G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 21.6
Cả Bầy Đều Sợ Sư Tử, Dầu Thân Không Đồng

Kinh Lakuṇṭaka Bhaddiya

Lakuṇḍakabhaddiyasutta — SN 21.6 · Tương Ưng Tỷ Kheo · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộTương Ưng Tỷ Kheo

Đức Phật thấy một vị Tỳ-kheo đi tới và chỉ cho cả chúng bằng những chữ đọc lên thấy đau: xấu xí, khó nhìn, còm lưng, bị các Tỷ-kheo khinh miệt. Rồi Ngài cho biết vị ấy THẬT RA là ai. Bài kinh rất ngắn, và với một đoàn thể thanh thiếu niên thì khó tìm bài nào dùng được hơn.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Nhân Duyên, chương 21 (Tương Ưng Tỷ Kheo), bài thứ 6; cả chương 12 bài
  • Tên ngàiLakuṇḍaka nghĩa là NGƯỜI LÙN; cái tên ấy đi liền với ngài trong kinh tạng
  • Và ngài là ai — vị được Đức Phật khen tối thắng về ÂM THANH VI DIỆU; xem AN 1.194
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Thế Tôn trú ở Sāvatthi. Tôn giả Lakuṇṭaka Bhaddiya đi đến. Thế Tôn thấy ngài từ xa, và gọi các Tỳ-kheo. Câu Ngài hỏi là câu khó đọc nhất của bài kinh: “Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kia đang đi đến — XẤU XÍ, KHÓ NHÌN, CÒM LƯNG, BỊ CÁC TỶ-KHEO KHINH MIỆT?” Các Tỳ-kheo đáp: “Thưa có, bạch Thế Tôn.” Xin dừng ở câu đáp ấy. Không ai chối. Kinh không viết rằng chúng Tăng ngượng ngùng phủ nhận. Họ nhận là đúng — cả cái “bị khinh miệt” cũng nhận. Chữ Pāli paribhūtarūpa nghĩa thẳng là “kẻ bị coi thường”. Rồi Thế Tôn nói tiếp: “Tỷ-kheo ấy có ĐẠI THẦN THÔNG, có ĐẠI UY LỰC. Thật không dễ gì đạt được chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc.” Câu ấy đáng đọc chậm: khó mà tìm ra một sự chứng đắc nào mà vị ấy chưa từng đạt tới. Và Ngài kết: vị ấy ngay trong hiện tại đã tự mình chứng ngộ và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh — tức là bậc A-la-hán, mục đích mà vì nó người con nhà lành từ bỏ gia đình. Rồi Đức Phật nói thêm một bài kệ: “Thiên nga, cò, chim công, voi và nai có chấm — tất cả đều sợ sư tử, dầu THÂN không đồng đều. Cũng vậy giữa loài Người: nếu kẻ có TRÍ TUỆ, ở đấy vị ấy LỚN; kẻ ngu, dầu thân lớn, cũng không.” Hình ảnh ấy chọn rất khéo. Trong bầy thú kể ra, con voi to hơn con sư tử. Con thiên nga đẹp hơn. Con công rực rỡ hơn. Nhưng cả bầy đều sợ sư tử. Và bài kệ nói thẳng lý do: natthi kāyasmiṁ tulyatāchuyện không nằm ở cái thân.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Bài này ngắn nên chúng tôi chép TRỌN.

SN 21.6:1.5–1.6 ⭐ (câu khó đọc nhất)
“passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ bhikkhuṁ āgacchantaṁ dubbaṇṇaṁ duddasikaṁ okoṭimakaṁ bhikkhūnaṁ paribhūtarūpan”ti? “Evaṁ, bhante”.
—Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kia đang đi đến, xấu xí, khó nhìn, còm lưng, bị các Tỷ-kheo khinh miệt? —Thưa có, bạch Thế Tôn.
“Mendicants, do you see this monk coming—ugly, unsightly, deformed, and despised by the mendicants?” “Yes, sir.”
SN 21.6:1.7 ⭐ (câu lật ngược)
“Eso kho, bhikkhave, bhikkhu mahiddhiko mahānubhāvo, na ca sā samāpatti sulabharūpā yā tena bhikkhunā asamāpannapubbā.
—Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc.
“That mendicant is very mighty and powerful. It’s not easy to find an attainment that he has not already attained.
SN 21.6:1.8 (ngài là bậc A-la-hán)
Yassa catthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Và cả đến mục đích mà con một lương gia xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình — vị ấy còn tự mình, ngay trong hiện tại, chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh.
And he has realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lives having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.”
SN 21.6:2.1–2.4 ⭐ (bài kệ · con sư tử)
“Haṁsā koñcā mayūrā ca, hatthayo pasadā migā; Sabbe sīhassa bhāyanti, natthi kāyasmiṁ tulyatā.
Thiên nga, cò, chim công, / Voi và nai có chấm, / Tất cả sợ sư tử, / Dầu thân không đồng đều.
“Geese, herons, and peacocks, elephants and spotted deer—though their bodies are not equal, they all fear the lion.
SN 21.6:3.1–3.4 ⭐ (áp vào loài Người)
Evameva manussesu, daharo cepi paññavā; So hi tattha mahā hoti, neva bālo sarīravā”ti.
Cũng vậy, giữa loài Người, / Nếu kẻ có trí tuệ, / Ở đấy vị ấy lớn, / Kẻ ngu dầu thân lớn (cũng không).
So it is for humans—if a little person is wise, they’re the truly great one, not the fool with a good body.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
lakuṇḍakangười lùnđi liền với tên ngài trong kinh tạng
dubbaṇṇaxấu sắc, xấu xí
duddasikakhó nhìn
okoṭimakacòm, lùn tịtSujato dịch deformed
paribhūtarūpakẻ bị coi thường, bị khinh miệtchữ nặng nhất trong câu — và các Tỳ-kheo nhận là đúng
mahiddhika · mahānubhāvađại thần thông · đại uy lựchai chữ lật ngược cả câu trên
samāpattisự chứng đắc, sự nhập định“không dễ tìm ra sự chứng đắc nào ngài chưa từng đạt”
natthi kāyasmiṁ tulyatākhông có sự ngang bằng nơi thâncâu chốt của bài kệ
daharo cepi paññavādù nhỏ bé mà có trí tuệdahara = nhỏ, trẻ

Câu khó đọc nhất trong bài kinh này là câu của CHÍNH ĐỨC PHẬT.

“Xấu xí, khó nhìn, còm lưng, bị các Tỷ-kheo khinh miệt.” Bốn chữ, nói LỚN TIẾNG, trong lúc chính người ấy đang đi tới.

Rồi các Tỳ-kheo ĐỒNG Ý. Không ai chối. Kể cả chữ “bị khinh miệt” cũng nhận.

Nghĩa là bài kinh mở đầu bằng cách ĐẶT CÁI SỰ THẬT KHÓ COI LÊN BÀNtrước mặt mọi người, kể cả người bị nói tới.

Xin dừng lại, vì mình thường KHÔNG làm như vậy. Mình thường tránh nói ra, và cái sự khinh miệt cứ nằm đó, không ai đụng tới.

Rồi MỘT CÂU lật ngược tất cả. “Tỷ-kheo ấy có đại thần thông, có đại uy lực.”

Rồi tới câu rất dễ đọc lướt: “KHÔNG DỄ GÌ tìm ra một chứng đắc mà vị ấy CHƯA từng đạt.”

Người mà họ đang coi thường ĐÃ ĐI XA HƠN HỌ. Và họ không hề biết.

Rồi tới bài kệ. Xin để ý CÁC CON THÚ được chọn.

Con THIÊN NGA đẹp hơn sư tử. Con CÔNG rực rỡ hơn. Con VOI TO HƠN NHIỀU.

Vậy mà cả bầy đều SỢ SƯ TỬ. Và bài kệ nói lý do bằng bốn chữ: natthi kāyasmiṁ tulyatāchuyện KHÔNG nằm ở cái thân.

Rồi áp vào loài người, nói thẳng không quanh co: “nếu kẻ có TRÍ TUỆ, ở đấy vị ấy LỚN; kẻ ngu dầu thân lớn cũng không.”

Xin thưa vì sao bài kinh này quan trọng với mình đến vậy.

Bị chê ngoại hình KHÔNG phải chuyện nhỏ với một em mười bốn tuổi. Có khi đó là toàn bộ tuần lễ của em ấy.

Và bài kinh này KHÔNG bảo các em rằng “chuyện đó không quan trọng”. Nó GHI NHẬN rằng chuyện ấy đã xảy ra thậtngay trong Tăng đoàn của Đức Phật.

Rồi nó nói một điều hay hơn lời an ủi: NHỮNG NGƯỜI ĐI KHINH MIỆT MỚI LÀ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG THẤY.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Trong đoàn mình luôn có một em bị cười. Bài kinh này cho mình cách nói về chuyện ấy mà không phải giảng đạo đứcchỉ cần đọc lên, rồi hỏi các em nghĩ gì.

  • “Đức Phật chê ngài ấy.” Ngài nói LỚN cái điều cả chúng đang nghĩ THẦMrồi đập vỡ nó.
  • “Ngoại hình không quan trọng, nên chuyện cười cợt cũng nhẹ thôi.” Kinh ghi rõ chữ paribhūtaBỊ KHINH MIỆT. Chuyện ấy có thật và được ghi lại, không bị gạt đi.
  • “Trí tuệ là thông minh lanh lợi.” Bài kệ đặt chữ paññavā cạnh một bậc A-la-hánngười đã đi hết đường, không phải người nói giỏi.
  • “Bài này nói về một người lùn.” Con sư tử trong bài kệ KHÔNG phải con to nhất, cũng không đẹp nhất. Điều bài kinh nói là: thước đo chưa bao giờ là cái thân.
  • Ngành Oanh. Kể tên các con thú trong bài kệ. Hỏi: con nào TO nhất? con nào ĐẸP nhất? và cả bầy SỢ con nào? Các em tự trả lời là xong bài kinh.
  • Ngành Thiếu. Đọc to câu đầu của Đức Phật rồi DỪNG LẠI. Hỏi các em: nghe câu ấy thấy thế nào? Rồi mới đọc tiếp câu sau.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Một câu hỏi thành thật: trong đoàn mình, em nào đang lặng lẽ bị cười? Và: mình có biết em ấy giỏi cái gì không?
  • Đức Phật dùng bốn chữ nào, và có ai chối không?
  • Vị Tỳ-kheo ấy thật ra là ai?
  • Bài kệ kể những con thú nào, và vì sao chọn những con ấy?
  • Bốn chữ natthi kāyasmiṁ tulyatā nghĩa là gì?
  • Trong câu chuyện, ai mới là người không thấy?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên TRỌN bài — bài ngắn nên chép đủ. Cả chương 21 có 12 bài. Hai chỗ xin ghi rõ: (1) bản điện tử tiếng Việt đề tựa “21.6. Bhaddi”, tên Pāli đầy đủ là Lakuṇḍakabhaddiyasutta; (2) ở bài kệ, chữ daharo nghĩa vừa là nhỏ bé vừa là trẻ tuổi — Sujato dịch a little person, bản Việt để trống chỗ ấy mà dịch thẳng là “nếu kẻ có trí tuệ”; chúng tôi giữ cả hai nghĩa vì cả hai đều đúng với văn cảnh. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem SN 21.6. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.