G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 55.21
Tương Ưng Dự Lưu · Chớ Có Sợ

Kinh Mahānāma

Mahānāma Sutta — SN 55.21 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Mahānāma

Ông Mahānāma thú thật một nỗi sợ rất đời: Kapilavatthu đông đúc chật hẹp, ông sợ gặp voi cuồng, ngựa cuồng, xe cuồng chạychết bất ngờ — và lúc ấy không biết mình sẽ đi về đâu.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Dự Lưu (SN 55), bài 21
  • Người hỏiMahānāma họ Thích, người cùng dòng họ với Đức Phật
  • Nơi chốn — Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha
  • Ví dụghè sữa bơ đập vỡ dưới hồ nước sâu

Kinh Mahānāma thứ nhất (SN 55.21) được Thế Tôn nói tại vườn Nigrodha, thành Kapilavatthu, xứ Sakka. Cư sĩ Mahānāma dòng Thích-ca đến bạch Phật một nỗi lo rất đời thường: Kapilavatthu phồn vinh, dân cư đông đúc, đường sá chật hẹp; mỗi chiều sau khi hầu Phật hoặc thăm các vị Tỳ-kheo đáng kính, ông đi vào thành thì gặp voi cuồng chạy, ngựa cuồng chạy, xe lớn xe nhỏ và người cuồng chạy. Giữa cảnh hỗn loạn ấy, niệm về Phật, về Pháp, về Tăng của ông bị thất, bị hoang mang. Ông tự hỏi: nếu ngay lúc đó mà mệnh chung thì sanh thú của con là gì, đời sau con sẽ về đâu? Thế Tôn đáp bằng lời trấn an được truyền tụng: "Chớ có sợ, này Mahānāma! Chớ có sợ, này Mahānāma! Không ác sẽ là cái chết của Ông." Lý do không nằm ở giây phút cuối cùng, mà nằm ở cả một quá trình: với ai đã lâu ngày (dīgharattaṁ) tâm được tu tập trọn vẹn bởi tín, giới, sở văn, thí xả và trí tuệ, thì tuy thân này do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, nuôi lớn bằng cơm cháo, là vô thường, phải bị hoại diệt — ngay tại đây quạ, chim kên, diều hâu, chó, dã can và các loài côn trùng ăn nó — nhưng tâm ấy vẫn hướng thượng, đạt đến thù thắng. Đức Phật minh họa bằng ví dụ nổi tiếng: một người nhận chìm ghè sanh tô (bơ lỏng) hay ghè dầu xuống hồ nước sâu rồi đập bể ghè; các mảnh sành mảnh gốm chìm xuống, còn sanh tô hay dầu thì nổi lên, trồi lên trên. Thân xác cũng chìm như mảnh sành, còn tâm đã huân tu thì tự nhiên nổi lên. Cuối cùng Thế Tôn xác nhận chính tâm của Mahānāma đã lâu ngày được tu tập như vậy, rồi lặp lại lời trấn an. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, bài học rất rõ: đừng đợi đến phút lâm chung mới lo; hãy huân tập tín, giới, học hỏi, bố thí và trí tuệ mỗi ngày — đó mới là điều quyết định hướng đi của tâm.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Họ Thích Mahānāma đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên (SN 55.21:1.1–1.3).
  • 2. Nỗi lo của Mahānāma — Mahānāma tả Kapilavatthu phồn vinh, dân cư đông đúc, đường sá chật hẹp; buổi chiều vào thành ông gặp voi cuồng chạy, ngựa, xe lớn, xe nhỏ, người cuồng chạy. Lúc ấy niệm về Phật, Pháp, Tăng bị thất/hoang mang, và ông tự hỏi: nếu mệnh chung ngay lúc đó thì sanh thú, sanh xứ đời sau sẽ ra sao (1.4–1.13).
  • 3. Thế Tôn trấn an: cái chết không phải là ác — "Chớ có sợ, này Mahānāma!" Thế Tôn dạy: với ai đã lâu ngày tâm được tu tập trọn vẹn bởi tín (saddhā), giới (sīla), sở văn (suta), thí xả (cāga), trí tuệ (paññā), thì tuy thân do bốn đại tạo thành, do cha mẹ sanh, nuôi bằng cơm cháo, là vô thường biến hoại — bị quạ, kên kên, chó, dã can, các loài côn trùng ăn ngay tại đây — nhưng tâm ấy hướng thượng (uddhagāmi), đạt đến thù thắng (visesagāmi) (2.1–2.5).
  • 4. Ví dụ bình sanh tô / bình dầu — Ví như người nhận chìm một ghè (bình) sanh tô hay ghè dầu vào hồ nước sâu rồi đập bể ra: các mảnh sành, mảnh gốm chìm xuống, còn sanh tô hay dầu thì nổi lên, trồi lên trên. Cũng vậy, thân hoại nhưng tâm đã được tu tập lâu ngày thì hướng thượng, đạt đến thù thắng (3.1–3.5).
  • 5. Kết: lời bảo đảm cho Mahānāma — Thế Tôn xác nhận chính tâm của Mahānāma đã lâu ngày được tu tập bởi tín, giới, sở văn, thí xả, trí tuệ; rồi lặp lại: "Chớ có sợ, này Mahānāma... Không ác sẽ là cái chết của Ông, không ác là sự mệnh chung của Ông" (3.6–3.8).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 55.21:1.4
idaṁ, bhante, kapilavatthu iddhañceva phītañca bāhujaññaṁ ākiṇṇamanussaṁ sambādhabyūhaṁ.
Kapilavatthu này, bạch Thế Tôn, là phồn vinh, phú cường, dân cư đông đúc, quần chúng khắp nơi chen chúc, chật hẹp.
Sir, this Kapilavatthu is successful and prosperous, populous and full of people, with cramped cul-de-sacs.
SN 55.21:1.6–1.10
bhantenapi hatthinā samāgacchāmi; bhantenapi assena samāgacchāmi; bhantenapi rathena samāgacchāmi; bhantenapi sakaṭena samāgacchāmi; bhantenapi purisena samāgacchāmi.
Con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy.
I encounter a stray elephant, horse, chariot, cart, or person.
SN 55.21:1.11
Tassa mayhaṁ, bhante, tasmiṁ samaye mussateva bhagavantaṁ ārabbha sati, mussati dhammaṁ ārabbha sati, mussati saṅghaṁ ārabbha sati.
Tâm con nghĩ đến Phật bị hoang mang, tâm con nghĩ đến Pháp bị hoang mang, tâm con nghĩ đến chúng Tăng bị hoang mang.
At that time I lose mindfulness regarding the Buddha, the teaching, and the Saṅgha.
SN 55.21:1.13
‘imamhi cāhaṁ samaye kālaṁ kareyyaṁ, kā mayhaṁ gati, ko abhisamparāyo’ti?
Nếu lúc ấy con mệnh chung, thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?
If I were to die at this time, where would I be reborn in my next life?
SN 55.21:2.1–2.2
Mā bhāyi, mahānāma, mā bhāyi, mahānāma. Apāpakaṁ te maraṇaṁ bhavissati apāpikā kālaṅkiriyā.
Chớ có sợ, này Mahànàma! Chớ có sợ, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông!
Do not fear, Mahānāma, do not fear! Your death will not be a bad one; your passing will not be a bad one.
SN 55.21:2.3
Yassa kassaci, mahānāma, dīgharattaṁ saddhāparibhāvitaṁ cittaṁ sīlaparibhāvitaṁ cittaṁ sutaparibhāvitaṁ cittaṁ cāgaparibhāvitaṁ cittaṁ paññāparibhāvitaṁ cittaṁ, tassa yo hi khvāyaṁ kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo.
Này Mahānāma, với ai đã lâu ngày tâm tu tập trọn vẹn về tín, tâm tu tập trọn vẹn về giới, tâm tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, dầu thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt.
Take someone whose mind has for a long time been imbued with faith, ethics, learning, generosity, and wisdom. Their body is formed, made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction.
SN 55.21:2.4–2.5
Taṁ idheva kākā vā khādanti gijjhā vā khādanti kulalā vā khādanti sunakhā vā khādanti siṅgālā vā khādanti vividhā vā pāṇakajātā khādanti; yañca khvassa cittaṁ dīgharattaṁ saddhāparibhāvitaṁ …pe… paññāparibhāvitaṁ taṁ uddhagāmi hoti visesagāmi.
dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, hay giả-can ăn, hay các loại chúng sanh sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ, thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng.
Right here the crows, vultures, hawks, hounds, jackals, and many kinds of little creatures devour it. But their mind rises up, headed for a higher place.
SN 55.21:3.1–3.2
Seyyathāpi, mahānāma, puriso sappikumbhaṁ vā telakumbhaṁ vā gambhīraṁ udakarahadaṁ ogāhitvā bhindeyya. Tatra yā assa sakkharā vā kaṭhalā vā sā adhogāmī assa, yañca khvassa tatra sappi vā telaṁ vā taṁ uddhagāmi assa visesagāmi.
Một người nhận chìm một ghè sữa bơ, hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu và đập bể ghè ấy... sữa, bơ hay dầu thời nổi lên, trồi lên trên.
Suppose a person was to sink a pot of ghee or oil into a deep lake and break it open. Its shards and chips would sink down, while the ghee or oil in it would rise up, headed for a higher place.
SN 55.21:3.6–3.8
Tuyhaṁ kho pana, mahānāma, dīgharattaṁ saddhāparibhāvitaṁ cittaṁ …pe… paññāparibhāvitaṁ cittaṁ. Mā bhāyi, mahānāma, mā bhāyi, mahānāma. Apāpakaṁ te maraṇaṁ bhavissati, apāpikā kālaṅkiriyāti.
Này Mahānāma, đã lâu ngày tâm Ông được tu tập trọn vẹn về tín, được tu tập trọn vẹn về giới, được tu tập trọn vẹn về sở văn, được tu tập trọn vẹn về thí xả, được tu tập trọn vẹn về trí tuệ. Chớ có sợ, này Mahānāma, chớ có sợ, này Mahānāma, không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông!
Your mind, Mahānāma, has for a long time been imbued with faith, ethics, learning, generosity, and wisdom. Do not fear, Mahānāma, do not fear! Your death will not be a bad one; your passing will not be a bad one.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saddhātín, lòng tinYếu tố thứ nhất trong năm điều tâm được huân tu lâu ngày.
sīlagiới, nếp sống đạo đức
sutasở văn, sự học hỏi giáo pháp đã nghe
cāgathí xả, lòng bố thí buông xả
paññātrí tuệ
paribhāvitađược huân tập, tu tập trọn vẹn, thấm nhuầnsaddhāparibhāvitaṁ cittaṁ = tâm được huân tu bởi lòng tin.
uddhagāmihướng thượng, đi lên trên
visesagāmiđạt đến thù thắng, đi đến chỗ cao quý hơn
gatisanh thú, cảnh giới tái sanh
abhisamparāyasanh xứ đời sau, đời kế tiếp
kālaṅkiriyāsự mệnh chung, việc qua đời
satiniệm, sự ghi nhớ tỉnh giácmussati sati = thất niệm.
cātumahābhūtikado bốn đại (đất, nước, lửa, gió) tạo thành
sappikumbha / telakumbhaghè (bình) sanh tô-bơ lỏng / ghè dầuHình ảnh trung tâm của ví dụ trong kinh.
sotāpattiDự Lưu, quả vị nhập dòng thánhTên chương chứa kinh này: Sotāpatti Saṁyutta.

Nỗi sợ của ông rất cụ thể, không trừu tượng. Không phải sợ chết nói chung. Ông sợ chết bất ngờ giữa đường, lúc tâm đang tán loạn — và không kịp chuẩn bị gì. Đây là nỗi sợ của người tu tại gia, không phải của người ẩn tu.

Đức Phật đáp bằng bốn chữ, lặp hai lần. “Chớ có sợ, này Mahānāma! Chớ có sợ, này Mahānāma!” Rồi: “Không ác sẽ là cái chết của Ông.” Ngài trấn an trước, giải thích sau — đúng thứ tự mà người đang sợ cần.

Lý do Ngài đưa ra không dựa vào phút lâm chung. Với ai đã lâu ngày tâm được tu tập trọn vẹn về tín, giới, sở văn, thí xả, trí tuệ — thì dù thân này bị quạ ăn, chim kên ăn, chó ăn, dã can ăn, tâm ấy vẫn thượng thặng, đi đến thù thắng. Cái quyết định là nhiều năm trước đó, không phải mấy phút cuối.

Rồi ví dụ — và đây là hình ảnh đẹp nhất bài kinh. Một người nhận chìm một ghè sữa bơ hay một ghè dầu vào hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Các mảnh ghè chìm xuống, nhưng sữa, bơ hay dầu thời nổi lên, trồi lên trên.

Vì sao ví dụ này chính xác đến vậy. Cái ghè vỡ ở dưới sâukhông ai vớt, không ai giúp. Bơ nổi lên không phải vì có người kéo, mà vì bản chất nó nhẹ hơn nước. Cũng vậy: tâm đã tu không cần ai đỡ lúc lâm chung.

Và Ngài nói thẳng với ông. “Này Mahānāma, đã lâu ngày tâm Ông được tu tập trọn vẹn về tín, giới, sở văn, thí xả, trí tuệ. Chớ có sợ. Ngài không nói lý thuyết chung — Ngài nói về chính ông.

Bài này rất hợp để nói với người lớn tuổi trong đoàn.không hứa hẹn phép lạ, cũng không dạy phải niệm cho đúng lúc chết. Nó nói: cái đã làm trong nhiều năm sẽ tự nổi lên. Đó là lời an ủi có căn cứ.

Chỗ chúng tôi ghi rõ. Bản in liệt kê voi – ngựa – người – xe lớn – xe nhỏ; thứ tự trong Pāli là voi – ngựa – xe – xe bò – người. Chúng tôi giữ nguyên câu của Hoà thượng Minh Châu và ghi chú chỗ khác biệt. Ngoài ra, ba đoạn trong bản tra cứu vốn không có câu tiếng Việt — chúng tôi đã tra bản in và thay bằng nguyên văn.

  • “Phải giữ chánh niệm đúng lúc chết mới được.” Kinh nói cái quyết định là nhiều năm tu tập trước đó.
  • “Bơ nổi nhờ có người vớt.” Không ai vớt — nó nổi vì bản chất nó.
  • “Sợ chết là thiếu lòng tin.” Mahānāma là bậc Dự Lưu mà vẫn sợ, và Đức Phật không quở.
  • Ngành Oanh. Làm thử: bỏ chút dầu ăn vào ly nước. Dầu nổi lên. Chỉ vậy.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao bơ nổi mà mảnh ghè chìm? Rồi hỏi tiếp: cái gì trong mình là bơ?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài để nói với người lớn tuổi hoặc người có bệnh. Đọc kèm AN 6.16.
  • Nỗi sợ của Mahānāma cụ thể là gì?
  • Vì sao Đức Phật trấn an trước rồi mới giải thích?
  • Bơ nổi lên nhờ đâu?
  • Bài này an ủi bằng cách nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.