G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 62
Trung Bộ · Ngài Dạy Con Mình

Đại Kinh Giáo Giới La-Hầu-La

Mahārāhulovāda Sutta — MN 62 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Giáo Giới La-Hầu-La

Đây là bài thứ hai Đức Phật dạy riêng cho con ruột mình, sau MN 61. Bài trước dạy về nói dối. Bài này dạy quán thân, tu bốn tâm vô lượng, và niệm hơi thởmột lộ trình trọn vẹn cho một người còn rất trẻ.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 62
  • Người ngheTôn giả Rāhula, con ruột Đức Phật
  • Người khuyên thêmTôn giả Sāriputta, khuyên tu niệm hơi thở
  • Bài đi cặpMN 61, dạy về nói dối

Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la là bài kinh Ðức Phật dạy riêng cho con ruột của mình — Tôn giả La-hầu-la — một bài kinh rất thích hợp để Huynh Trưởng hướng dẫn đoàn sinh, vì nội dung đi từ dễ đến khó, từ thân thể mình ra tới tâm mình. Mở đầu, khi đang đi khất thực, Thế Tôn quay lại dạy: bất cứ sắc pháp nào — quá khứ, vị lai, hiện tại, trong hay ngoài, thô hay tế, xa hay gần — đều phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ rằng "Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta". Khi Rāhula hỏi có phải chỉ sắc thôi, Phật đáp: cả thọ, tưởng, hành, thức (năm uẩn) đều vậy. Nghe xong, Rāhula tự nghĩ: ai được Thế Tôn trực tiếp giáo giới hôm nay thì còn đi khất thực làm gì — nên quay về ngồi kiết già dưới gốc cây. Tôn giả Sāriputta khuyên ngài tu niệm hơi thở vô hơi thở ra. Chiều đến, Rāhula thưa hỏi Thế Tôn, và Phật dạy trọn một lộ trình tu: Thứ nhất, quán năm giới trong chính thân mình: địa giới (tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương…), thủy giới (mật, đàm, máu, mồ hôi, nước mắt…), hỏa giới (cái làm hâm nóng, tiêu hóa), phong giới (các thứ gió trong thân, hơi thở vô ra) và hư không giới (lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng…). Nội giới và ngoại giới đều chỉ là giới ấy, đều phải quán "không phải của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta", để sanh yểm ly và tâm từ bỏ. Thứ hai, tu tập "như đất, như nước, như lửa, như gió, như hư không": đất bị quăng đồ sạch đồ dơ mà không lo âu, không dao động, không nhàm chán; người tu cũng vậy, các xúc khả ái và không khả ái khởi lên sẽ không nắm giữ được tâm. Thứ ba, tu bốn tâm vô lượng và hai pháp quán: từ trừ sân, bi trừ hại tâm, hỷ trừ bất lạc, xả trừ hận tâm, bất tịnh trừ tham ái, vô thường trừ ngã mạn. Cuối cùng là niệm hơi thở vô hơi thở ra theo mười sáu bước — từ biết hơi thở dài ngắn, an tịnh thân hành, cảm giác hỷ lạc, an tịnh tâm hành, cho đến quán vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ. Tu như vậy thì "khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được giác tri, không phải không được giác tri". Rāhula hoan hỷ tín thọ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi và lời dạy trên đường khất thực (SC 1–5) — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tịnh xá Cấp Cô Ðộc. Sáng sớm Ngài vào thành khất thực, Rāhula đi sau lưng. Thế Tôn quay lại dạy quán mọi sắc pháp là 'không phải của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta'; Rāhula hỏi có phải chỉ sắc, Phật đáp: cả thọ, tưởng, hành, thức.
  • 2. Rāhula quay về toạ thiền — lời khuyên của Tôn giả Sāriputta (SC 6–7) — Rāhula tự nghĩ ai được Thế Tôn trực tiếp giáo giới mà còn đi khất thực được, nên quay về ngồi kiết già dưới gốc cây, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt. Tôn giả Sāriputta thấy vậy khuyên tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, được quả lớn, lợi ích lớn.
  • 3. Rāhula thưa hỏi Thế Tôn (SC 8–9) — Buổi chiều, sau khi từ Thiền tịnh đứng dậy, Rāhula đến đảnh lễ và hỏi: niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập, làm cho sung mãn như thế nào để được quả lớn, lợi ích lớn.
  • 4. Quán năm giới trong thân: địa, thủy, hỏa, phong, hư không (SC 10–14) — Thế Tôn giảng nội địa giới, nội thủy giới, nội hỏa giới, nội phong giới, nội hư không giới kèm danh mục các phần trong thân; nội giới và ngoại giới đều thuộc về giới ấy, đều phải quán như thật với chánh trí tuệ 'không phải của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta', do đó sanh yểm ly và tâm từ bỏ giới ấy.
  • 5. Tu tập như đất, nước, lửa, gió, hư không (SC 15–19) — Ví dụ đất bị quăng đồ tịnh và bất tịnh, nước rửa, lửa đốt, gió thổi các thứ ấy mà không lo âu, không dao động, không nhàm chán; hư không thì không trú tại một chỗ nào. Tu tập như vậy thì các xúc khả ái, không khả ái khởi lên không nắm giữ tâm, không tồn tại.
  • 6. Từ, bi, hỷ, xả, bất tịnh, vô thường (SC 20) — Tu lòng từ trừ sân tâm; lòng bi trừ hại tâm; hỷ trừ bất lạc; xả trừ hận tâm; bất tịnh trừ tham ái; vô thường trừ ngã mạn.
  • 7. Niệm hơi thở vô hơi thở ra — mười sáu bước (SC 21–26) — Ði đến khu rừng, gốc cây hay ngôi nhà trống, ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt; biết hơi thở dài ngắn, cảm giác toàn thân, an tịnh thân hành; cảm giác hỷ, lạc, tâm hành, an tịnh tâm hành; cảm giác về tâm, tâm hân hoan, tâm định tĩnh, tâm giải thoát; quán vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ. Tu như vậy thì hơi thở tối hậu chấm dứt cũng được giác tri.
  • 8. Kết kinh (SC 27) — Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Rāhula hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 62 — SC 3 (Pāli mn62:3.2)
“yaṁ kiñci, rāhula, rūpaṁ—atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā—sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabban”ti.
—Này Rāhula, bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta”.
“Rāhula, you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’”
MN 62 — SC 5 (Pāli mn62:3.4)
“Rūpampi, rāhula, vedanāpi, rāhula, saññāpi, rāhula, saṅkhārāpi, rāhula, viññāṇampi, rāhulā”ti.
—Cả sắc, này Rāhula; cả thọ, này Rāhula; cả tưởng, này Rāhula; cả hành, này Rāhula; và cả thức, này Rāhula.
“Form, Rāhula, as well as feeling and perception and choices and consciousness.”
MN 62 — SC 7 (Pāli mn62:5.3–5.4)
“ānāpānassatiṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Ānāpānassati, rāhula, bhāvanā bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā”ti.
—Này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập nhập tức xuất tức niệm (niệm hơi thở vô, hơi thở ra). Này Rāhula, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.
“Rāhula, develop mindfulness of breathing. When mindfulness of breathing is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial.”
MN 62 — SC 10 (Pāli mn62:8.1–8.6)
“Yaṁ kiñci, rāhula, ajjhattaṁ paccattaṁ kakkhaḷaṁ kharigataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ—kesā lomā nakhā dantā taco maṁsaṁ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṁ vakkaṁ hadayaṁ yakanaṁ kilomakaṁ pihakaṁ papphāsaṁ antaṁ antaguṇaṁ udariyaṁ karīsaṁ … ayaṁ vuccati, rāhula, ajjhattikā pathavīdhātu. … Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā pathavīdhātuyā nibbindati, pathavīdhātuyā cittaṁ virājeti.
—Này Rāhula, cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ; như vậy, này Rāhula, được gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Ðịa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự là ngã của ta”. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.
“Rāhula, the interior earth element is anything internal, personal, that’s hard, solid, and appropriated. This includes: head hair, body hair, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, intestines, mesentery, undigested food, feces … This is called the interior earth element. The interior earth element and the exterior earth element are just the earth element. This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the earth element, detaching the mind from the earth element.”
MN 62 — SC 15 (Pāli mn62:13.1–13.5)
Pathavīsamaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Pathavīsamañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato uppannā manāpāmanāpā phassā cittaṁ na pariyādāya ṭhassanti. Seyyathāpi, rāhula, pathaviyā sucimpi nikkhipanti, asucimpi nikkhipanti … na ca tena pathavī aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā; evameva kho tvaṁ, rāhula, pathavīsamaṁ bhāvanaṁ bhāvehi.
Này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập như đất. Này Rāhula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rāhula, ví như trên đất người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ không tịnh, quăng phân uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không dao động, hay không nhàm chán; cũng vậy, này Rāhula, hãy tu tập như đất. Này Rāhula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.
“Rāhula, meditate like the earth. For when you meditate like the earth, pleasant and unpleasant contacts will not occupy your mind. Suppose they were to toss both clean and unclean things on the earth, like feces, urine, spit, pus, and blood. The earth isn’t horrified, repelled, and disgusted because of this. In the same way, meditate like the earth.”
MN 62 — SC 19 (Pāli mn62:17.1–17.5)
Ākāsasamaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Ākāsasamañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato uppannā manāpāmanāpā phassā cittaṁ na pariyādāya ṭhassanti. Seyyathāpi, rāhula, ākāso na katthaci patiṭṭhito; evameva kho tvaṁ, rāhula, ākāsasamaṁ bhāvanaṁ bhāvehi.
Này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rāhula, do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rāhula, ví như hư không không bị trú tại một chỗ nào; cũng vậy, này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập như hư không.
“Meditate like space. For when you meditate like space, pleasant and unpleasant contacts will not occupy your mind. Just as space is not established anywhere, in the same way, meditate like space.”
MN 62 — SC 20 (Pāli mn62:18.1–23.2)
Mettaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi … yo byāpādo so pahīyissati. Karuṇaṁ … yā vihesā sā pahīyissati. Muditaṁ … yā arati sā pahīyissati. Upekkhaṁ … yo paṭigho so pahīyissati. Asubhaṁ … yo rāgo so pahīyissati. Aniccasaññaṁ … yo asmimāno so pahīyissati.
Này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập về lòng từ. Này Rāhula, do tu tập sự tu tập về lòng từ, cái gì thuộc sân tâm sẽ được trừ diệt. Này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập về lòng bi. Này Rāhula, do tu tập sự tu tập về lòng bi, cái gì thuộc hại tâm sẽ được trừ diệt. Này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập về hỷ. Này Rāhula, do tu tập sự tu tập về hỷ, cái gì thuộc bất lạc sẽ được trừ diệt. Này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập về xả. Này Rāhula, do tu tập sự tu tập về xả, cái gì thuộc hận tâm sẽ được trừ diệt. Này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập về bất tịnh. Này Rāhula, do tu tập sự tu tập về bất tịnh, cái gì thuộc tham ái được trừ diệt. Này Rāhula, hãy tu tập sự tu tập về vô thường. Này Rāhula, do tu tập sự tu tập về vô thường, cái gì thuộc ngã mạn được trừ diệt.
“Meditate on love. For when you meditate on love any ill will will be given up. Meditate on compassion … any cruelty will be given up. Meditate on rejoicing … any discontent will be given up. Meditate on equanimity … any aversion will be given up. Meditate on ugliness … any lust will be given up. Meditate on impermanence … any conceit ‘I am’ will be given up.”
MN 62 — SC 26 (Pāli mn62:30.1–30.2)
Evaṁ bhāvitā kho, rāhula, ānāpānassati, evaṁ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Evaṁ bhāvitāya, rāhula, ānāpānassatiyā, evaṁ bahulīkatāya yepi te carimakā assāsā tepi viditāva nirujjhanti no aviditā”ti.
Tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, này Rāhula, làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này Rāhula, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, làm cho sung mãn như vậy, thời khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được giác tri, không phải không được giác tri.
“Mindfulness of breathing, when developed and cultivated in this way, is very fruitful and beneficial. When mindfulness of breathing is developed and cultivated in this way, even as the final breaths cease they are known, not unknown.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
MahārāhulovādasuttaÐại kinh Giáo giới La-hầu-lamahā = lớn/đại; rāhula-ovāda = lời giáo giới cho Rāhula. Phân biệt với Cūḷarāhulovāda (MN 147) và Ambalaṭṭhikarāhulovāda (MN 61).
RāhulaLa-hầu-la, con của Thái tử Siddhattha, xuất gia lúc còn nhỏ
ānāpānassatiniệm hơi thở vô hơi thở ra (nhập tức xuất tức niệm)assāsa = hơi thở vô, passāsa = hơi thở ra
dhātugiới (yếu tố)Trong kinh này gồm pathavī, āpo, tejo, vāyo, ākāsa
pathavīdhātuđịa giới — yếu tố đất, tính kiên cứng thô phù
āpodhātuthủy giới — yếu tố nước, chất lỏng
tejodhātuhỏa giới — yếu tố lửa, chất nóng
vāyodhātuphong giới — yếu tố gió, tánh động
ākāsadhātuhư không giới — yếu tố hư không, các khoảng trống trong thân
ajjhattika / bāhiranội (thuộc nội thân) / ngoại
mettātừ — lòng thương yêu; tu từ thì sân tâm (byāpāda) được trừ diệt
karuṇābi — lòng thương xót; trừ hại tâm (vihesā)
muditāhỷ — vui theo cái vui của người; trừ bất lạc (arati)
upekkhāxả — tâm bình đẳng; trừ hận tâm (paṭigha)
asubhabất tịnh — quán thân bất tịnh; trừ tham ái (rāga)
aniccasaññāvô thường tưởng; trừ ngã mạn (asmimāna, mạn 'tôi là')
anattā / netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attāvô ngã / 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta'
nibbidā (nibbindati)yểm ly — sanh nhàm chán, không còn say đắm
virāga (cittaṁ virājeti)ly tham — tâm từ bỏ, lìa tham đắm
sammappaññā / yathābhūtachánh trí tuệ / như thật (đúng như sự thật)
phassa (manāpāmanāpā phassā)xúc; các xúc khả ái và không khả ái
kāyasaṅkhāra / cittasaṅkhārathân hành / tâm hànhtrong 16 bước niệm hơi thở: 'an tịnh thân hành', 'an tịnh tâm hành'
pīti / sukhahỷ (thọ) / lạc (thọ)
samādhi (samādahaṁ cittaṁ)định; 'với tâm định tĩnh'
paṭinissaggatừ bỏ, buông xả (bước quán cuối trong 16 bước)
pallaṅkaṁ ābhujitvā, ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya, parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvāngồi kiết già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt

Chỗ mở đầu rất đời và rất người. Rāhula đang đi theo sau Đức Phật để khất thực. Ngài quay lại nói ngay giữa đường: bất cứ sắc nào cũng phải quán “cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta”.

Nghe xong, Rāhula quay về. Kinh ghi ý nghĩ của ngài: ai được Thế Tôn trực tiếp giáo giới hôm nay thì còn đi khất thực làm gì — nên quay về ngồi kiết già dưới gốc cây. Bỏ bữa ăn để ngồi ngay.

Tôn giả Sāriputta thấy vậy thì khuyên tu niệm hơi thở. Nhưng chiều đến Rāhula vẫn đi hỏi Đức Phật — và Ngài dạy trọn một lộ trình, không chỉ trả lời câu hỏi.

Trước hết: quán năm giới ngay trong thân mình. Địa (tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương), thủy (mật, đàm, máu, mồ hôi, nước mắt), hỏa (cái làm hâm nóng, tiêu hoá), phong (các thứ gió trong thân), hư không (lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, đường thức ăn đi qua). Mỗi giới đều quán: không phải của ta.

Xin thưa rõ một chỗ dễ nhầm. Bài này dạy NĂM giới, không có thức giới. Kinh MN 140 mới dạy sáu. Bản tra cứu đầu ghi nhầm thành sáu, chúng tôi đã sửa — và ghi ở đây để quý anh chị khỏi lẫn hai bài.

Rồi tới phần rất đẹp: tu như đất, như nước, như lửa, như gió, như hư không. Người ta đổ vật sạch lẫn vật dơ lên đất — đất không lo âu, không dao động. Nước rửa cả sạch lẫn dơ, lửa đốt cả sạch lẫn dơ, gió thổi qua cả sạch lẫn dơ, hư không không dính vào đâu cả. Tu như vậy thì xúc chạm khả ái hay bất khả ái đều không chiếm cứ tâm.

Rồi bốn tâm vô lượng, mỗi tâm trị một bệnh. Từ trừ sân. Bi trừ hại. Hỷ trừ bất lạc (ganh tị). Xả trừ hận. Rồi quán bất tịnh trừ tham, quán vô thường trừ ngã mạn. Từng thuốc cho từng bệnh, không nói chung chung.

Cuối cùng mới tới niệm hơi thởmười sáu bước, và Ngài nói: tu như vậy thì cho đến hơi thở cuối cùng cũng được biết rõ, không phải không biết rõ.

Vì sao bài này đáng đọc cho người dạy trẻ. Rāhula còn nhỏ. Vậy mà Ngài không giản lược — Ngài dạy đủ, nhưng bắt đầu từ cái sờ được: tóc, lông, móng, răng, da. Cụ thể trước, trừu tượng sau.

  • “Bài này dạy sáu giới.” Năm. Sáu là ở MN 140.
  • “Tu như đất là nhẫn nhục chịu đựng.” Kinh nói đất không lo âu, không dao động — không phải cắn răng chịu.
  • “Bốn tâm vô lượng là bốn cách nghĩ tốt.” Kinh chỉ rõ mỗi tâm trừ một thứ cụ thể.
  • Ngành Oanh. Tu như đất: đổ nước sạch, nước dơ xuống đất — đất có buồn không?
  • Ngành Thiếu. Bốn tâm vô lượng — cho các em ghép tâm nào trừ bệnh nào.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chi tiết Ngài dạy đủ cho một người còn nhỏ, chỉ bắt đầu từ cái sờ được — bài học về cách dạy trẻ.
  • Bài này dạy mấy giới, và bài nào dạy sáu?
  • Tu như đất nghĩa là gì?
  • Bốn tâm vô lượng trừ bốn thứ gì?
  • Vì sao Ngài bắt đầu từ tóc, lông, móng, răng?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.