G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 140
Trung Bộ · Đêm Ở Nhà Thợ Gốm

Kinh Giới Phân Biệt

Dhātuvibhaṅga Sutta — MN 140 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Giới Phân Biệt

Đức Phật đi đường, xin ngủ nhờ nhà một người thợ gốm. Trong nhà đã có một vị mới xuất gia tên Pukkusāti — người này bỏ nhà đi tu vì tin Đức Phật, nhưng chưa từng thấy mặt Ngài. Hai người ngồi chung một chỗ suốt đêm, và Ngài không xưng danh.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 140
  • Nơi chốnnhà thợ gốm Bhaggava, thành Vương Xá
  • Người nghePukkusāti, chưa biết mình đang ngồi trước ai
  • Nội dungsáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý hành

Đây là một bài kinh vừa cảm động vừa sâu sắc. Đức Phật, trên đường du hành, xin ngủ nhờ nhà thợ gốm Bhaggava ở Vương Xá. Trong nhà đã có một vị mới xuất gia tên Pukkusāti — chính vì tin Đức Phật mà bỏ nhà đi tu, nhưng chưa từng thấy mặt Ngài. Suốt đêm hai người cùng ngồi thiền. Đức Phật không xưng danh, chỉ hỏi: "Ông xuất gia y cứ vào ai? Ai là Đạo sư của ông?" Pukkusāti trả lời đầy đủ danh hiệu Thế Tôn mà không hề biết Bậc Đạo Sư đang ngồi ngay trước mặt, vẫn gọi Ngài là "Hiền giả". Đức Phật liền giảng bài pháp tóm tắt: "Người này có sáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn thắng xứ… Chớ có buông lung trí tuệ, hãy hộ trì chân đế, hãy tăng trưởng huệ thí, hãy tu học tịch tịnh." Rồi Ngài giải thích từng phần: sáu giới là địa, thủy, hỏa, phong, không và thức; sáu xúc xứ là nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ, tỷ xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ; mười tám ý hành là sáu hỷ, sáu ưu, sáu xả; bốn thắng xứ là tuệ, đế, huệ thí, tịch tịnh. Phần quán chiếu là cốt lõi: mỗi giới bên trong thân và bên ngoài đều "chỉ là giới ấy", phải quán như thật với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi." Quán xong, còn lại thức trong sạch trong trắng, rồi còn lại xả thanh tịnh nhu nhuyến chói sáng như vàng đã luyện. Vị ấy tuệ tri rằng nếu hướng cái xả thanh tịnh ấy vào bất cứ vô sắc xứ nào thì chính cái xả ấy trở thành pháp hữu vi, nên không tác thành, không chấp thủ, không dao động, tự chứng Niết-bàn. Vượt khỏi mọi vọng tưởng "tôi là" — vốn là bệnh, là cục bướu, là mũi tên — vị ấy được gọi là ẩn sĩ tịch tịnh. Nghe xong, Pukkusāti nhận ra "Thật sự bậc Đạo sư đã đến với ta!", đảnh lễ sám hối tội gọi Phật bằng "Hiền giả", xin thọ cụ túc giới. Vì chưa đủ y bát, ngài đi tìm và bị một con bò cuồng chạy đoạt mất mạng sống. Đức Phật cho biết Pukkusāti đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh và nhập Niết-bàn tại đó, không trở lui đời này nữa.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: nghỉ đêm nhà thợ gốm Bhaggava — Thế Tôn du hành xứ Magadha đến Rājagaha, xin thợ gốm Bhaggava cho ở một đêm; Bhaggava cho biết đã có một vị xuất gia (Pukkusāti) ở trước, nếu vị ấy thỏa thuận thì Thế Tôn cứ ở. Pukkusāti đồng ý. Cả hai ngồi thiền phần lớn đêm. (SC 1–7)
  • Đối thoại: "Ai là Đạo sư của ông?" — Thế Tôn hỏi Pukkusāti xuất gia y cứ vào ai; Pukkusāti tán thán mười danh hiệu của Sa-môn Gotama, nói Ngài đang ở Sāvatthi, và thú nhận chưa từng thấy, nếu thấy cũng không nhận ra. (SC 8–13)
  • Tổng thuyết (uddesa) sáu giới phân biệt — Thế Tôn quyết định thuyết pháp và nêu đề mục tóm tắt: sáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn thắng xứ; vọng tưởng không chuyển động thì gọi là ẩn sĩ tịch tịnh; chớ buông lung trí tuệ, hộ trì chân đế, tăng trưởng huệ thí, tu học tịch tịnh. (SC 14–17)
  • Giải thích bốn đề mục đầu — Sáu giới = địa, thủy, hỏa, phong, không, thức. Sáu xúc xứ = nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc xứ. Mười tám ý hành = sáu hỷ hành, sáu ưu hành, sáu xả hành. Bốn thắng xứ = tuệ, đế, huệ thí, tịch tịnh thắng xứ. (SC 18–21)
  • Thế nào là không buông lung trí tuệ: quán sáu giới — Từng giới (địa, thủy, hỏa, phong, hư không) được phân tích nội - ngoại, kể chi tiết các phần trong thân, rồi quán "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", sanh yếm ly và tâm từ bỏ giới ấy. (SC 22–28)
  • Thức còn lại: quán thọ và xúc — Còn lại thức trong sạch trong trắng, thức tri lạc - khổ - bất khổ bất lạc; mỗi thọ khởi do xúc tương ứng và diệt khi xúc ấy diệt; ví dụ hai cây que cọ xát sanh lửa, rời nhau thì hơi nóng diệt. (SC 29–30)
  • Xả thanh tịnh và ví dụ người thợ vàng — Còn lại xả trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, chói sáng — như vàng được người thợ vàng thiện xảo luyện sạch tỳ vết. (SC 31)
  • Không hướng xả vào bốn Vô sắc xứ; tự chứng Niết-bàn — Vị ấy tuệ tri nếu hướng xả này vào Hư không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì xả ấy trở thành pháp hữu vi; nên không tác thành, không suy tưởng đến hữu hay phi hữu, không chấp thủ, tự chứng Niết-bàn: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành…" (SC 32–33)
  • Cảm thọ cuối cùng và ví dụ ngọn đèn dầu — Mọi thọ đều vô thường, không nên đắm trước; vị ấy cảm giác thọ "với thân là tối hậu", "với sinh mạng là tối hậu", biết sau khi thân hoại mạng chung mọi cảm thọ trở thành thanh lương — như ngọn đèn dầu hết dầu hết tim thì tắt. (SC 34–35)
  • Bốn tối thắng thắng xứ — Tối thắng Thánh tuệ = trí biết sự đoạn tận mọi đau khổ; tối thắng Thánh đế = Niết-bàn, không đưa đến hư vọng; tối thắng Thánh huệ thí = sự xả ly tất cả sanh y; tối thắng Thánh tịch tịnh = sự tịch tịnh tham sân si. (SC 36–40)
  • Vọng tưởng (maññita) và ẩn sĩ tịch tịnh — "Tôi là", "Tôi là cái này", "Tôi sẽ là"… đều là vọng tưởng; vọng tưởng là bệnh, là cục bướu, là mũi tên. Vượt khỏi mọi vọng tưởng thì gọi là ẩn sĩ tịch tịnh: không sanh, không già, không dao động, không hy cầu. Kết thúc phần pháp: "hãy thọ trì sự phân biệt tóm tắt của Ta về sáu giới". (SC 41–43)
  • Pukkusāti nhận ra Phật và sám hối — Pukkusāti nhận ra bậc Đạo sư đã đến với mình, đảnh lễ và xin sám hối lỗi xưng hô "Hiền giả"; Thế Tôn chấp nhận và dạy rằng thấy lỗi là lỗi, như Pháp phát lộ, là sự tăng ích trong giới luật bậc Thánh. (SC 44–46)
  • Xin thọ cụ túc giới — thiếu y bát — Pukkusāti xin thọ cụ túc giới; Thế Tôn hỏi có đủ y bát không, vị ấy thưa không; "các Như Lai không có trao cụ túc giới cho ai không đủ y bát". (SC 47–50)
  • Pukkusāti mệnh chung và sanh thú của vị ấy — Đi tìm y bát, Pukkusāti bị một con bò cuồng chạy đoạt mất mạng sống. Các Tỷ-kheo hỏi sanh thú; Thế Tôn dạy vị ấy đã chấp hành Chánh pháp và tùy pháp, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh và từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không trở lui đời ấy nữa. (SC 51–55)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 140.7 (SC 17) — tổng thuyết
'Cha dhāturo ayaṁ, bhikkhu, puriso cha phassāyatano aṭṭhārasa manopavicāro caturādhiṭṭhāno; yattha ṭhitaṁ maññassavā nappavattanti, maññassave kho pana nappavattamāne muni santoti vuccati. Paññaṁ nappamajjeyya, saccamanurakkheyya, cāgamanubrūheyya, santimeva so sikkheyyā'ti—ayamuddeso dhātuvibhaṅgassa.
Này Tỷ-kheo, người này có sáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn thắng xứ, khi được an trú, vọng tưởng không có chuyển động. Khi vọng tưởng không chuyển động, vị ấy được gọi là một ẩn sĩ tịch tịnh. Chớ có buông lung trí tuệ, hãy hộ trì chân đế, hãy tăng trưởng huệ thí (caga), hãy tu học tịch tịnh. Ðây là tổng thuyết sáu giới phân biệt.
'This person has six elements, six fields of contact, eighteen mental preoccupations, and four foundations. Where they stand, the streams of conceiving do not flow. And where the streams of conceiving do not flow, they are called a sage at peace. Do not neglect wisdom; preserve truth; foster generosity; and train only for peace.' This is the summary recital for the analysis of the elements.
MN 140.8 (SC 18) — sáu giới
'Cha dhāturo ayaṁ, bhikkhu, puriso'ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Chayimā, bhikkhu, dhātuyo—pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu.
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: “Người này có sáu giới”, do duyên gì được nói đến như vậy? Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới. Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: “Người này có sáu giới”, chính do duyên này được nói đến như vậy.
'This person has six elements.' That's what I said, but why did I say it? There are these six elements: the elements of earth, water, fire, air, space, and consciousness.
MN 140.9 (SC 19) — sáu xúc xứ
'Cha phassāyatano ayaṁ, bhikkhu, puriso'ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhusamphassāyatanaṁ, sotasamphassāyatanaṁ, ghānasamphassāyatanaṁ, jivhāsamphassāyatanaṁ, kāyasamphassāyatanaṁ, manosamphassāyatanaṁ.
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: “Người này có sáu xúc xứ”, do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ, tỷ xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. Khi được nói đến: “Người này có sáu xúc xứ”, chính do duyên này được nói đến như vậy.
'This person has six fields of contact.' That's what I said, but why did I say it? The fields of contact of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind.
MN 140.14 (SC 24) — quán địa giới, câu vô ngã
'Taṁ netaṁ mama nesohamasmi na meso attā'ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ. Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā pathavīdhātuyā nibbindati, pathavīdhātuyā cittaṁ virājeti.
Ðịa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.
This should be truly seen with right understanding like this: 'This is not mine, I am not this, this is not my self.' When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the earth element, detaching the mind from the earth element.
MN 140.19 (SC 29–30) — thức còn lại; ví dụ hai cây que
Athāparaṁ viññāṇaṁyeva avasissati parisuddhaṁ pariyodātaṁ. Tena ca viññāṇena kiṁ vijānāti? 'Sukhan'tipi vijānāti, 'dukkhan'tipi vijānāti, 'adukkhamasukhan'tipi vijānāti. … Seyyathāpi, bhikkhu, dvinnaṁ kaṭṭhānaṁ saṅghaṭṭā samodhānā usmā jāyati, tejo abhinibbattati, tesaṁyeva dvinnaṁ kaṭṭhānaṁ nānābhāvā vinikkhepā yā tajjā usmā sā nirujjhati, sā vūpasammati.
Lại nữa, khi thức còn lại được trong sạch, trong trắng, vị ấy biết được một số sự việc nhờ thức ấy. Vị ấy thức tri được lạc, thức tri được khổ, thức tri được bất khổ bất lạc. […] Này Tỷ-kheo, ví như do hai cây que xúc chạm cọ xát, hơi nóng được sanh, ngọn lửa được hiện khởi. Khi hai que ấy được rời nhau, được phân ly, sức nóng được sanh khởi ấy, sức nóng ấy được diệt đi, được chấm dứt.
What remains is sheer consciousness, pure and bright. And what does that consciousness know? It cognizes 'pleasure' and 'pain' and 'neutral'. … When you rub two sticks together, heat is generated and fire is produced. But when you part the sticks and lay them aside, any corresponding heat ceases and stops.
MN 140.20 (SC 31) — xả thanh tịnh, ví dụ người thợ vàng
Athāparaṁ upekkhāyeva avasissati parisuddhā pariyodātā mudu ca kammaññā ca pabhassarā ca. Seyyathāpi, bhikkhu, dakkho suvaṇṇakāro vā suvaṇṇakārantevāsī vā ukkaṁ bandheyya … taṁ hoti jātarūpaṁ sudhantaṁ niddhantaṁ nīhaṭaṁ ninnītakasāvaṁ mudu ca kammaññañca pabhassarañca.
Lại nữa, xả còn lại được trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, chói sáng. Ví như, này Tỷ-kheo, một người thợ vàng thiện xảo hay người đệ tử sửa soạn lò đúc […] vàng ấy đã trở thành sáng sủa, thanh tịnh, gột sạch, các uế tạp được đoạn trừ, các tỳ vết được trừ sạch, nhu nhuyến, dễ uốn nắn và chói sáng.
There remains only equanimity, pure, bright, pliable, workable, and radiant. It's like when a deft goldsmith or a goldsmith's apprentice prepares a forge … That native gold becomes pliable, workable, and radiant, not brittle, and is ready to be worked.
MN 140.31 (SC 42) — vọng tưởng là bệnh, là cục bướu, là mũi tên
'Asmī'ti, bhikkhu, maññitametaṁ, 'ayamahamasmī'ti maññitametaṁ, 'bhavissan'ti maññitametaṁ … Maññitaṁ, bhikkhu, rogo maññitaṁ gaṇḍo maññitaṁ sallaṁ. Sabbamaññitānaṁ tveva, bhikkhu, samatikkamā muni santoti vuccati.
Này Tỷ-kheo, “Tôi là”, như vậy là vọng tưởng. “Tôi là cái này”, như vậy là vọng tưởng. “Tôi sẽ là”, như vậy là vọng tưởng. […] Vọng tưởng, này Tỷ-kheo, là bệnh, vọng tưởng là cục bướu, vọng tưởng là mũi tên. Này Tỷ-kheo, khi vượt khỏi mọi vọng tưởng, vị ẩn sĩ được gọi là tịch tịnh.
These are all forms of conceiving: 'I am', 'I am this', 'I will be' … Conceiving is a disease, a boil, a dart. Having gone beyond all conceiving, one is called a sage at peace.
MN 140.33 (SC 44–46) — Pukkusāti nhận ra Phật
"satthā kira me anuppatto, sugato kira me anuppatto, sammāsambuddho kira me anuppatto"ti … "accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yohaṁ bhagavantaṁ āvusovādena samudācaritabbaṁ amaññissaṁ."
Rồi Tôn giả Pukkusati nghĩ như sau: “Thật sự bậc Ðạo sư đã đến với ta! Thật sự bậc Thiện Thệ đã đến với ta! Thật sự bậc Chánh Ðẳng Giác đã đến với ta!” […] Con đã rơi vào một lỗi lầm, bạch Thế Tôn, vì rằng, ngu đần, si mê và không khéo léo như con, đã nghĩ rằng con có thể xưng hô với Thế Tôn với danh từ Hiền giả.
Then Venerable Pukkusāti thought, "It seems the Teacher has come to me! The Holy One has come to me! The fully awakened Buddha has come to me!" … "I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me to presume to address the Buddha as 'reverend'."
MN 140.36 (SC 54) — sanh thú của Pukkusāti
Pukkusāti, bhikkhave, kulaputto pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā"ti.
Này các Tỷ-kheo, Thiện gia nam tử Pukkusati, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh và từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không phải trở lui đời ấy nữa.
With the ending of the five lower fetters, he's been reborn spontaneously and will become extinguished there, not liable to return from that world.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dhātugiới — yếu tố cấu thànhSáu giới: pathavī (địa), āpo (thủy), tejo (hỏa), vāyo (phong), ākāsa (hư không), viññāṇa (thức).
dhātuvibhaṅgagiới phân biệt — sự phân tích các giớiTên bài kinh; cuối kinh Phật gọi là chadhātuvibhaṅga (phân biệt sáu giới).
phassāyatanaxúc xứ — nơi phát sanh sự xúc chạmSáu xúc xứ: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý.
manopavicāraý hành — sự chạy theo, xét đoán của ýMười tám: sáu hỷ hành (somanassa), sáu ưu hành (domanassa), sáu xả hành (upekkhā).
adhiṭṭhānathắng xứ — nền tảng an trúBốn thắng xứ: paññā (tuệ), sacca (đế/chân thật), cāga (huệ thí/xả thí), upasama (tịch tịnh).
paññātrí tuệTối thắng Thánh tuệ = sabbadukkhakkhaye ñāṇaṁ, trí biết sự đoạn tận mọi đau khổ.
saccachân đế, sự thậtTối thắng Thánh đế là Niết-bàn, pháp không hư vọng (amosadhamma).
cāgahuệ thí, sự xả bỏTối thắng Thánh huệ thí = sabbūpadhipaṭinissaggo, xả ly tất cả sanh y.
upasamatịch tịnh, sự lắng dịuTối thắng Thánh tịch tịnh = rāgadosamohānaṁ upasamo, tịch tịnh tham sân si.
upadhisanh y — nền tảng của tái sanh, chấp thủ
maññita / maññassavavọng tưởng / dòng vọng tưởng"Tôi là"…; vọng tưởng là bệnh (rogo), cục bướu (gaṇḍo), mũi tên (sallaṁ).
muni santoẩn sĩ tịch tịnhVị vượt khỏi mọi vọng tưởng: không sanh, không già, không chết, không dao động, không hy cầu.
vedanāthọ — cảm thọLạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; khởi do xúc, diệt khi xúc diệt.
upekkhāxảXả trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, chói sáng (parisuddhā pariyodātā mudu kammaññā pabhassarā).
nibbindati / virājetisanh yếm ly / tâm từ bỏ (ly tham)
saṅkhatapháp hữu vi, cái bị tạo tácKinh không nói bốn Vô sắc xứ là hữu vi; kinh nói nếu hướng cái xả thanh tịnh vào các xứ ấy thì chính cái xả ấy trở thành hữu vi.
orambhāgiya saṁyojananăm hạ phần kiết sửĐoạn trừ năm hạ phần kiết sử thì thành bậc Bất Lai (opapātika, hóa sanh).
opapātikahóa sanhSanh thú của Pukkusāti; "tattha parinibbāyī" — nhập Niết-bàn tại đó.
āvusoHiền giảCách xưng hô giữa các vị đồng phạm hạnh; Pukkusāti dùng gọi Phật vì không biết Ngài, sau phải sám hối.
kulaputtaThiện gia nam tửCách gọi Pukkusāti trước khi thọ cụ túc giới.

Cách Ngài mở lời rất đời thường. Ngài hỏi người thợ gốm — không hỏi thẳng Pukkusāti — rằng có phiền không nếu ngủ nhờ. Thợ gốm nói đã có một vị xuất gia ở đó, nếu vị ấy bằng lòng thì cứ ở. Ngài phải xin phép một người tu trẻ để được vào.

Rồi Ngài quan sát trước khi nói. Kinh ghi Ngài thấy Pukkusāti ngồi kiết già suốt đêm, và nghĩ: “Thiện nam tử này có những hành động đáng tin. Vậy Ta hãy hỏi thử.” Ngài không giảng ngay — Ngài xem người trước.

Câu hỏi thứ nhất rất nhẹ. “Này Tỳ-kheo, ông xuất gia theo ai? Ai là Đạo Sư của ông?” Pukkusāti đáp: theo Sa-môn Gotama. Hỏi tiếp: ông đã gặp Ngài chưa?Chưa. Nếu gặp tôi cũng không nhận ra. Câu ấy nói ngay trước mặt Ngài.

Ngài vẫn không xưng tên, chỉ nói: “Vậy Ta sẽ thuyết pháp cho ông.” Rồi giảng: sáu giới (đất, nước, lửa, gió, hư không, thức), sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn thắng xứ. Với mỗi giới, phải quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”

Chỗ tinh tế nhất, và rất dễ dạy sai. Sau khi quán hết, còn lại thức trong sạch, rồi còn lại xả thanh tịnh, nhu nhuyến, chói sáng như vàng đã luyện. Nhưng kinh nói ngay: nếu hướng cái xả ấy vào bất cứ Vô sắc xứ nào — thì chính cái xả ấy trở thành pháp hữu vi. Kinh không nói bốn Vô sắc xứ là hữu vi — kinh nói cái xả bị hướng vào thì hoá ra hữu vi. Chúng tôi đã sửa chỗ này sau khi lượt soi chỉ ra.

Rồi tới đoạn về “tôi là”. Vọng tưởng “tôi là” được gọi là bệnh, cục bướu, mũi tên. Vượt khỏi nó thì được gọi là ẩn sĩ tịch tịnh.

Và Pukkusāti nhận ra. Ông nói: “Thật sự bậc Đạo Sư đã đến với ta! Thật sự bậc Thiện Thệ đã đến với ta!” rồi xin sám hối vì đã gọi Ngài là “Hiền giả”. Ngài nhận lời sám hối, nói: ai thấy lỗi là lỗi và phát lộ đúng pháp thì được tăng trưởng.

Đoạn kết đột ngột như một nhát cắt. Pukkusāti đi tìm y bát để xin thọ đại giới, thì bị một con bò cuồng chạy đoạt mất mạng sống. Giống hệt chuyện ông BāhiyaUd 1.10. Đức Phật xác nhận ông đã chứng quả Bất Lai.

  • “Đức Phật luôn được nhận ra.” Ở đây không ai nhận ra Ngài, kể cả người bỏ nhà đi tu vì Ngài.
  • “Bốn Vô sắc xứ là pháp hữu vi.” Kinh nói cái xả bị hướng vào đó mới thành hữu vi.
  • “Sáu xúc xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.”nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ… — sáu xúc xứ, không phải sáu căn.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể câu chuyện: hai người ngồi chung một đêm, một người không biết người kia là ai.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao Đức Phật không nói ngay “Ta là Phật đây”?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chi tiết Ngài quan sát trước khi giảng — bài học về xem người rồi mới dạy.
  • Vì sao Đức Phật không xưng danh?
  • Ngài làm gì trước khi mở lời giảng?
  • Cái gì trở thành hữu vi — Vô sắc xứ hay cái xả?
  • Chuyện này giống chuyện ông Bāhiya ở chỗ nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.