G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.176
Tăng Chi Bộ · Rửa Tay Có Sạch Tội Không

Kinh Thợ Rèn Cunda

Cunda Sutta — AN 10.176 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộKinh Thợ Rèn Cunda

Người thợ rèn Cunda kể về các Bà-la-môn phương Tây mang bình nước, đeo vòng hoa rong nước, thờ lửa, xuống nước tắm để làm cho thanh tịnh. Đức Phật hỏi lại: thanh tịnh trong Luật của bậc Thánh thì khác — và Ngài nói khác thế nào.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, Phẩm Jāṇussoṇi
  • Người hỏiCunda, người thợ rèn
  • Cấu trúcba nghiệp: thân, khẩu, ý, mỗi nghiệp chia bất tịnh và thanh tịnh
  • Đếmba việc thân, bốn việc khẩu, ba việc ý = mười

Kinh này bắt đầu bằng một cuộc gặp rất đời thường: Thế Tôn ở trong vườn xoài của người thợ rèn tên Cunda tại Pāvā, và Ngài hỏi ông thích cách thanh tịnh (soceyya) của ai. Cunda thật thà thưa rằng ông thích lối tẩy tịnh của các Bà-la-môn phương Tây: mỗi sáng thức dậy phải sờ đất; nếu không sờ đất thì sờ phân bò tươi; nếu không thì sờ cỏ xanh; nếu không thì thờ lửa; nếu không thì chắp tay lễ bái mặt trời; nếu không thì mỗi ngày ba lần lội xuống nước tắm, kể cả buổi chiều. Đó là "lễ tay tịnh", tức tin rằng sạch dơ nằm ở nghi thức bên ngoài. Thế Tôn không chê bai gay gắt, chỉ nói một câu rất gọn: khác thay sự thanh tịnh của các Bà-la-môn phương Tây, khác thay sự thanh tịnh trong Luật của bậc Thánh. Rồi Ngài giảng: bất tịnh về thân có ba (sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục), bất tịnh về lời có bốn (nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm), bất tịnh về ý có ba (tham lam, sân hận với ác ý, tà kiến) — cộng lại là mười bất thiện nghiệp đạo (dasa akusalakammapathā). Ai đã có mười điều ấy thì dù có sờ đất hay không sờ đất, dù có thờ lửa hay không thờ lửa, dù có tắm ba lần một ngày hay không, vẫn cứ bất tịnh; vì chính mười nghiệp đạo ấy là bất tịnh và làm cho bất tịnh, và do chúng mà địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, các ác thú được trình bày. Phần sau đối xứng hoàn toàn: từ bỏ mười điều ấy là mười thiện nghiệp đạo (dasa kusalakammapathā) — ba thân, bốn khẩu, ba ý thanh tịnh. Ai thành tựu mười điều ấy thì dù có làm hay không làm các nghi thức kia, vẫn thanh tịnh; do đó mà chư Thiên, loài Người, các thiện thú được trình bày. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, bài kinh dạy một điều rất thiết thực: nước rửa được tay, không rửa được nghiệp. Lễ nghi, chuông mõ, hình thức đều có giá trị nâng đỡ tâm, nhưng thanh tịnh thật sự nằm ở ba nghiệp thân - khẩu - ý trong đời sống mỗi ngày.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại Pāvā — Thế Tôn trú trong vườn xoài của Cunda con người thợ rèn. Cunda đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên; Thế Tôn hỏi: Ông thích những tịnh hạnh của ai? (an10.176:1.1-1.5)
  • 2. Cunda trình bày lối tẩy tịnh của Bà-la-môn phương Tây — Sáu việc theo thứ tự thay thế nhau: sáng dậy sờ đất; không thì sờ phân bò tươi; không thì sờ cỏ xanh; không thì thờ lửa; không thì chắp tay lễ mặt trời; không thì lội nước ba lần kể cả buổi chiều. (an10.176:2.1-2.9)
  • 3. Thế Tôn phân biệt hai loại thanh tịnh — Khác thay sự thanh tịnh của các Bà-la-môn phương Tây, khác thay sự thanh tịnh trong Luật của bậc Thánh. Cunda thỉnh Phật thuyết giảng; Phật dạy lắng nghe khéo tác ý. (an10.176:3.1-4.3)
  • 4. Bất tịnh: ba thân, bốn khẩu, ba ý — Thân: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục. Khẩu: nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm. Ý: tham lam, sân hận với ác ý, tà kiến. (an10.176:5.1-16.3)
  • 5. Mười bất thiện nghiệp đạo và điệp khúc phủ định nghi lễ — Ai thành tựu mười bất thiện nghiệp đạo, dù sờ đất hay không, sờ phân bò hay không, sờ cỏ hay không, thờ lửa hay không, lễ mặt trời hay không, tắm ba lần hay không — vẫn bất tịnh; vì mười nghiệp đạo ấy là bất tịnh và tác thành bất tịnh. (an10.176:17.1-22.3)
  • 6. Quả báo ác thú — Do nhân thành tựu mười bất thiện nghiệp đạo, địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, hay các ác thú khác được trình bày. (an10.176:23.1)
  • 7. Thanh tịnh: ba thân, bốn khẩu, ba ý — Từ bỏ sát sanh, bỏ trượng bỏ kiếm, có tàm quý, có lòng từ; từ bỏ lấy của không cho; từ bỏ tà hạnh; từ bỏ nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm; không tham lam, tâm không sân hận (mong chúng sanh không thù hận, không não hại, sống an lạc), có chánh kiến. (an10.176:24.1-37.1)
  • 8. Mười thiện nghiệp đạo và điệp khúc khẳng định — Ai thành tựu mười thiện nghiệp đạo, dù có làm hay không làm sáu nghi thức kia, vẫn thanh tịnh; vì mười nghiệp đạo ấy là thanh tịnh và tác thành thanh tịnh. (an10.176:38.1-43.3)
  • 9. Quả báo thiện thú — Do nhân thành tựu mười thiện nghiệp đạo, chư Thiên, loài Người, hay các thiện thú khác được trình bày. (an10.176:44.1)
  • 10. Cunda quy y — Cunda người thợ rèn tán thán 'Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn...' và xin Thế Tôn nhận làm cư sĩ, trọn đời quy ngưỡng. (an10.176:45.1-45.3)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: phần này có 4 đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Phần Pāli và tiếng Anh thì đối chiếu được.
AN 10.176:1.2
ekaṁ samayaṁ bhagavā pāvāyaṁ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane.
Một thời, Thế Tôn trú ở Pàvà, trong vườn xoài của Cunda, con người thợ rèn.
At one time the Buddha was staying near Pāvā in Cunda the smith's mango grove.
AN 10.176:1.4-1.5
"kassa no tvaṁ, cunda, soceyyāni rocesī"ti? "Brāhmaṇā, bhante, pacchābhūmakā kamaṇḍalukā sevālamālikā aggiparicārikā udakorohakā soceyyāni paññapenti; tesāhaṁ soceyyāni rocemī"ti.
— Này Cunda, trong những tịnh hạnh của ai, Ông cảm thấy thích thú? — Bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn ở phương Tây, những người có mang theo bình nước, những người có đeo vòng hoa rong nước, những người thờ lửa, những người đi xuống nước tắm, những vị này có tổ chức những lễ tịnh hạnh.
"Cunda, whose purity do you believe in?" "Sir, I believe in the purity advocated by the western brahmins garlanded with aquatic flowers who carry pitchers, serve the sacred flame, and immerse themselves in water."
AN 10.176:2.3-2.8
'ehi tvaṁ, ambho purisa, kālasseva uṭṭhahantova sayanamhā pathaviṁ āmaseyyāsi; no ce pathaviṁ āmaseyyāsi, allāni gomayāni āmaseyyāsi; no ce allāni gomayāni āmaseyyāsi, haritāni tiṇāni āmaseyyāsi; no ce haritāni tiṇāni āmaseyyāsi, aggiṁ paricareyyāsi; no ce aggiṁ paricareyyāsi, pañjaliko ādiccaṁ namasseyyāsi; no ce pañjaliko ādiccaṁ namasseyyāsi, sāyatatiyakaṁ udakaṁ oroheyyāsī'ti.
[Chưa xác minh được nguyên văn bản dịch HT. Thích Minh Châu cho đoạn này — xem phần Pali và Anh ngữ. Nội dung: hãy dậy sớm, từ giường sờ đất; nếu không sờ đất thì sờ phân bò tươi; nếu không thì sờ cỏ xanh; nếu không thì thờ lửa; nếu không thì chắp tay đảnh lễ mặt trời; nếu không thì lội xuống nước ba lần, kể cả buổi chiều.]
'Please, my man, rising early you should stroke the earth from your bed. If you don't stroke the earth, stroke fresh cow dung. If you don't stroke fresh cow dung, stroke green grass. If you don't stroke green grass, serve the sacred flame. If you don't serve the sacred flame, revere the sun with cupped palms. If you don't revere the sun with cupped palms, immerse yourself in water three times, including at dusk.'
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
AN 10.176:3.1
"Aññathā kho, cunda, brāhmaṇā pacchābhūmakā kamaṇḍalukā sevālamālikā aggiparicārikā udakorohakā soceyyāni paññapenti, aññathā ca pana ariyassa vinaye soceyyaṁ hotī"ti.
— Sai khác này Cunda, là những lễ tịnh hạnh do những Bà-la-môn trú ở phương Tây... Sai khác là lễ tịnh hạnh trong Luật của bậc Thánh.
"The purity advocated by the western brahmins is quite different from that in the training of the Noble One."
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
AN 10.176:5.1-5.3
"Tividhaṁ kho, cunda, kāyena asoceyyaṁ hoti; catubbidhaṁ vācāya asoceyyaṁ hoti; tividhaṁ manasā asoceyyaṁ hoti.
Này Cunda, thân không tịnh hạnh có ba, lời không tịnh hạnh có bốn, ý không tịnh hạnh có ba.
"Cunda, impurity is threefold by way of body, fourfold by way of speech, and threefold by way of mind."
AN 10.176:17.1-17.2
Ime kho, cunda, dasa akusalakammapathā. Imehi kho, cunda, dasahi akusalehi kammapathehi samannāgato kālasseva uṭṭhahantova sayanamhā pathaviñcepi āmasati, asuciyeva hoti; no cepi pathaviṁ āmasati, asuciyeva hoti.
Này Cunda, có mười bất thiện nghiệp đạo này. Này Cunda, với ai thành tựu mười bất thiện nghiệp đạo này, [dầu] có dậy sớm và từ giường có xúc chạm đất, vị ấy vẫn bất tịnh; dầu không xúc chạm đất, vị ấy vẫn bất tịnh.
These are the ten ways of doing unskillful deeds. When you have these ten ways of doing unskillful deeds, then if you rise early, whether or not you stroke the earth from your bed, you're still impure.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
AN 10.176:22.2-22.3
Taṁ kissa hetu? Ime, cunda, dasa akusalakammapathā asucīyeva honti asucikaraṇā ca.
Vì sao? Này Cunda, mười bất thiện nghiệp đạo này là bất tịnh và tác thành bất tịnh.
Why is that? These ten ways of doing unskillful deeds are impure and make things impure.
AN 10.176:23.1
Imesaṁ pana, cunda, dasannaṁ akusalānaṁ kammapathānaṁ samannāgamanahetu nirayo paññāyati, tiracchānayoni paññāyati, pettivisayo paññāyati, yā vā panaññāpi kāci duggatiyo.
Này Cunda, do nhân thành tựu mười bất thiện nghiệp đạo này, địa ngục được trình bày, bàng sanh được trình bày, ngạ quỷ được trình bày, hay là ác thú khác được trình bày.
It's because of those who do these ten kinds of unskillful deeds that hell, the animal realm, the ghost realm, or any other bad places are found.
AN 10.176:44.1
Imesaṁ pana, cunda, dasannaṁ kusalānaṁ kammapathānaṁ samannāgamanahetu devā paññāyanti, manussā paññāyanti, yā vā panaññāpi kāci sugatiyo"ti.
Do nhân thành tựu mười thiện nghiệp đạo này, chư Thiên được trình bày, loài Người được trình bày, hay là thiện thú khác được trình bày.
It's because of those who do these ten kinds of skillful deeds that gods, humans, or any other good places are found.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
AN 10.176:45.3
upāsakaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan"ti.
Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
soceyyasự thanh tịnh, tịnh hạnh (cách làm cho trong sạch)asoceyya = bất tịnh. Toàn bài kinh xoay quanh cặp từ này.
kammāraputtacon người thợ rènCunda kammāraputta — cũng là vị cúng dường bữa ăn cuối cùng cho Đức Phật trong Kinh Đại Bát Niết Bàn.
pacchābhūmaka brāhmaṇācác Bà-la-môn trú ở phương TâyĐược mô tả: kamaṇḍaluka (mang bình nước), sevālamālika (đeo vòng hoa rong nước), aggiparicārika (thờ lửa), udakorohaka (lội xuống nước tắm).
dasa akusalakammapathāmười bất thiện nghiệp đạo3 thân + 4 khẩu + 3 ý.
dasa kusalakammapathāmười thiện nghiệp đạo
pāṇātipātasát sanh
adinnādānalấy của không cho
kāmesumicchācāratà hạnh trong các dục
musāvādanói dối
pisuṇavācānói hai lưỡi, lời chia rẽ
pharusavācānói lời thô ác
samphappalāpanói lời phù phiếm, tạp thoại
abhijjhātham lam, tham muốn tài vật của người khácanabhijjhālu = không tham lam.
byāpāda / byāpannacittasân hận, tâm có ác ýabyāpannacitta = tâm không sân hận.
micchādiṭṭhità kiếnviparītadassana: thấy điên đảo. Ngược lại là sammādiṭṭhi (chánh kiến), aviparītadassana.
ariyassa vinayetrong Luật của bậc ThánhCụm từ chỉ nếp sống, giới luật do Đức Phật chế định, đối lập với tập tục Bà-la-môn.
opapātikaloài hóa sanhXuất hiện trong công thức chánh kiến/tà kiến.

Đức Phật không chê nghi lễ ấy trước. Ngài hỏi lại cho rõ đã: các Bà-la-môn ấy chủ trương thanh tịnh thế nào? Nghe xong Ngài mới nói: thanh tịnh trong Luật của bậc Thánh kháckhông nói sai, nói khác.

Rồi Ngài đổi hẳn chỗ đặt vấn đề. Nghi lễ hỏi làm gì cho sạch. Kinh hỏi cái gì đang làm bẩn. Ba cửa: thân, khẩu, ý. Và Ngài kể đủ mười việc, không nói chung chung.

Ba việc của thânsát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong dục. Kinh tả rất cụ thể: người sát sanh thì tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, không từ bi với chúng sanh.

Bốn việc của khẩu — nhiều nhất, và đáng để ý. Nói dối, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm. Cửa miệng có nhiều cách làm bẩn hơn cả thân và ý. Đọc kèm MN 58 về khi nào nên nói.

Ba việc của ýtham lam, sân hận, tà kiến. Kinh tả tham lam là “tài vật người khác, mong rằng tài vật ấy thuộc về ta”một ý nghĩ thầm, chưa làm gì. Kinh vẫn tính là bất tịnh.

Và câu chốt rất mạnh. Người làm mười việc bất tịnh ấy thì dù sáng dậy sờ đất, không sờ đất, tắm hay không tắm, thờ lửa hay không thờ lửa — vẫn bất tịnh. Nghi lễ không đụng tới chỗ đang bẩn.

Nối thẳng với một bài đã có trên trang. MN 7 kết bằng đúng ý này: “Chỉ nên tắm ở đây.” Hai bài, hai bộ khác nhau, cùng một câu trả lời cho cùng một câu hỏi.

Chỗ chúng tôi phải sửa. Bản tra cứu ghi các Bà-la-môn “đeo vòng hoa huệ”. Chữ Pāli là sevalamālikasevalarong, tảo nước, không phải hoa huệ. Đã đổi thành “vòng hoa rong nước” cho khớp nguyên văn.

  • “Đức Phật cấm nghi lễ.” Ngài nói thanh tịnh trong Luật của bậc Thánh khác, rồi chỉ ra khác chỗ nào.
  • “Nghĩ thôi thì chưa sao.” Kinh xếp tham lam, sân hận, tà kiến vào bất tịnh, dù chưa làm gì.
  • “Giữ thân là đủ.” Khẩu có tới bốn việc — nhiều hơn thân.
  • Ngành Oanh. Rửa tay thật sạch rồi hỏi: rửa tay có làm hết một lời nói dối không?
  • Ngành Thiếu. Đếm: thân 3, khẩu 4, ý 3. Hỏi: vì sao khẩu nhiều nhất?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Rất hợp trước mùa lễ, khi việc cúng bái dễ lấn phần tu sửa. Đọc kèm MN 7.
  • Nghi lễ hỏi gì, còn kinh hỏi gì?
  • Vì sao khẩu có tới bốn việc?
  • Vì sao một ý nghĩ thầm cũng tính là bất tịnh?
  • Bài này và “chỉ nên tắm ở đây” giống nhau chỗ nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.