G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 11.4
Tương Ưng Sakka · Nhẫn Có Phải Là Hèn

Kinh Vepacitti — Kham Nhẫn

Vepacitti Sutta — SN 11.4 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Vepacitti — Kham Nhẫn

Thiên chủ Sakka nhẫn nhịn trước lời mắng của A-tu-la Vepacitti, và lập tức bị chê là vì sợ, vì yếu. Bài kinh không né câu chê ấy — nó trả lời thẳng, và câu trả lời sắc hơn ta tưởng.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Sakka (SN 11), bài 4
  • Nhân vậtSakka, thiên chủ chư thiên, và Vepacitti, vua A-tu-la
  • Thểđối đáp bằng kệ, hai bên thay phiên nói
  • Đặc điểm — Đức Phật kể lại chuyện này cho chư Tỳ-kheo như một tấm gương

Thế Tôn kể cho chư Tỷ-kheo nghe chuyện thuở xưa: một trận chiến khốc liệt nổ ra giữa chư Thiên và các A-tu-la. Trước trận, vua A-tu-la Vepacitti dặn quân mình: nếu thắng thì trói Thiên chủ Sakka hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, dẫn về thành A-tu-la. Thiên chủ Sakka cũng dặn chư Thiên Tam thập tam thiên y như vậy đối với Vepacitti. Kết quả chư Thiên thắng, Vepacitti bị trói và bị dẫn tới giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp). Bị trói, Vepacitti vẫn nhiếc mắng, mạ lị Thiên chủ Sakka bằng lời thô ác mỗi khi Sakka ra vào giảng đường. Người đánh xe Mātali thấy vậy liền hỏi bằng kệ: có phải vì sợ hãi hay vì yếu hèn mà Sakka phải kham nhẫn? Sakka đáp: không phải vì sợ, cũng không vì yếu hèn; kẻ trí không dính mắc, không đôi co với người ngu. Mātali vặn lại hai lần: nếu không ai đối trị thì kẻ ngu càng nổi khùng, nên phải dùng hình phạt nặng; và kẻ ngu sẽ tưởng "vì sợ ta nên nó nhẫn" rồi càng hung hăng, như con bò càng đuổi khi thấy người bỏ chạy. Sakka trả lời bằng loạt kệ nổi tiếng nhất của bài kinh: mặc cho kẻ kia nghĩ gì; trong tư lợi tối thượng, không gì hơn kham nhẫn. Người có sức mạnh mà chịu nhẫn kẻ yếu kém mới là "nhẫn tối thượng"; kẻ yếu thì lúc nào cũng phải nhẫn. Sức mạnh của kẻ ngu thật ra là yếu hèn; người mạnh được Pháp hộ trì thì không ai chống lại được. Bị mắng mà mắng lại thì ác hại nặng nề hơn cho chính mình; bị mắng mà không mắng lại là "được chiến thắng hai lần", thắng trận chiến khó thắng. Biết kẻ khác đang tức giận mà giữ chánh niệm, tâm an tịnh, là làm lợi cho cả hai — như y sĩ chữa cả mình lẫn người — dù quần chúng không giỏi Chánh pháp lại cho đó là ngu. Kết kinh, Thế Tôn nhắc: ngay cả Sakka, đang hưởng quả công đức và cai trị Tam thập tam thiên, còn tán thán kham nhẫn và nhu hòa; huống nữa là người đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng này — hãy làm chói sáng Pháp luật bằng chính hạnh kham nhẫn và nhu hòa.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại Sāvatthī và trận chiến Thiên – A-tu-la — Thế Tôn kể chuyện thuở xưa; Vepacitti và Sakka mỗi bên ra lệnh trói vua đối phương 'hai tay, hai chân và thứ năm là cổ'. Chư Thiên thắng, Vepacitti bị trói dẫn về giảng đường Sudhamma và vẫn nhiếc mắng Sakka (SN 11.4:1.1–1.9).
  • 2. Mātali hỏi kệ: vì sợ hay vì yếu hèn? — Người đánh xe Mātali nói kệ hỏi Sakka vì sao phải kham nhẫn khi nghe ác ngữ của Vepacitti (SN 11.4:1.10–2.4).
  • 3. Đối đáp bằng kệ giữa Sakka và Mātali — Ba lượt qua lại: Sakka nói không vì sợ, không vì yếu hèn, kẻ trí không đôi co với người ngu; Mātali cho rằng phải dùng hình phạt nặng để đối trị; Sakka nói cách đối trị là giữ niệm, tâm an tịnh; Mātali nêu lỗi lầm của kham nhẫn (kẻ ngu tưởng người kia sợ mình, ví như con bò đuổi người chạy) (SN 11.4:3.1–6.6).
  • 4. Loạt kệ của Sakka tán thán kham nhẫn (khanti) — Không gì hơn kham nhẫn trong tư lợi tối thượng; người mạnh nhẫn kẻ yếu mới là nhẫn tối thượng; sức mạnh của kẻ ngu là yếu hèn, người được Pháp hộ trì không ai chống lại; bị mắng mắng lại thì ác hại nặng hơn, không mắng lại là thắng trận khó thắng; giữ niệm an tịnh là lợi ích cho cả hai, như y sĩ chữa cả hai, dù người đời không giỏi Chánh pháp cho đó là ngu (SN 11.4:7.1–12.4).
  • 5. Lời kết của Thế Tôn khuyến tu kham nhẫn và nhu hòa — Ngay Thiên chủ Sakka còn tán thán kham nhẫn (khanti) và nhu hòa (soracca); vậy chư Tỷ-kheo đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng này càng phải kham nhẫn và nhu hòa (SN 11.4:13.1–13.2).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 11.4:2.1–2.4
Bhayā nu maghavā sakka,
dubbalyā no titikkhasi;
Suṇanto pharusaṁ vācaṁ,
sammukhā vepacittino’ti.
Này Thiên chủ Sakka,
Có phải là Ông sợ,
Hay vì Ông yếu hèn,
Nên mới phải kham nhẫn,
Khi Ông nghe ác ngữ,
Từ Vepacitti?
‘O Maghavā, O Sakka, is it from fear or from weakness that you endure such harsh words in the presence of Vepacitti?’
SN 11.4:3.1–3.4
Nāhaṁ bhayā na dubbalyā,
khamāmi vepacittino;
Kathañhi mādiso viññū,
bālena paṭisaṁyuje’ti.
Không phải vì sợ hãi,
Không phải vì yếu hèn,
Mà ta phải kham nhẫn,
Với Vepacitti.
Sao kẻ trí như ta,
Lại liên hệ người ngu?
‘It’s not out of fear or weakness that I’m patient with Vepacitti. For how can a sensible person like me get in a fight with a fool?’
SN 11.4:5.1–5.4
Etadeva ahaṁ maññe,
bālassa paṭisedhanaṁ;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammatī’ti.
Như vậy theo ta nghĩ,
Chỉ đối trị người ngu,
Biết kẻ khác phẫn nộ,
Giữ niệm tâm an tịnh.
‘I think that this is the only way to put a stop to a fool: when you know that the other is upset, be mindful and stay calm.’
SN 11.4:6.1–6.6
Etadeva titikkhāya,
vajjaṁ passāmi vāsava;
Yadā naṁ maññati bālo,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Ajjhāruhati dummedho,
gova bhiyyo palāyinan’ti.
Hỡi này Vàsana,
Sự kham nhẫn như vậy,
Ta thấy là lỗi lầm,
Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
"Vì sợ ta, nó nhẫn"
Kẻ ngu càng hăng tiết,
Như bò thấy người chạy,
Càng hung hăng đuổi dài.
‘In this mere endurance, Vāsava, I see a flaw. When a fool thinks, “He endures me out of fear,” the simpleton will go after you even harder, like a cow chasing someone who runs away.’
SN 11.4:7.1–7.4
Kāmaṁ maññatu vā mā vā,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Sadatthaparamā atthā,
khantyā bhiyyo na vijjati.
Hãy để nó suy nghĩ,
Như ý nó mong muốn,
Nghĩ rằng, ta kham nhẫn,
Vì ta sợ hãi nó.
Trong tư lợi tối thượng,
Không gì hơn kham nhẫn.
‘Let him think this if he wishes, or not—“He endures me out of fear.” For the highest goal, one’s own, naught better than patience is found.
SN 11.4:8.1–8.4
Yo have balavā santo,
dubbalassa titikkhati;
Tamāhu paramaṁ khantiṁ,
niccaṁ khamati dubbalo.
Người đầy đủ sức mạnh,
Chịu nhẫn người yếu kém,
Nhẫn ấy gọi tối thượng,
Thường nhẫn kẻ yếu hèn.
When a strong person endures a weakling, they call that the ultimate patience, for a weakling must always be patient.
SN 11.4:10.1–10.4
Tasseva tena pāpiyo,
yo kuddhaṁ paṭikujjhati;
Kuddhaṁ appaṭikujjhanto,
saṅgāmaṁ jeti dujjayaṁ.
Bị mắng nhiếc, mắng lại,
Ác hại nặng nề hơn.
Bị mắng, không mắng lại,
Được chiến thắng hai lần.
When you get angry at an angry person you just make things worse for yourself. When you don’t get angry at an angry person you win a battle hard to win.
SN 11.4:11.1–12.4
Ubhinnamatthaṁ carati,
attano ca parassa ca;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammati.
Ubhinnaṁ tikicchantānaṁ,
attano ca parassa ca;
Janā maññanti bāloti,
ye dhammassa akovidā’ti.
Sống lợi ích cả hai,
Lợi mình và lợi người,
Biết kẻ khác tức giận,
Giữ niệm, tâm an tịnh,
Là y sĩ cả hai,
Chữa mình và chữa người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không giỏi Chánh pháp.
When you know that the other is angry, you act for the good of both yourself and the other if you’re mindful and stay calm. People inexpert in the teaching consider one who heals both oneself and the other to be a fool.
SN 11.4:13.1–13.2
So hi nāma, bhikkhave, sakko devānamindo sakaṁ puññaphalaṁ upajīvamāno devānaṁ tāvatiṁsānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kārento khantisoraccassa vaṇṇavādī bhavissati. Idha kho taṁ, bhikkhave, sobhetha yaṁ tumhe evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā khamā ca bhaveyyātha soratā cā”ti.
Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy đã tự nuôi sống với quả công đức của mình, đã ngự trị và cai trị chư Thiên Tam thập tam thiên, sẽ nói lời tán thán nhẫn nhục và nhu hòa. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy làm chói sáng pháp luật này bằng cách trong khi xuất gia trong pháp và luật khéo giảng này, hãy thật hành kham nhẫn và nhu hòa.
Since, mendicants, even that Sakka, lord of gods—while living off of the fruit of his good deeds, and ruling as sovereign lord over these gods of the thirty-three—will speak in praise of patience and gentleness, you can excel at this, for you who have gone forth in such a well explained teaching and training can develop patience and gentleness.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
khantikham nhẫn, nhẫn nhụcĐức tính trung tâm của bài kinh: 'khantyā bhiyyo na vijjati' — không gì hơn kham nhẫn.
titikkhā / titikkhatisự chịu đựng, nhẫn chịu / chịu đựngMātali dùng chữ này khi nêu 'lỗi lầm' của sự chịu đựng suông.
soraccanhu hòa, hiền thiện, ôn hòaĐi cặp với khanti trong lời kết: khantisoracca — kham nhẫn và nhu hòa.
satocó chánh niệm, giữ niệm'yo sato upasammati' — người giữ niệm mà an tịnh.
upasammatilắng dịu, an tịnh
bālakẻ nguĐối lập với viññū (kẻ trí) và dhīra (bậc hiền trí).
dummedhakẻ thiếu trí, ngu muội
sakka devānamindaThiên chủ Sakka (Đế-thích), vua chư Thiên
Maghavā / VāsavaMa-già-bà / Bà-sa-bà — các danh hiệu khác của Thiên chủ Sakka
asurinda VepacittiVepacitti, vua các A-tu-la
Mātali saṅgāhakaMātali, người đánh xe (của Thiên chủ Sakka)
devā tāvatiṁsāchư Thiên cõi Tam thập tam thiên (Ba mươi ba)
Sudhammasabhāgiảng đường Sudhamma (Thiện Pháp) ở Tam thập tam thiên
kaṇṭhapañcamehi bandhanehitrói bằng năm dây: hai tay, hai chân và thứ năm là cổ
dhammaguttađược Chánh pháp hộ trì'Balassa dhammaguttassa, paṭivattā na vijjati' — người mạnh được Pháp hộ trì thì không ai chống lại được.
saṅgāmaṁ jeti dujjayaṁthắng được trận chiến khó thắngBản Việt HT. Minh Châu diễn là 'Được chiến thắng hai lần'.

Lời chê được nói thẳng ra trong kinh. Vepacitti nói Sakka nhẫn vì sợ, vì yếu — rằng kẻ ngu tưởng người nhẫn là “sợ ta”. Kinh không giấu lời chê ấy đi. Nó để lời chê đứng nguyên, rồi mới trả lời.

Câu trả lời có một điều kiện. Sakka đáp: khi mình đủ sức trả đũa mà vẫn nhẫn, đó mới là nhẫn. Còn nhẫn vì không đủ sức thì không phải nhẫn — đó chỉ là không làm gì được. Đây là điều kiện quyết định cả bài kinh.

Vì sao lại đúng. Nếu người yếu nhịn thì không có gì để chọn — mà không có chọn thì không có đức. Nhẫn chỉ thành đức khi nó là một lựa chọn, và lựa chọn ấy chỉ có khi mình có thể làm khác.

Chỗ khó nhất của bài kinh. Sakka nói người biết “người kia đang giận”giữ được chánh niệm thì làm lợi cho cả hai. Nhưng ai không hiểu sẽ tưởng người ấy ngu. Kinh thừa nhận rằng người nhẫn sẽ bị hiểu lầm — và không hứa hẹn sẽ được minh oan.

Vì sao đặt vào miệng Sakka mà không phải một vị Tỳ-kheo. Sakka là thiên chủngười mạnh nhất trong cõi trời. Chọn đúng nhân vật không thể bị nghi là yếu, thì lời chê “nhẫn vì yếu” tự nó sụp.

Đọc kèm hai bài. SN 7.2 nói về không nhận; bài này nói về nhẫn khi đủ sức trả đũa; AN 7.64 nói về cái giá người giận tự trả. Ba bài hợp thành một chủ đề.

  • “Nhẫn là ai nhịn cũng được.” Kinh đặt điều kiện: phải đủ sức trả đũa thì mới gọi là nhẫn.
  • “Người nhẫn sẽ được người ta hiểu.” Kinh nói ngược: họ sẽ bị coi là ngu.
  • “Đây là chuyện thần thoại, không thật.” Đức Phật kể như một tấm gương để học, không phải để tin có thật hay không.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy một ý: người mạnh mà không đánh lại mới là người giỏi.
  • Ngành Thiếu. Câu hỏi thật: em nhịn vì không dám, hay vì em chọn không làm? Hai cái khác nhau.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài này hợp cho người có quyền trong đoàn. Nhẫn chỉ thành đức khi mình có sức làm khác.
  • Vì sao nhẫn khi mình yếu không phải là nhẫn?
  • Vì sao kinh đặt lời này vào miệng Sakka?
  • Kinh nói người nhẫn sẽ bị coi là ngu. Em nghĩ sao?
  • Lần gần nhất em nhịn — vì không dám hay vì chọn?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy không tìm thấy chỗ nào sai. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.