Ngài Mahāmoggallāna — vị được Đức Phật khen tối thắng về THẦN THÔNG — đứng trước chúng Tăng và kể rằng: khi ngài vào được Thiền thứ nhất thì các tưởng câu hữu với dục nổi lên quấy phá. Rồi ngài kể ai đã phải đích thân tới giúp, và đã nói gì.
Phần I · Xuất Xứ- Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Sáu Xứ, chương 40 (Tương Ưng Moggallāna), bài mở đầu; cả chương 11 bài
- Ngài là ai — vị Thượng Thủ thứ hai, tối thắng về đại thần thông; xem AN 1.190
- Cả chương chạy cùng một câu chuyện qua bốn Thiền, bốn Vô Sắc, và Vô Tướng Tâm Định — mỗi tầng một lần vấp, một lần được nhắc
- Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu
Tôn giả Mahāmoggallāna gọi các Tỳ-kheo lại và kể chuyện của chính mình. Trong khi độc cư thiền tịnh, một câu hỏi khởi lên nơi ngài: “‘Thiền thứ nhất, Thiền thứ nhất’ được gọi là như vậy. Thế nào là Thiền thứ nhất?” Rồi ngài tự trả lời đúng công thức: ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất — một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Và ngài vào được. Rồi tới câu mà cả bài kinh xoay quanh: “Này chư Hiền, trong khi tôi trú với sự an trú ấy, CÁC TƯỞNG CÂU HỮU VỚI DỤC hiện hành nơi tôi.” Xin đọc lại câu ấy. Người nói câu này là vị tối thắng về thần thông trong toàn thể chúng đệ tử của Đức Phật. Ngài đã vào được tầng Thiền. Và ngay trong đó, những tưởng đi cùng với dục vẫn nổi lên. Rồi Thế Tôn dùng thần thông đi tới chỗ ngài và nói: “Moggallāna, Moggallāna! Này Bà-la-môn, CHỚ CÓ PHÓNG DẬT đối với Thiền thứ nhất. Hãy AN TRÚ TÂM vào Thiền thứ nhất. Hãy làm cho tâm NHẤT TÂM trong Thiền thứ nhất. Hãy làm cho tâm ĐỊNH TĨNH trong Thiền thứ nhất.” Bốn lời dặn, và cả bốn đều chỉ nói một việc: ĐỪNG RỜI CHỖ ẤY. Không có kỹ thuật mới nào được trao. Không có pháp môn nào khác được giới thiệu. Chỉ là: hãy ở lại đó cho vững. Và ngài kể tiếp, rất gọn: “Rồi sau một thời gian, tôi ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất.” Không nói đã mất bao lâu. Bài kinh khép lại bằng câu mà con nghĩ là câu hay nhất: “Nếu có ai nói một cách chơn chánh rằng: ‘Vị đệ tử được bậc Đạo Sư GIÚP ĐỠ mà đạt tới đại thắng trí’ — thì nói về tôi, người ấy nói một cách chơn chánh.”
Phần III · Đoạn TríchMỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
|---|---|---|
| paṭhamaṁ jhānaṁ | Thiền thứ nhất | có tầm, có tứ; hỷ lạc do ly dục sanh |
| kāmasahagatā saññāmanasikārā | các tưởng và tác ý CÂU HỮU VỚI DỤC | chữ then chốt: không phải dục thô, mà là cái tưởng ĐI KÈM với dục |
| samudācaranti | hiện hành, kéo tới quấy | Sujato dịch beset me — bủa vây |
| mā pamādo | chớ có phóng dật | lời dặn thứ nhất trong bốn |
| cittaṁ saṇṭhapehi | hãy AN TRÚ tâm | đặt cái tâm xuống cho yên chỗ |
| cittaṁ ekodiṁ karohi | hãy làm tâm NHẤT TÂM | ekodi = một mối, một điểm |
| cittaṁ samādaha | hãy làm tâm ĐỊNH TĨNH | cùng gốc với samādhi |
| aparena samayena | sau một thời gian | kinh KHÔNG nói bao lâu |
| satthārānuggahita | được bậc Đạo Sư giúp đỡ | anuggaha = nâng đỡ, giúp một tay |
Xin để ý CẢNH trước đã: ngài đang đứng trước chúng Tăng, và ngài kể chuyện này VỀ CHÍNH MÌNH.
Không phải chuyện kể về một người học trò nào đó đang vất vả. Là lời ngài kể về buổi ngồi của chính ngài.
Và người kể là vị TỐI THẮNG VỀ THẦN THÔNG trong toàn thể chúng đệ tử.
Ngài VÀO ĐƯỢC Thiền thứ nhất. Và NGAY TRONG ĐÓ, các tưởng câu hữu với dục kéo tới bủa vây.
Nếu chuyện ấy xảy ra với NGÀI, thì chuyện xảy ra trên chỗ ngồi của mình KHÔNG phải dấu hiệu mình hư hỏng gì cả.
Bây giờ tới điều Đức Phật nói, vì nó KHÔNG phải điều người ta trông đợi.
KHÔNG một kỹ thuật mới nào. KHÔNG đổi đề mục. KHÔNG chẩn đoán triền cái nào cả.
Bốn lời dặn, và cả bốn nói cùng MỘT việc: ĐỪNG RỜI CHỖ ẤY. Chớ phóng dật · an trú tâm · nhất tâm · định tĩnh.
Chỗ ấy đáng để ý, vì khi ngồi thiền không xong thì phản xạ của mình là ĐỔI CÁI GÌ ĐÓ. Đổi tư thế, đổi đề mục, đổi pháp môn, đổi thầy.
Lời dặn ở đây thì NGƯỢC LẠI: Ở LẠI, và ngồi cho vững.
Rồi tới bốn chữ rất dễ đọc lướt: “RỒI SAU MỘT THỜI GIAN”.
Kinh KHÔNG nói bao lâu. KHÔNG nói là nhanh. Chỉ ghi nhận rằng có một khoảng thời gian đã trôi qua.
Rồi tới câu làm nên cả bài kinh — và đó là câu của một bậc lớn.
“Vị đệ tử được bậc Đạo Sư GIÚP ĐỠ mà đạt tới đại thắng trí — nói về tôi như vậy là nói chơn chánh.”
Ngài KHÔNG giấu chuyện được giúp. Ngài NHẬN nó, công khai, như một phần của chính con người mình.
Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng, và đó là lý do con chọn bài này.
Gần như em nào tập ngồi thiền cũng lặng lẽ kết luận rằng MÌNH DỞ. Và rồi thôi không tập nữa.
Bài kinh này là câu trả lời, và KHÔNG cần mình bình một chữ nào. Cứ đọc lên là đủ. Ngài Mục-kiền-liên cũng bị quấy — và Đức Phật phải đích thân tới nhắc.
Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm- “Các vị đại đệ tử không hề chật vật.” Vị tối thắng về thần thông ĐỨNG TRƯỚC CHÚNG mà kể rằng ngài có.
- “Ngồi bị quấy thì đổi pháp môn.” Lời dặn ở đây là Ở LẠI ĐÚNG CHỖ ẤY và ngồi cho vững.
- “Rồi ngài xong ngay.” Kinh ghi “sau một thời gian”, và không nói bao lâu.
- “Phải nhờ người giúp là yếu.” Ngài lấy chính điều đó làm danh hiệu của mình: vị đệ tử ĐƯỢC GIÚP mà đạt tới đại thắng trí.
- Ngành Oanh. Sau giờ ngồi thiền, hỏi: “Đầu ai lúc nãy lộn xộn?” Rồi nói: “Đệ tử giỏi nhất của Đức Phật cũng vậy đó.”
- Ngành Thiếu. Đọc bài kinh TRƯỚC giờ ngồi thiền, đừng đọc sau. Các em sẽ ngồi với một tâm thế khác hẳn.
- Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Để ý phản xạ muốn ĐỔI mỗi khi ngồi không xong. Rồi thử làm ngược lại: ở lại. Và bàn: vì sao nhận mình được giúp lại là dấu hiệu của người lớn?
- Ai kể câu chuyện này, và kể về ai?
- Chuyện gì xảy ra trong lúc ngài đang trú Thiền thứ nhất?
- Đức Phật bảo ngài làm gì — và KHÔNG bảo gì?
- Việc ấy mất bao lâu?
- Ở cuối bài, ngài tự nhận danh hiệu gì?
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên TRỌN bài — bài ngắn nên chép đủ — và đếm lại đủ BỐN lời dặn ở đoạn 3.3. Cả chương 40 có 11 bài, chạy cùng một câu chuyện qua các tầng thiền. Một chỗ xin ghi rõ: bản điện tử tiếng Việt đề tựa bài này là “40.1. Với Tầm”, còn tên Pāli ấn bản Mahāsaṅgīti là Paṭhamajhānapañhāsutta — “hỏi về Thiền thứ nhất”; chúng tôi lấy theo tên Pāli và ghi lại chỗ khác biệt. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem SN 40.1. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.






