G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 61
Trung Bộ Kinh · Đức Phật Dạy Con

Kinh Giáo Giới La-Hầu-La

Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta — Trung Bộ 61 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Giáo Giới La-Hầu-La

Đây là bài kinh một người cha dạy con. Đức Phật đến chỗ La-Hầu-La ở, rửa chân xong, chừa lại chút nước trong chậu rồi hỏi: “Con có thấy chút nước ít ỏi này không?” Ngài không giảng đạo lý trước — Ngài chỉ vào một vật thật đang ở đó.

  • Bộ — Trung Bộ, MN 61
  • Nơi nói — rừng Ambalaṭṭhika, gần thành Vương Xá
  • Người nghe — Tôn giả La-Hầu-La (Rāhula), con ruột của Đức Phật
  • Hai phần — phần đầu về nói dối, phần sau về soi lại hành động
  • Có bài liên quan — Kinh Pháp Cú kệ 176 cũng nói một lời nói dối mở đường cho mọi điều ác

Đây là bài kinh Đức Phật dạy riêng cho con mình là Tôn giả La-hầu-la (Rāhula) tại rừng Āmala, gần thành Vương Xá. Bài kinh mở đầu bằng một hình ảnh rất cụ thể, ai cũng thấy được: Thế Tôn vừa rửa chân xong, Ngài chừa lại chút nước trong chậu và hỏi La-hầu-la có thấy chút nước ít ỏi ấy không. Ngài dạy: Sa-môn hạnh của người nào "biết mà nói láo, không có tàm quý" cũng ít ỏi như vậy. Rồi Ngài đổ chút nước ấy đi — Sa-môn hạnh cũng bị đổ đi như vậy; lật úp chậu — cũng lật úp như vậy; lật ngửa chậu trống không — cũng trống không như vậy. Bốn động tác, bốn mức độ hư hoại, cho thấy nói dối cố ý không phải lỗi nhỏ mà là chỗ làm rỗng cả đời tu. Tiếp đó là ví dụ con voi chiến của vua: con voi khi lâm trận còn giữ gìn cái vòi thì người nài biết nó chưa quăng bỏ mạng sống; nhưng khi nó dùng luôn cả vòi thì người nài biết nó đã quăng bỏ mạng sống, "không có việc gì mà không làm". Cũng vậy, ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thì "không có việc ác gì mà không làm". Từ đó Ngài dạy lời học tập nổi tiếng: "Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi." Phần thứ hai lấy cái gương làm ví dụ. Hỏi mục đích cái gương là gì, La-hầu-la đáp: để phản tỉnh (soi lại). Đức Phật dạy: cũng vậy, phải phản tỉnh nhiều lần rồi mới hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Với mỗi nghiệp, phản tỉnh ba thời: trước khi làm, đang khi làm, và sau khi làm, với câu hỏi: việc này có đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai không? Nếu bất thiện thì chớ làm, đang làm thì từ bỏ, đã làm rồi thì thưa lên, tỏ lộ, trình bày trước bậc Đạo sư hay các vị đồng Phạm hạnh có trí rồi phòng hộ trong tương lai (riêng ý nghiệp thì lo âu, tàm quý, nhàm chán rồi phòng hộ). Nếu là thiện thì nên làm, tiếp tục làm, và an trú trong niềm hoan hỷ, tu học ngày đêm trong các thiện pháp. Kết kinh: chư Sa-môn, Bà-la-môn quá khứ, vị lai, hiện tại tịnh hóa ba nghiệp đều nhờ phản tỉnh nhiều lần như vậy.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Thế Tôn đến rừng Ambalaṭṭhika thăm Tôn giả Rāhula — Thế Tôn trú ở Vương Xá, Trúc Lâm; Rāhula ở tại Ambalaṭṭhika. Buổi chiều Thế Tôn từ Thiền tịnh đứng dậy đi đến chỗ Rāhula; Rāhula sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. (MN 61.1–2)
  • 2. Ví dụ chậu nước: bốn lần dạy về nói láo có ý thức — Bốn hình ảnh nối tiếp — chút nước còn lại, chút nước bị đổ đi, chậu bị lật úp, chậu trống không — mỗi lần đều kết: Sa-môn hạnh của người biết mà nói láo, không có tàm quý, cũng như vậy. (MN 61.3–6)
  • 3. Ví dụ con voi chiến của vua và lời dạy 'dầu nói để mà chơi' — Con voi giữ gìn cái vòi thì chưa quăng bỏ mạng sống; khi dùng luôn cả vòi thì không có việc gì mà không làm. Cũng vậy, người biết mà nói láo không có tàm quý thì không có việc ác gì mà không làm. Do vậy phải học tập: 'Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi.' (MN 61.7)
  • 4. Ví dụ cái gương: phản tỉnh nhiều lần rồi mới hành ba nghiệp — Hỏi mục đích cái gương; đáp: để phản tỉnh. Cũng vậy, sau khi phản tỉnh nhiều lần hãy hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. (MN 61.8)
  • 5. Thân nghiệp: phản tỉnh trước khi làm, đang làm, sau khi làm — Trước khi làm: nếu bất thiện thì chớ có làm, nếu thiện thì nên làm. Đang làm: nếu bất thiện thì từ bỏ, nếu thiện thì tiếp tục. Đã làm: nếu bất thiện thì thưa lên, tỏ lộ, trình bày trước bậc Đạo sư hay các vị đồng Phạm hạnh có trí rồi phòng hộ trong tương lai; nếu thiện thì an trú trong hoan hỷ, tu học ngày đêm trong các thiện pháp. (MN 61.9–11)
  • 6. Khẩu nghiệp: cùng ba thời phản tỉnh như trên — Lặp lại nguyên vẹn công thức ba thời cho khẩu nghiệp, kể cả việc thưa lên, tỏ lộ, trình bày và phòng hộ trong tương lai. (MN 61.12–14)
  • 7. Ý nghiệp: cùng ba thời, nhưng sau khi làm thì lo âu, tàm quý, nhàm chán — Ý nghiệp bất thiện đã làm thì cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán, rồi phòng hộ trong tương lai (khác với thân và khẩu nghiệp là tỏ lộ trước người khác). (MN 61.15–17)
  • 8. Kết luận: chư Sa-môn Bà-la-môn ba đời đều tịnh hóa ba nghiệp nhờ phản tỉnh — Quá khứ, vị lai, hiện tại — tất cả đều tịnh hóa thân, khẩu, ý nghiệp sau khi phản tỉnh nhiều lần. Do vậy Rāhula cần phải tu học như vậy. Thế Tôn thuyết giảng như vậy; Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn giảng. (MN 61.18)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để quý anh chị đối chiếu được.

MN 61.3
"passasi no tvaṁ, rāhula, imaṁ parittaṁ udakāvasesaṁ udakādhāne ṭhapitan"ti? "Evaṁ, bhante". "Evaṁ parittakaṁ kho, rāhula, tesaṁ sāmaññaṁ yesaṁ natthi sampajānamusāvāde lajjā"ti.
—Này Rāhula, Ông có thấy một ít nước còn lại này trong chậu nước không?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Cũng ít vậy, này Rāhula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
"Rāhula, do you see this little bit of water left in the pot?" "Yes, sir." "That's how little of the ascetic's nature is left in those who are not ashamed to tell a deliberate lie."
MN 61.4
"passasi no tvaṁ, rāhula, parittaṁ udakāvasesaṁ chaḍḍitan"ti? "Evaṁ, bhante". "Evaṁ chaḍḍitaṁ kho, rāhula, tesaṁ sāmaññaṁ yesaṁ natthi sampajānamusāvāde lajjā"ti.
—Này Rāhula, Ông có thấy chút ít nước còn lại ấy bị đổ đi không?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Cũng đổ đi vậy, này Rāhula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
"Do you see this little bit of water that was discarded?" "Yes, sir." "That's how the ascetic's nature is discarded in those who are not ashamed to tell a deliberate lie."
MN 61.5–6
"Evaṁ nikkujjitaṁ kho, rāhula, tesaṁ sāmaññaṁ yesaṁ natthi sampajānamusāvāde lajjā"ti. … "Evaṁ rittaṁ tucchaṁ kho, rāhula, tesaṁ sāmaññaṁ yesaṁ natthi sampajānamusāvāde lajjāti.
—Này Rāhula, Ông có thấy chậu nước bị lật úp ấy không?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Cũng lật úp vậy, này Rāhula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
… —Này Rāhula, Ông có thấy chậu nước này trống không không?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Cũng trống không vậy, này Rāhula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
"That's how the ascetic's nature is turned upside down in those who are not ashamed to tell a deliberate lie." … "That's how vacant and hollow the ascetic's nature is in those who are not ashamed to tell a deliberate lie."
MN 61.7
Evameva kho, rāhula, yassa kassaci sampajānamusāvāde natthi lajjā, nāhaṁ tassa kiñci pāpaṁ akaraṇīyanti vadāmi. Tasmātiha te, rāhula, 'hassāpi na musā bhaṇissāmī'ti—evañhi te, rāhula, sikkhitabbaṁ.
Cũng vậy, này Rāhula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rāhula, "Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi", này Rāhula, Ông phải học tập như vậy.
In the same way, when someone is not ashamed to tell a deliberate lie, there is no bad deed they would not do, I say. So you should train like this: 'I will not tell a lie, even for a joke.'
MN 61.8
"Taṁ kiṁ maññasi, rāhula, kimatthiyo ādāso"ti? "Paccavekkhaṇattho, bhante"ti. "Evameva kho, rāhula, paccavekkhitvā paccavekkhitvā kāyena kammaṁ kattabbaṁ, paccavekkhitvā paccavekkhitvā vācāya kammaṁ kattabbaṁ, paccavekkhitvā paccavekkhitvā manasā kammaṁ kattabbaṁ.
—Này Rāhula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?
—Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.
—Cũng vậy, này Rāhula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp.
"What do you think, Rāhula? What is the purpose of a mirror?" "It's for checking your reflection, sir." "In the same way, deeds of body, speech, and mind should be done only after repeated checking."
MN 61.9
Yadeva tvaṁ, rāhula, kāyena kammaṁ kattukāmo ahosi, tadeva te kāyakammaṁ paccavekkhitabbaṁ: 'yannu kho ahaṁ idaṁ kāyena kammaṁ kattukāmo idaṁ me kāyakammaṁ attabyābādhāyapi saṁvatteyya, parabyābādhāyapi saṁvatteyya, ubhayabyābādhāyapi saṁvatteyya—akusalaṁ idaṁ kāyakammaṁ dukkhudrayaṁ dukkhavipākan'ti? … evarūpaṁ te, rāhula, kāyena kammaṁ sasakkaṁ na karaṇīyaṁ.
Này Rāhula, khi Ông muốn làm một thân nghiệp gì, hãy phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: "Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ". … Một thân nghiệp như vậy, này Rāhula, Ông nhất định chớ có làm.
When you want to act with the body, you should check on that same deed: 'Does this act with the body that I want to do lead to hurting myself, hurting others, or hurting both? Is it unskillful, with suffering as its outcome and result?' … To the best of your ability, Rāhula, you should not do such a deed.
MN 61.11
evarūpaṁ te, rāhula, kāyakammaṁ satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu desetabbaṁ, vivaritabbaṁ, uttānīkātabbaṁ; desetvā vivaritvā uttānīkatvā āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjitabbaṁ. … teneva tvaṁ, rāhula, pītipāmojjena vihareyyāsi ahorattānusikkhī kusalesu dhammesu.
Một thân nghiệp như vậy, này Rāhula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Ðạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai. … Do vậy, này Rāhula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.
Then, Rāhula, you should confess, reveal, and clarify such a deed to the Teacher or a sensible spiritual companion. And having revealed it you should restrain yourself in future. … Then, Rāhula, you should live in rapture and joy because of this, training day and night in skillful qualities.
MN 61.17
evarūpaṁ pana te, rāhula, manokammaṁ aṭṭīyitabbaṁ harāyitabbaṁ jigucchitabbaṁ; aṭṭīyitvā harāyitvā jigucchitvā āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjitabbaṁ.
Một ý nghiệp như vậy, này Rāhula, Ông cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai.
Then, Rāhula, you should be horrified, repelled, and disgusted by that deed. And being repelled, you should restrain yourself in future.
MN 61.18
Tasmātiha, rāhula, 'paccavekkhitvā paccavekkhitvā kāyakammaṁ parisodhessāmi, paccavekkhitvā paccavekkhitvā vacīkammaṁ parisodhessāmi, paccavekkhitvā paccavekkhitvā manokammaṁ parisodhessāmī'ti—evañhi te, rāhula, sikkhitabban"ti. Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā rāhulo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Do vậy, này Rāhula: "Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp". Như vậy, này Rāhula, Ông cần phải tu học.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn giảng.
So Rāhula, you should train yourself like this: 'I will purify my physical, verbal, and mental actions after repeatedly checking.' That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Rāhula approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
AmbalaṭṭhikāRừng Āmala (rừng xoài nhỏ) — nơi Tôn giả Rāhula đang trúHT. Thích Minh Châu dịch tên kinh là "Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Āmala".
RāhulaLa-hầu-la, con trai của Đức Phật, lúc này đã là tỳ-kheo (āyasmā: Tôn giả)
sampajānamusāvādaBiết mà nói láo — nói dối một cách cố ý, có ý thứcTrọng tâm của nửa đầu bài kinh.
lajjāTàm quý; sự hổ thẹn. "natthi … lajjā" = không có tàm quý
sāmaññaSa-môn hạnh — phẩm chất, tư cách của người xuất gia
paccavekkhaṇa / paccavekkhitabbaPhản tỉnh, soi xét lại; điều cần phải phản tỉnhChính là nghĩa của cái gương (ādāsa) trong ví dụ.
ādāsaCái gương — dùng để soi lại (paccavekkhaṇattho)
kāyakamma / vacīkamma / manokammaThân nghiệp / khẩu nghiệp / ý nghiệp
attabyābādha / parabyābādha / ubhayabyābādhaTự hại / hại người / hại cả hai
kusala / akusalaThiện / bất thiện
dukkhudraya, dukkhavipākaĐưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ
sukhudraya, sukhavipākaĐưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc
desetabba, vivaritabba, uttānīkātabbaCần phải thưa lên, tỏ lộ, trình bày (sám hối trước bậc Đạo sư hay vị đồng Phạm hạnh có trí)
saṁvara (āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjitabba)Phòng hộ; cần phải phòng hộ trong tương lai
aṭṭīyitabba, harāyitabba, jigucchitabbaCần phải lo âu, tàm quý, nhàm chán — cách xử lý ý nghiệp bất thiện đã làm
pītipāmojjaNiềm hoan hỷ (hỷ và duyệt)
ahorattānusikkhī kusalesu dhammesuTu học ngày đêm trong các thiện pháp
rañño nāgoCon voi của vua (voi chiến); soṇḍā = cái vòiVí dụ ở đoạn 7.
parisodhetiTịnh hóa (thân, khẩu, ý nghiệp)

Bốn động tác, bốn mức hư hoại. Chút nước còn lại → đổ đi → lật úp chậu → chậu trống không. Mỗi lần Ngài đều kết: Sa-môn hạnh của người biết mà nói láo, không có tàm quý, cũng như vậy. Không phải bốn cách nói cùng một ý — đó là bốn giai đoạn: từ còn chút ít, tới mất sạch, tới lật ngược, tới rỗng không.

Chữ then chốt là sampajāna — “biết mà”. Kinh không nói mọi lời sai đều là nói dối. Nó nói biết rõ mà vẫn nói. Và kèm chữ lajjākhông có tàm quý, tức không thấy hổ thẹn. Hai chữ ấy mới là chỗ nặng.

Con voi chiến giữ cái vòi. Voi ra trận dùng chân, dùng ngà, dùng thân — người nài biết nó chưa quăng bỏ mạng sống. Nhưng khi nó dùng luôn cả vòi thì người nài biết nó đã quăng bỏ mạng sống, và không có việc gì mà nó không làm. Cái vòi là giới hạn cuối cùng. Với người tu, giới hạn ấy là không nói dối.

Câu học tập nổi tiếng nhất bài kinh. “Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi.” Chữ “dầu nói để mà chơi”hassāpi — mới là chỗ khó. Nói dối để hại người thì ai cũng biết là sai. Nói dối cho vui mới là chỗ người ta cho phép mình.

Phần sau: cái gương. Gương để làm gì? — để soi lại. Cũng vậy, soi lại nhiều lần rồi mới làm. Và soi ba lần cho mỗi việc: trước khi làm, đang khi làm, sau khi làm, với cùng một câu hỏi: việc này có đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai không?

Chỗ khác nhau giữa ba nghiệp — đừng bỏ qua. Thân và khẩu nghiệp đã lỡ làm thì thưa lên, tỏ lộ trước bậc có trí. Nhưng ý nghiệp thì không — kinh dạy lo âu, tàm quý, nhàm chán rồi phòng hộ. Ý nghĩ xấu không phải đem đi kể với người khác; nó được xử lý bên trong.

  • “Nói dối nhỏ thì không sao.” Câu học tập ghi rõ: dầu nói để mà chơi. Chính chỗ “nhỏ” mới là chỗ kinh nhắm tới.
  • “Ý nghĩ xấu cũng phải đi sám hối.” Kinh phân biệt: thân và khẩu thì tỏ lộ; ý thì tự xử lý bằng tàm quý và phòng hộ.
  • “Soi lại là sau khi làm.” Kinh dạy soi ba lần — và lần quan trọng nhất là trước khi làm.
  • “Bài này chỉ dành cho người xuất gia.” Phép soi ba lần áp dụng cho bất cứ việc gì của bất cứ ai.
  • Ngành Oanh. Làm y như Đức Phật đã làm. Mang một chậu nước, chừa chút nước, hỏi các em có thấy không. Đổ đi. Lật úp. Rồi mới nói. Bài kinh này vốn đã được soạn cho một đứa trẻ.
  • Ngành Thiếu. Câu “dầu nói để mà chơi”. Hỏi: nói dối cho vui có phải nói dối không? Đây là câu các em sẽ tranh luận.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Phép soi ba lần, áp dụng vào việc soạn bài và điều hành đoàn. Và chỗ khác nhau giữa tỏ lộtự xử lý.
  • Vì sao Đức Phật dùng chậu nước thay vì giảng thẳng?
  • Dầu nói để mà chơi — vì sao chỗ nhỏ ấy lại quan trọng?
  • Con voi giữ cái vòi tới cùng. Giới hạn cuối của em là gì?
  • Vì sao ý nghiệp thì không đem tỏ lộ với người khác?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập — người soi tự tra lại nguồn gốc, không tin dữ liệu được đưa. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.