G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 7
Trung Bộ · Vải Dơ Không Ăn Màu

Kinh Ví Dụ Tấm Vải

Vatthūpama Sutta — MN 7 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ví Dụ Tấm Vải

Một tấm vải dơ bẩn, nhiễm bụi — thợ nhuộm nhúng vào màu nào, màu ấy cũng lên xấu. Không phải lỗi thuốc nhuộm. Lỗi ở tấm vải. Và cuối bài, một vị Bà-la-môn hỏi Đức Phật có đi tắm sông rửa tội không.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 7
  • Nơi chốn — Sāvatthi, Jetavana, vườn ông Cấp Cô Độc
  • Phần chínhmười sáu cấu uế của tâm (upakkilesa)
  • Người hỏi cuối bài — Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja, về sau chứng A-La-Hán

Kinh Ví Dụ Tấm Vải là bài kinh thứ 7 trong Trung Bộ, Đức Phật dạy tại Kỳ-đà Lâm, vườn ông Cấp Cô Độc, thành Xá-vệ. Mở đầu, Đức Phật đưa ra một hình ảnh rất dễ hiểu: một tấm vải dơ bẩn, nhiễm bụi, dù người thợ nhuộm nhúng vào màu xanh, vàng, đỏ hay tía, thì màu nhuộm vẫn xấu và không sạch — vì tấm vải không trong sạch. Ngược lại, tấm vải thanh tịnh thì nhuộm màu nào cũng đẹp và sạch. Cũng vậy, "cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế", còn "cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế". Tấm vải chính là tâm mình; màu nhuộm là mọi việc tu học, lễ lạy, tụng kinh, làm phước. Tâm dơ thì việc tốt bên ngoài cũng không lên màu. Tiếp đó Đức Phật kể ra mười sáu cấu uế của tâm (upakkilesa): tham dục và tà tham, sân, phẫn, hận, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, mạn, quá mạn, kiêu, phóng dật. Cách tu là: biết rõ đó là cấu uế của tâm, rồi đoạn trừ từng thứ một. Khi đã đoạn trừ, vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối (aveccappasāda) đối với Phật, Pháp, Tăng — tức là ba câu quy y quen thuộc trong khóa lễ của Gia Đình Phật Tử. Từ lòng tin đó sanh ra một chuỗi tâm rất đẹp: hiểu nghĩa, thấu pháp, hân hoan — hỷ — thân khinh an — lạc thọ — tâm được Thiền định. Vị ấy rải tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả cùng khắp bốn phương, "quảng đại, vô biên, không hận, không sân"; rồi giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Người như vậy được gọi là "Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm". Phần cuối, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja hỏi Phật có đi tắm sông Bāhukā để rửa tội không. Đức Phật đáp bằng bài kệ nổi tiếng: kẻ ngu dù thường tắm ở các sông thiêng, ác nghiệp vẫn không rửa sạch; người sống thanh tịnh thì "ngày nào cũng ngày tốt". Ngài dạy: "Chỉ nên tắm ở đây" — nghĩa là tắm trong chính tâm mình, không nói dối, không hại chúng sanh, không lấy của không cho, có lòng tín, không tham. Bà-la-môn xin quy y, xuất gia, và về sau chứng quả A-la-hán.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, vườn ông Cấp Cô Độc; gọi các Tỷ-kheo (đoạn 1).
  • 2. Ví dụ tấm vải dơ và tấm vải sạch — Vải cấu uế nhuộm màu nào cũng xấu; vải thanh tịnh nhuộm màu nào cũng đẹp. Cõi ác chờ đợi tâm cấu uế; cõi thiện chờ đợi tâm không cấu uế (đoạn 2).
  • 3. Liệt kê mười sáu cấu uế của tâm — Tham dục và tà tham, sân, phẫn, hận, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, mạn, quá mạn, kiêu, phóng dật (đoạn 3).
  • 4. Biết rõ và đoạn trừ từng cấu uế — Tỷ-kheo biết rõ 'đây là cấu uế của tâm' rồi đoạn trừ, lần lượt từng thứ (đoạn 4–5).
  • 5. Thành tựu lòng tin tuyệt đối nơi Phật, Pháp, Tăng — Ba đoạn tán thán Phật, Pháp, Tăng (đoạn 5.32–7.2).
  • 6. Chuỗi tâm: hân hoan – hỷ – khinh an – lạc – định — Từ sự từ bỏ và lòng tin, vị ấy hiểu rõ ý nghĩa, thấu rõ pháp, hân hoan, hỷ sanh, thân khinh an, cảm lạc thọ, tâm được Thiền định (đoạn 8–11).
  • 7. Vải dơ được nước sạch, vàng vào lò lửa — ăn đồ khất thực ngon không thành chướng ngại — Vị Tỷ-kheo giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, dù ăn cơm gạo thơm với nhiều món canh cũng không thành chướng ngại (đoạn 12).
  • 8. Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả — Biến mãn khắp bốn phương, trên dưới bề ngang, quảng đại, vô biên, không hận, không sân (đoạn 13–16).
  • 9. Tri kiến giải thoát — 'tắm rửa nội tâm' — Biết 'có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng'; tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu; 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành...'; được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm (đoạn 17–18).
  • 10. Đối thoại với Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja về sông Bāhukā — Bà-la-môn hỏi việc tắm sông rửa tội (đoạn 19).
  • 11. Bài kệ: nước sông không rửa được ác nghiệp — Kẻ ngu dầu thường tắm, ác nghiệp không rửa sạch; 'Chỉ nên tắm ở đây'; giữ năm điều thiện thì 'Giếng nhà là Gayā' (đoạn 20).
  • 12. Bà-la-môn quy y, xuất gia và chứng A-la-hán — Bà-la-môn tán thán, quy y Phật–Pháp–Tăng, thọ đại giới, không bao lâu chứng quả A-la-hán (đoạn 21–22).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 7.2
Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ saṅkiliṭṭhaṁ malaggahitaṁ; tamenaṁ rajako yasmiṁ yasmiṁ raṅgajāte upasaṁhareyya—yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya durattavaṇṇamevassa aparisuddhavaṇṇamevassa. Taṁ kissa hetu? Aparisuddhattā, bhikkhave, vatthassa. Evameva kho, bhikkhave, citte saṅkiliṭṭhe, duggati pāṭikaṅkhā.
Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.
Suppose, mendicants, there was a cloth that was dirty and soiled. No matter what dye the dyer applied—whether blue or yellow or red or magenta—it would look poorly dyed and impure in color. Why is that? Because of the impurity of the cloth. In the same way, when the mind is corrupt, a bad destiny is to be expected.
MN 7.2
Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ parisuddhaṁ pariyodātaṁ; tamenaṁ rajako yasmiṁ yasmiṁ raṅgajāte upasaṁhareyya—yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya—surattavaṇṇamevassa parisuddhavaṇṇamevassa. Taṁ kissa hetu? Parisuddhattā, bhikkhave, vatthassa. Evameva kho, bhikkhave, citte asaṅkiliṭṭhe, sugati pāṭikaṅkhā.
Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.
Suppose there was a cloth that was pure and clean. No matter what dye the dyer applied—whether blue or yellow or red or magenta—it would look well dyed and pure in color. Why is that? Because of the purity of the cloth. In the same way, when the mind isn't corrupt, a good destiny is to be expected.
MN 7.3
Katame ca, bhikkhave, cittassa upakkilesā? Abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso, byāpādo cittassa upakkileso, kodho cittassa upakkileso, upanāho cittassa upakkileso, makkho cittassa upakkileso, paḷāso cittassa upakkileso, issā cittassa upakkileso, macchariyaṁ cittassa upakkileso, māyā cittassa upakkileso, sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso, thambho cittassa upakkileso, sārambho cittassa upakkileso, māno cittassa upakkileso, atimāno cittassa upakkileso, mado cittassa upakkileso, pamādo cittassa upakkileso.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, mạn, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.
And what are the corruptions of the mind? Covetousness and immoral greed, ill will, anger, acrimony, disdain, contempt, jealousy, stinginess, deceit, deviousness, obstinacy, aggression, conceit, arrogance, vanity, and negligence are corruptions of the mind.
MN 7.8
Yathodhi kho panassa cattaṁ hoti vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhaṁ, so 'buddhe aveccappasādena samannāgatomhī'ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ. Pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly. Vị ấy tự nghĩ: "Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn", và hiểu rõ ý nghĩa, thấu rõ pháp, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
When a mendicant has discarded, eliminated, released, given up, and relinquished to this extent, thinking, 'I have experiential confidence in the Buddha …' they find inspiration in the meaning and the teaching, and find joy connected with the teaching. When they're joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when they're blissful, the mind becomes immersed in samādhi.
MN 7.12
Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ saṅkiliṭṭhaṁ malaggahitaṁ acchodakaṁ āgamma parisuddhaṁ hoti pariyodātaṁ, ukkāmukhaṁ vā panāgamma jātarūpaṁ parisuddhaṁ hoti pariyodātaṁ.
Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như vàng bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ.
Compare with cloth that is dirty and soiled; it can be made pure and clean by pure water. Or native gold, which can be made pure and bright by a forge.
MN 7.13
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
They meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
MN 7.18
Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. 'Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā'ti pajānāti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave: 'bhikkhu sināto antarena sinānenā'ti.
Ðối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm.
When they're freed, they know they're freed. They understand: 'Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.' This is called a mendicant who is bathed with the inner bathing.
MN 7.20
Bāhukaṁ adhikakkañca, gayaṁ sundarikaṁ mapi; Sarassatiṁ payāgañca, atho bāhumatiṁ nadiṁ; Niccampi bālo pakkhando, kaṇhakammo na sujjhati. … Idheva sināhi brāhmaṇa, Sabbabhūtesu karohi khemataṁ. Sace musā na bhaṇasi, sace pāṇaṁ na hiṁsasi; Sace adinnaṁ nādiyasi, saddahāno amaccharī; Kiṁ kāhasi gayaṁ gantvā, udapānopi te gayā'ti.
Trong sông Bàhukà / Tại Adhikakkà, / Tại cả sông Gayà / Và Sundarikà, / Tại Sarassatì / Và tại Payàna, / Tại Bàhumatì, / Kẻ ngu dầu thường tắm, / Ác nghiệp không rửa sạch. ... Này vị Bà-la-môn, / Chỉ nên tắm ở đây, / Khiến mọi loài chúng sanh, / Ðược sống trong an ổn. / Nếu không nói dối trá, / Nếu không hại chúng sanh, / Không lấy của không cho, / Có lòng tín, không tham, / Ði Gayà làm gì, / Gayà một giếng nước?
The Bāhukā and the Adhikakkā, at Gayā and the Sundarikā too, Sarasvatī and Payāga, and the Bāhumatī River: a fool can constantly plunge into them but it won't purify their dark deeds. … It's here alone that you should bathe, brahmin, making yourself a sanctuary for all creatures. And if you speak no lies, nor harm any living creature, nor steal anything not given, and you're faithful and not stingy: what's the point of going to Gayā? For any well may be your Gayā!
Chữ PāliNghĩaGhi chú
vatthatấm vảiTên kinh Vatthūpama = ví dụ (upama) tấm vải (vattha).
upakkilesacấu uế, ô nhiễm của tâmHT. Thích Minh Châu dịch là 'cấu uế của tâm'.
cittatâm
saṅkiliṭṭhabị nhiễm ô, cấu uế
parisuddha / pariyodātathanh tịnh / trong sạch, sáng sạch
duggati / sugaticõi ác / cõi thiện (ác thú / thiện thú)
abhijjhāvisamalobhatham dục và tà tham
byāpādasân
kodha / upanāhaphẫn / hận
makkha / paḷāsahư ngụy (che giấu công người) / não hại (tranh đua lấn lướt)
issā / macchariyatật đố (ganh tỵ) / xan tham (bỏn sẻn)
māyā / sāṭheyyaman trá / khi cuống (gian dối)
thambha / sārambhangoan cố / cấp tháo (hiếu thắng, nóng nảy)
māna / atimānamạn / quá mạn
mada / pamādakiêu (say đắm) / phóng dật (buông lung)
aveccappasādalòng tin tuyệt đối (bất động) nơi Phật, Pháp, Tăng
pāmojja – pīti – passaddhi – sukha – samādhihân hoan – hỷ – khinh an – lạc – địnhChuỗi tâm dẫn đến Thiền định trong đoạn MN 7.8.
mettā, karuṇā, muditā, upekkhātừ, bi, hỷ, xả (Tứ Vô Lượng Tâm)
āsava (kāmāsava, bhavāsava, avijjāsava)lậu hoặc: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu
sināto antarena sinānenađã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâmCâu chốt của bài kinh.
brāhmaṇaBà-la-môn

Ví dụ đặt đúng chỗ. Tấm vải là tâm mình; màu nhuộm là mọi việc tu học — lễ lạy, tụng kinh, làm phước, đi chùa. Kinh nói: tâm dơ thì việc tốt bên ngoài cũng không lên màu. Cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.

Mười sáu cấu uế — đọc kỹ thì thấy phần lớn là chuyện thường ngày. Không phải tội lớn: phẫn, hận, tật đố, xan tham, ngoan cố, cấp tháo, mạn, quá mạn, kiêu, phóng dật. Đây là những thứ ai trong đoàn cũng gặp mỗi tuần.

Cách tu rất gọn. Biết rõ “đây là cấu uế của tâm” — rồi đoạn trừ. Hai bước. Bước thứ nhất khó hơn bước thứ hai: phần lớn người ta không thấy cái đang chi phối mình là cấu uế, mà tưởng là lẽ phải.

Rồi tới một chuỗi tâm rất đẹp. Từ lòng tin sanh ra: hiểu nghĩa → thấu pháp → hân hoan → hỷ → thân khinh an → lạc → tâm định. Đây không phải bảy việc phải làm, mà là bảy trạng thái nối nhau tự sanh.

Một câu dễ bỏ sót nhưng rất thoáng. Vị Tỳ-kheo tu như vậy thì dù ăn cơm gạo thơm với nhiều món canh cũng không thành chướng ngại. Kinh không cực đoan về ăn uống — chỗ quyết định là giới, pháp và tuệ, không phải mâm cơm.

Đoạn kết mới là chỗ sắc nhất. Bà-la-môn hỏi có đi tắm sông Bāhukā rửa tội không. Đức Phật đáp bằng kệ: kẻ ngu dầu thường tắm ở các sông thiêng, ác nghiệp vẫn không rửa sạch. Rồi Ngài nói ba chữ: “Chỉ nên tắm ở đây.”tắm trong chính tâm mình.

Và “tắm” nghĩa là gì thì kinh nói rõ. Không nói dối, không hại chúng sanh, không lấy của không cho, có lòng tín, không tham. Năm việc rất cụ thể — không phải một trạng thái mơ hồ. Với người làm được năm việc ấy, ngày nào cũng là ngày tốt, và giếng nhà cũng là sông Gayā.

Vì sao bài này hợp với Gia Đình Phật Tử. Ba câu quy y Phật, Pháp, Tăng mà đoàn tụng mỗi tuần chính là đoạn giữa bài kinh này — và kinh đặt chúng sau phần đoạn trừ cấu uế. Quy y không phải chỗ bắt đầu suông, mà là chỗ tâm đã bớt dơ.

  • “Làm phước nhiều là đủ.” Vải dơ thì nhuộm màu nào cũng xấu. Việc phước không thay được việc sửa tâm.
  • “Cấu uế là tội nặng.” Mười sáu thứ ấy phần lớn là phẫn, hận, tật đố, kiêu, phóng dật — chuyện thường ngày.
  • “Ăn ngon là phá giới.” Kinh nói rõ: với người có giới có tuệ, cơm ngon không thành chướng ngại.
  • Ngành Oanh. Mang hai mảnh vải, một dơ một sạch, và một lọ màu. Nhúng thử. Không cần giảng thêm.
  • Ngành Thiếu. Đọc mười sáu cấu uế, mỗi em chọn một thứ mình hay gặp nhất. Chỉ chọn, không phải kể ra.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đoạn “chỉ nên tắm ở đây” rất hợp dạy quanh mùa lễ. Đọc kèm Cúng Dường Tam Bảo.
  • Tấm vải là gì, màu nhuộm là gì?
  • Vì sao biết đó là cấu uế lại khó hơn đoạn trừ nó?
  • Chỉ nên tắm ở đây — “đây” là đâu?
  • Vì sao quy y lại đặt sau phần đoạn trừ cấu uế?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.