G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 72
Lửa Tắt Rồi Đi Về Phương Nào?

Kinh Dạy Vacchagotta Về Lửa

Aggivaccha Sutta — MN 72 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Dạy Vacchagotta Về Lửa

Du sĩ Vacchagotta đem mười câu hỏi siêu hình ra hỏi. Với cả mười, Thế Tôn đều đáp: "Này Vaccha, Ta không có tri kiến như vậy." Rồi Ngài dùng thí dụ ngọn lửa.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 72
  • Nơi chốn — Sāvatthi, Jetavana
  • Người hỏi — du sĩ Vacchagotta, cũng là người hỏi ở SN 44.10
  • Chữ nibbāna — nghĩa gốc là sự tắt lửa

Kinh Aggivacchasutta (Trung Bộ 72) ghi lại cuộc đối thoại giữa Thế Tôn và du sĩ ngoại đạo Vacchagotta tại tinh xá Cấp Cô Ðộc, thành Xá-vệ. Vacchagotta lần lượt đem mười câu hỏi siêu hình quen thuộc thời bấy giờ ra hỏi: thế giới thường trú hay vô thường, hữu biên hay vô biên; sinh mạng và thân thể là một hay là khác; Như Lai sau khi chết có tồn tại, không tồn tại, vừa có vừa không, hay không có cũng không không. Với cả mười câu, Thế Tôn đều đáp: "Này Vaccha, Ta không có tri kiến như vậy." Vacchagotta ngạc nhiên hỏi vì sao. Thế Tôn dạy: mỗi tri kiến ấy là "kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược", đi đôi với khổ, với tàn hại, với não hại, với nhiệt não, và không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thấy sự nguy hại đó nên Ngài không chấp nhận chúng. Khi được hỏi vậy Như Lai có tri kiến gì, Thế Tôn đáp rằng tà kiến đã được Như Lai đoạn trừ; điều Như Lai thấy là năm uẩn — sắc, thọ, tưởng, hành, thức — cùng sự tập khởi và sự đoạn diệt của chúng. Vacchagotta hỏi tiếp: một Tỷ-kheo tâm giải thoát như vậy thì sanh khởi chỗ nào? Thế Tôn đáp bốn lần: "không có áp dụng" (na upeti). Vacchagotta thú nhận mình mê mờ. Thế Tôn liền dùng thí dụ ngọn lửa. Lửa cháy được là do duyên nhiên liệu cỏ và củi; khi hết nhiên liệu, lửa tắt. Hỏi lửa tắt rồi đi về phương Ðông, Tây, Nam hay Bắc thì câu hỏi ấy "không có thể áp dụng". Cũng vậy, sắc, thọ, tưởng, hành, thức — những gì nhờ đó mà người ta nhận biết Như Lai — đã được Như Lai đoạn diệt tận gốc rễ; Như Lai "thâm sâu, vô lượng, khó dò đến đáy như đại dương". Vacchagotta hoan hỷ ví lời dạy ấy như cây tala đã rụng hết cành lá, vỏ và giác cây, chỉ còn thuần lõi, rồi xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời. Bài kinh dạy đoàn sinh biết đâu là câu hỏi đưa đến giải thoát, đâu chỉ là hý luận tranh cãi; và giới thiệu nghĩa gốc của chữ Niết-bàn: sự tắt lửa vì hết nhiên liệu chấp thủ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tinh xá ông Anāthapiṇḍika. Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta đến chào hỏi rồi ngồi xuống một bên (SC 1–2).
  • Mười câu hỏi và mười lần Thế Tôn phủ nhận — Vacchagotta hỏi lần lượt mười tri kiến: thế giới thường trú / vô thường / hữu biên / vô biên; sinh mạng và thân thể là một / là khác; Như Lai sau khi chết có tồn tại / không tồn tại / vừa có vừa không / không có và không không. Mỗi lần Thế Tôn đáp: "Này Vaccha, Ta không có tri kiến như sau..." (SC 3–22).
  • Vacchagotta hỏi lý do; sự nguy hại của các tri kiến — Vacchagotta lặp lại toàn bộ và hỏi Thế Tôn thấy nguy hại gì. Thế Tôn dạy mỗi tri kiến ấy là kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, không hướng đến Niết-bàn (SC 23–25).
  • Như Lai thấy gì: năm uẩn tập và diệt — Hỏi Thế Tôn có tà kiến nào không. Thế Tôn đáp tà kiến đã được Như Lai đoạn trừ; điều Như Lai đã thấy là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cùng sự tập khởi và đoạn diệt của chúng, do đó Như Lai được giải thoát, không còn chấp thủ (SC 26–27).
  • "Sanh khởi chỗ nào?" — bốn lần "không có áp dụng" — Vacchagotta hỏi vị Tỷ-kheo tâm giải thoát sanh khởi chỗ nào: sanh khởi, không sanh khởi, vừa sanh khởi vừa không, không sanh khởi và không không sanh khởi. Cả bốn: "không có áp dụng". Vacchagotta thú nhận vô tri và mê mờ (SC 28–36).
  • Pháp thâm sâu và thí dụ ngọn lửa — Thế Tôn dạy pháp này sâu kín, khó thấy, khó giác ngộ, không thể luận bàn, chỉ bậc trí mới hiểu; rồi hỏi ngược Vacchagotta về ngọn lửa: lửa cháy do duyên nhiên liệu cỏ và củi; lửa tắt rồi thì hỏi đi về phương nào là "không có thể áp dụng" (SC 37–44).
  • Áp dụng thí dụ: Như Lai giải thoát khỏi năm uẩn — Cũng vậy, sắc, thọ, tưởng, hành, thức — nhờ đó mà người ta nhận biết Như Lai — đã được Như Lai đoạn diệt, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala. Như Lai thâm sâu, vô lượng, khó dò đến đáy như đại dương; bốn cách nói khởi lên / không khởi lên đều không có áp dụng (SC 45–49).
  • Vacchagotta quy y — Vacchagotta ví lời dạy như cây tala rụng hết cành lá, vỏ và giác cây, chỉ còn thuần lõi; tán thán và xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời (SC 50–52).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 72, SC 3–4 (mn72:3.1–3.4)
“Kiṁ nu kho, bho gotama, ‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—evaṁdiṭṭhi bhavaṁ gotamo”ti? “Na kho ahaṁ, vaccha, evaṁdiṭṭhi: ‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
—Tôn giả Gotama, phải chăng Tôn giả Gotama có tri kiến như sau: "Thế giới là thường trú, chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng"?
—Này Vaccha, Ta không có tri kiến như sau: "Thế giới là thường trú, chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng".
“Worthy Gotama, is this your view: ‘The cosmos is eternal. This is the only truth, anything else is futile’?” “That’s not my view, Vaccha.”
MN 72, SC 24 (mn72:14.1)
“‘Sassato loko’ti kho, vaccha, diṭṭhigatametaṁ diṭṭhigahanaṁ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkaṁ diṭṭhivipphanditaṁ diṭṭhisaṁyojanaṁ sadukkhaṁ savighātaṁ saupāyāsaṁ sapariḷāhaṁ, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
—Này Vaccha, nghĩ rằng: "Thế giới là thường trú", như vậy là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đôi với khổ, với tàn hại, với não hại, với nhiệt não, không hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
“Each of these ten convictions is the thicket of views, the desert of views, the twist of views, the dodge of views, the fetter of views. They’re beset with suffering, distress, anguish, and fever. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.
MN 72, SC 27 (mn72:15.2–15.9)
“Diṭṭhigatanti kho, vaccha, apanītametaṁ tathāgatassa. Diṭṭhañhetaṁ, vaccha, tathāgatena: ‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā, iti vedanāya samudayo, iti vedanāya atthaṅgamo; iti saññā, iti saññāya samudayo, iti saññāya atthaṅgamo; iti saṅkhārā, iti saṅkhārānaṁ samudayo, iti saṅkhārānaṁ atthaṅgamo; iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti. Tasmā tathāgato sabbamaññitānaṁ sabbamathitānaṁ sabbaahaṅkāramamaṅkāramānānusayānaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā anupādā vimuttoti vadāmī”ti.
—Này Vaccha, tà kiến đã được Như Lai đoạn trừ. Nhưng này Vaccha, đây là điều Như Lai đã thấy: "Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt; đây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt; đây là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt; đây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt; đây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt". Do vậy, ta nói rằng, với sự đoạn trừ, ly tham, đoạn diệt, xả bỏ, vứt bỏ tất cả ảo tưởng của tất cả hôn mê, của tất cả ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên, mà Như Lai được giải thoát, không còn chấp thủ.
“A realized one has done away with convictions. For a realized one has seen: ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling, such is the origin of feeling, such is the disappearance of feeling. Such is perception, such is the origin of perception, such is the disappearance of perception. Such are choices, such is the origin of choices, such is the disappearance of choices. Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’ That’s why a Realized One is freed by not grasping with the ending, fading away, cessation, giving up, and letting go of all conceiving, all churning, and all I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit, I say.”
MN 72, SC 28–29 (mn72:16.1–16.2)
“Evaṁ vimuttacitto pana, bho gotama, bhikkhu kuhiṁ upapajjatī”ti? “Upapajjatīti kho, vaccha, na upeti”.
—Thưa Tôn giả Gotama, một Tỷ-kheo được tâm giải thoát như vậy sanh khởi chỗ nào?
—Sanh khởi, này Vaccha, không có áp dụng.
“But worthy Gotama, when a mendicant’s mind is freed like this, where are they reborn?” “‘They’re reborn’ doesn’t apply, Vaccha.”
MN 72, SC 37 (mn72:18.1–18.4)
“Alañhi te, vaccha, aññāṇāya, alaṁ sammohāya. Gambhīro hāyaṁ, vaccha, dhammo duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. So tayā dujjāno aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrayogena aññatrācariyakena. Tena hi, vaccha, taññevettha paṭipucchissāmi; yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
—Này Vaccha, thôi vừa rồi, vô tri của Ông! Thôi vừa rồi, mê mờ (của Ông)! Này Vaccha, sâu kín là pháp này, khó thấy, khó giác ngộ, an tịnh, thù thắng, không thể luận bàn, tế nhị, chỉ bậc trí mới hiểu. Thật rất khó cho Ông có thể hiểu được, khi Ông thuộc tri kiến khác, kham nhẫn khác, lý tưởng khác, hành trì khác, đạo sư khác. Và này Vaccha, nay Ta trở lại hỏi Ông. Hãy trả lời nếu Ông kham nhẫn. …
“No wonder you don’t understand, Vaccha, no wonder you’re confused. For this principle is deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute. It’s hard for you to understand, since you have a different view, creed, and belief, and another discipline and denomination. Well then, Vaccha, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like.
MN 72, SC 44 (mn72:19.18)
“Na upeti, bho gotama, yañhi so, bho gotama, aggi tiṇakaṭṭhupādānaṁ paṭicca ajali tassa ca pariyādānā aññassa ca anupahārā anāhāro nibbutotveva saṅkhyaṁ gacchatī”ti.
—Không có thể áp dụng ở đây, Tôn giả Gotama. Vì rằng, này Tôn giả Gotama, ngọn lửa ấy đã cháy vì duyên nhiên liệu cỏ và củi. Khi cỏ và củi ấy hết và vì không có nhiên liệu khác, nên được xem là không có nhiên liệu, đã bị tắt.
“It doesn’t apply, worthy Gotama. The fire depended on grass and logs as fuel. When that runs out, and no more fuel is added, the fire is reckoned to have become quenched due to lack of fuel.”
MN 72, SC 45 (mn72:20.1–20.4)
“Evameva kho, vaccha, yena rūpena tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya taṁ rūpaṁ tathāgatassa pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ. Rūpasaṅkhayavimutto kho, vaccha, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāḷho—seyyathāpi mahāsamuddo. Upapajjatīti na upeti, na upapajjatīti na upeti, upapajjati ca na ca upapajjatīti na upeti, neva upapajjati na na upapajjatīti na upeti.
—Cũng vậy, này Vaccha, do sắc pháp này, nhờ đó mà một người nhận biết Như Lai có thể nhận biết được, sắc pháp ấy đã được Như Lai đoạn diệt, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala không được tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Giải thoát khỏi cái gọi là sắc, này Vaccha, là Như Lai, thâm sâu, vô lượng, khó dò đến đáy như đại dương. Khởi lên không có áp dụng, không khởi lên không có áp dụng, khởi lên và không khởi lên không có áp dụng, không khởi lên và không không khởi lên không có áp dụng.
“In the same way, Vaccha, any form by which a realized one might be described has been given up, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future. A realized one is freed from reckoning in terms of form. They’re deep, immeasurable, and hard to fathom, like the ocean. ‘They’re reborn’, ‘they’re not reborn’, ‘they’re both reborn and not reborn’, ‘they’re neither reborn nor not reborn’—none of these apply.
MN 72, SC 51 (mn72:21.2–21.5)
“seyyathāpi, bho gotama, gāmassa vā nigamassa vā avidūre mahāsālarukkho. Tassa aniccatā sākhāpalāsā palujjeyyuṁ, tacapapaṭikā palujjeyyuṁ, pheggū palujjeyyuṁ; so aparena samayena apagatasākhāpalāso apagatatacapapaṭiko apagataphegguko suddho assa, sāre patiṭṭhito; evameva bhoto gotamassa pāvacanaṁ apagatasākhāpalāsaṁ apagatatacapapaṭikaṁ apagatapheggukaṁ suddhaṁ, sāre patiṭṭhitaṁ.
—Thưa Tôn giả Gotama, như một cây tala lớn, không xa làng hay thị trấn, vì vô thường nên cành lá rơi rụng, vỏ và đọt non rơi rụng, giác cây rơi rụng và sau một thời gian, với cành lá rơi rụng, với vỏ và đọt non rơi rụng, với giác cây rơi rụng, cây ấy thuần tịnh chỉ còn lại lõi cây. Cũng vậy, lời nói này của Tôn giả Gotama, với cành lá rơi rụng, với vỏ và đọt non rụng, với giác cây rơi rụng, lời nói ấy thuần tịnh, chỉ còn lại lõi cây.
“Worthy Gotama, suppose there was a large sal tree not far from a town or village. And because it’s impermanent, its branches and foliage, bark and shoots, and softwood would fall off. After some time it would be rid of branches and foliage, bark and shoots, and softwood, pure, and consolidated in the core. In the same way, worthy Gotama’s dispensation is rid of branches and foliage, bark and shoots, and softwood, pure, and consolidated in the core.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
aggilửa, ngọn lửaTên kinh Aggivacchasutta lấy từ thí dụ ngọn lửa.
diṭṭhigatatri kiến, kiến chấpHT. Minh Châu dịch là "tri kiến"/"tà kiến"; Sujato dịch "conviction".
diṭṭhigahanakiến trù lâm (rừng rậm của kiến chấp)
diṭṭhikantārakiến hoang vu (sa mạc của kiến chấp)
diṭṭhisaṁyojanakiến kiết phược (sự trói buộc của kiến chấp)
sassato lokothế giới là thường trúCâu hỏi thứ nhất trong mười câu.
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁsinh mạng và thân thể là mộtĐối lại: aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ — sinh mạng và thân thể là khác.
tathāgataNhư Lai
na upeti"không có áp dụng" (câu hỏi ấy không thích hợp)Câu then chốt của bài kinh; Sujato: "it doesn’t apply".
upapajjatisanh khởi, tái sanh
tiṇakaṭṭhupādānanhiên liệu cỏ và củiupādāna vừa nghĩa "nhiên liệu" vừa nghĩa "chấp thủ" — chỗ hay của thí dụ.
nibbuta / nibbānađã tắt (lửa) / Niết-bànNghĩa đen là lửa tắt vì hết nhiên liệu.
rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇasắc, thọ, tưởng, hành, thức — năm uẩn
samudaya / atthaṅgamatập khởi / đoạn diệt
atakkāvacarakhông thể luận bàn, vượt ngoài phạm vi suy luận
tālāvatthukatalàm cho như thân cây tala (bị chặt ngọn, không mọc lại được)
anupādā vimuttagiải thoát, không còn chấp thủ

Mười câu hỏi ấy là mười câu người ta tranh cãi suốt thời bấy giờ. Thế giới thường trú hay vô thường, hữu biên hay vô biên; sinh mạng và thân thể là một hay khác; Như Lai sau khi chết có tồn tại, không tồn tại, vừa có vừa không, hay không có cũng không không.

Và với cả mười, Thế Tôn đáp cùng một câu. "Này Vaccha, Ta không có tri kiến như vậy." Mười lần y nguyên.

Vacchagotta ngạc nhiên hỏi vì sao — và câu trả lời rất mạnh. Mỗi tri kiến ấy là "kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược".

Xin để ý chữ "trù lâm" và "hoang vu". Rừng rậm thì đi vào là lạc; đất hoang thì gieo gì cũng không mọc. Không phải các câu ấy sai — mà là vào đó thì không ra được.

Và tiêu chuẩn Ngài dùng để loại chúng rất nhất quán. Chúng không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Vậy Như Lai thấy gì? Thấy năm uẩn — sắc, thọ, tưởng, hành, thức — cùng sự tập khởi và sự đoạn diệt của chúng. Chỉ vậy thôi, và đủ.

Rồi Vacchagotta hỏi câu khó nhất. Một Tỷ-kheo tâm giải thoát như vậy thì sanh khởi chỗ nào? Thế Tôn đáp — và đáp bốn lần"không có áp dụng" (na upeti). Vacchagotta thú nhận mình mê mờ.

Và đây là thí dụ hay nhất kinh tạng về Niết-bàn. Lửa cháy được là do duyên nhiên liệu cỏ và củi. Khi hết nhiên liệu, lửa tắt.

Rồi câu hỏi bẫy. Lửa tắt rồi đi về phương Đông, Tây, Nam hay Bắc? Câu hỏi ấy "không có thể áp dụng". Không phải vì ta không biết — mà vì câu hỏi đặt sai.

Áp dụng vào Như Lai cũng vậy. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức — những gì nhờ đó mà người ta nhận biết Như Lai — đã được đoạn diệt tận gốc rễ. Nên Như Lai "thâm sâu, vô lượng, khó dò đến đáy như đại dương".

Và đó chính là nghĩa gốc của chữ Niết-bàn. Nibbāna nghĩa đen là sự TẮT của một ngọn lửatắt vì hết nhiên liệu, không phải bị dập tắt. Nhiên liệu ấy là chấp thủ.

Vacchagotta hoan hỷ ví lời dạy ấy như cây tāla đã rụng hết cành lá, vỏ và giác cây, chỉ còn thuần lõi — rồi xin quy y trọn đời.

  • "Phật không trả lời vì không biết." Kinh nêu rõ lý do: các câu ấy không đưa đến giải thoát.
  • "Niết-bàn là hư vô." Kinh nói câu hỏi "đi về đâu" không áp dụng được, không nói không còn gì.
  • "Lửa tắt là bị dập tắt." Kinh nói tắt vì hết nhiên liệu.
  • Ngành Oanh. Thổi tắt một cây nến rồi hỏi: lửa đi đâu?
  • Ngành Thiếu. Hỏi: câu hỏi nào là câu hỏi đặt sai?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm SN 44.10 — cùng một người hỏi.
  • Mười câu hỏi ấy là gì?
  • Vì sao Thế Tôn không nhận tri kiến nào?
  • “Không có áp dụng” nghĩa là gì?
  • Nghĩa gốc của chữ Niết-bàn là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.