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
—Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa.
“Enough, Puṇṇa, let it be. Don’t ask me that.”
MN 57.3 (SC 7 — mn57:3.3–3.4)
Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, puṇṇa, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này, hay chư Thiên khác”, thời này Puñña, đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh.
But if they have such a view: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This is their wrong view. An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say: hell or the animal realm.
MN 57.3 (SC 7 — mn57:3.5)
Iti kho, puṇṇa, sampajjamānaṁ kukkuravataṁ kukkurānaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.
Như vậy, này Puñña, nếu hạnh con chó được thành tựu, thời được sanh trong loài chó, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.
So if the dog observance succeeds it leads to rebirth in the company of dogs, but if it fails it leads to hell.”
MN 57.7 (SC 21 — mn57:7.1–7.6)
“Cattārimāni, puṇṇa, kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni. Katamāni cattāri? Atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ; atthi, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ; atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ; atthi, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati.
—Này Puñña có bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là bốn? Này Puñña, có nghiệp đen đưa đến quả báo đen, này Puñña, có nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, này Puñña, có nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng, này Puñña, có nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp.
“Puṇṇa, I declare these four kinds of deeds, having realized them with my own insight. What four? There are dark deeds with dark results; bright deeds with bright results; dark and bright deeds with dark and bright results; and neither dark nor bright deeds with neither dark nor bright results, which lead to the ending of deeds.
MN 57.8 (SC 22 — mn57:8.6–8.9)
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti; yaṁ karoti tena upapajjati, upapannamenaṁ phassā phusanti. Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Như vậy, này Puñña, là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình, và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích mình. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”.
This is how a being is born from a being. For your deeds determine your rebirth, and when you’re reborn contacts strike you. This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds.
MN 57.11 (SC 25 — mn57:11.2)
Tatra, puṇṇa, yamidaṁ kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā—
Ở đây, này Puñña chỗ nào có ý chí (Cetana: Tư tâm sở) đoạn trừ nghiệp đen đưa đến quả báo đen, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng.
It’s the intention to give up dark deeds with dark results, bright deeds with bright results, and both dark and bright deeds with both dark and bright results.
MN 57.15 (SC 32 — mn57:15.3)
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa”.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kukkuravatikangười hành trì hạnh con chókukkura = con chó; vata = hạnh, cấm giới tự nguyện. Tên kinh Kukkuravatikasutta lấy từ chữ này.
govatikangười hành trì hạnh con bògo = con bò.
vatahạnh, cấm giới (lối tu tự nguyện hành trì)Trong bản Việt dịch là 'hạnh'; đi chung với sīla trong cụm sīlabbata.
micchādiṭṭhità kiếnỞ đây là tin rằng nhờ giới, hạnh, khổ hạnh mà sẽ được sanh làm chư Thiên.
gatisanh thú (cảnh giới tái sanh)Bản Việt: 'sanh thú'; đi đôi với abhisamparāya — 'vận mạng'.
nirayađịa ngục
tiracchānayonibàng sanh (loài thú)
kammanghiệp, hành động có tác ý
vipākaquả báo của nghiệp
kaṇhađen
sukkatrắng
kammakkhayasự đoạn tận các nghiệpkammakkhayāya saṁvattati: đưa đến sự đoạn tận các nghiệp.
cetanāý chí, tư tâm sởChính bản Việt của HT. Thích Minh Châu chú trong ngoặc: 'ý chí (Cetana: Tư tâm sở)'.
sabyābajjhacó tổn hạiDùng cho thân hành, khẩu hành, ý hành có tổn hại.
abyābajjhakhông có tổn hại
saṅkhārahànhkāyasaṅkhāra: thân hành; vacīsaṅkhāra: khẩu hành; manosaṅkhāra: ý hành.
kammadāyādā sattācác chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)
subhakiṇhāchư Thiên Biến Tịnh
parivāsabiệt trúparivasati: sống biệt trú; quy định bốn tháng cho người trước kia theo ngoại đạo muốn xuất gia.
pabbajjā / upasampadāxuất gia / thọ đại giới
arahantA-la-hánBản Pāli: 'aññataro kho panāyasmā seniyo arahataṁ ahosi'.

Chi tiết mở đầu đã nói lên tất cả. Lõa thể Seniya đến gặp Phật và ngồi chõ hỏ như con chó. Ông không đóng kịch — ông sống như vậy đã lâu năm.

Puñña hỏi ba lần, và hai lần đầu Thế Tôn từ chối. "Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa." Ngài biết câu trả lời sẽ làm người ta đau.

Đến lần thứ ba Ngài mới đáp, và đáp rất thẳng. Ai hành hạnh con chó — giới con chó, tâm con chó, uy nghi con chó — một cách hoàn toàn viên mãn, thì sanh vào loài chó.

Và vế thứ hai còn nặng hơn. Nếu kèm thêm tà kiến "do giới này, hạnh này, khổ hạnh này mà ta sẽ sanh làm chư Thiên", thì sanh thú là địa ngục hay bàng sanh.

Câu tổng kết là câu lạnh người nhất trong kinh tạng. "Nếu hạnh con chó được thành tựu, thời được sanh trong loài chó; nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục." Không có ngả nào tốt cả.

Seniya nghe xong thì khóc. Rồi chính ông hỏi ngược lại về Puñña — và Phật trả lời y như vậy đối với hạnh con bò. Đến lượt Puñña khóc.

Nhưng đây mới là chỗ đẹp nhất bài kinh. Cả hai không giận. Họ xin Phật dạy pháp để bỏ được lối tu sai lầm ấy. Bao nhiêu năm công phu bị nói là uổng, mà vẫn hỏi tiếp.

Xin nói cho đúng một chi tiết. Thật ra chỉ một người lên tiếng thỉnh phápPuñña — nhưng ông xin thay cho cả hai: "…để con có thể từ bỏ hạnh con bò này và để lõa thể Seniya… có thể bỏ hạnh con chó này." Bản nháp của chúng tôi gộp thành "cả hai xin"; lượt soi lại đã sửa.

Nhân đó Thế Tôn giảng bốn loại nghiệp. Nghiệp đen → quả báo đen. Nghiệp trắng → quả báo trắng. Nghiệp đen trắng → quả báo lẫn lộn (như loài Người). Và nghiệp không đen không trắngđưa đến sự đoạn tận các nghiệp.

Loại thứ tư mới là chỗ lạ và hay.không phải một việc làm — nó là ý chí (cetanā) đoạn trừ cả ba loại nghiệp kia. Cái làm hết nghiệp cũng chính là một thứ nghiệp.

Và câu then chốt lặp lại ba lần trong bài. "Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp của mình."

Kết cục hai người khác nhau, và cả hai đều đúng chỗ. Puñña xin quy y làm cư sĩ. Seniya xin xuất gia. Phật nêu lệ bốn tháng biệt trú cho người vốn theo ngoại đạo — Seniya tự nguyện xin bốn NĂM. Sau đó ngài chứng A-la-hán.

  • "Khổ hạnh nào cũng đáng kính." Kinh nói lối này thành cũng hỏng, không thành cũng hỏng.
  • "Phật nói nặng làm người ta bỏ đạo." Cả hai xin học tiếp, một người xuất gia.
  • "Nghiệp trắng là đích đến." Kinh nêu loại thứ tư mới đưa đến đoạn tận.
  • Ngành Oanh. Hỏi: bắt chước con chó thì thành con chó — vì sao?
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao Phật từ chối trả lời hai lần?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bàn về bốn loại nghiệp, nhất là loại thứ tư.
  • Vì sao Thế Tôn hai lần từ chối trả lời?
  • Hai kết cục của hạnh con chó là gì?
  • Bốn loại nghiệp là gì?
  • Seniya xin biệt trú bao lâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.