G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 6.1
Tương Ưng Phạm Thiên · Suýt Không Có Đạo Phật

Kinh Phạm Thiên Thỉnh Cầu

Brahmāyācana Sutta — SN 6.1 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Phạm Thiên Thỉnh Cầu

Ngay sau khi thành đạo, Đức Phật thấy pháp này quá sâu, người đời khó hiểu, và tâm Ngài hướng về im lặng. Nếu không có bài kinh này thì có thể đã không có lời dạy nào cả.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Phạm Thiên (SN 6), bài 1
  • Nơi chốnUruvelā, bờ sông Nerañjarā, dưới gốc cây Ajapāla
  • Người thỉnh cầuPhạm thiên Sahampati
  • Ví dụhồ sen, ba hạng sen

Kinh Thỉnh Cầu (Brahmāyācana Sutta, SN 6.1) mở đầu Tương Ưng Phạm Thiên, ghi lại một khoảnh khắc quyết định của lịch sử đạo Phật: vì sao Đức Phật bắt đầu thuyết pháp. Kinh mở ra tại Uruvelà, bên sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapāla Nigrodha, khi Thế Tôn mới thành đạo. Trong lúc Thiền tịnh độc cư, Ngài suy nghĩ rằng Pháp mình chứng được "thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận", trong khi quần chúng thì ưa ái dục, khó thấy được lý duyên khởi và Niết-bàn. Nếu thuyết mà không ai hiểu thì "thật mệt mỏi cho Ta, thật bực phiền cho Ta". Rồi bài kệ khởi lên: "Pháp Ta chứng khó khăn, Sao nay Ta nói lên?… Pháp này đi ngược dòng, Vi diệu và thâm sâu." Tâm Ngài hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp. Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư ấy, hoảng hốt nghĩ "thật sự thế giới bị tiêu diệt", liền biến mất khỏi Phạm thiên giới, hiện ra trước Thế Tôn, đắp thượng y một bên vai, quỳ gối phải, chắp tay thỉnh cầu: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp!… Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại, nếu không được nghe Chánh pháp." Vị ấy còn nói kệ ví Thế Tôn như người đứng trên đỉnh núi đá nhìn xuống quần sanh đang bị sanh già áp bức, và thúc giục: "Anh hùng, hãy đứng lên." Thế Tôn vì lòng thương xót chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn và thấy chúng sanh có nhiều căn cơ khác nhau — ít nhiễm bụi đời hay nhiều nhiễm bụi đời, lợi căn hay độn căn, dễ dạy hay khó dạy. Đây là chỗ xuất hiện ví dụ hồ sen nổi tiếng: trong hồ có hoa sen sanh ra và lớn lên dưới nước mà chưa vượt khỏi mặt nước, có hoa vươn tới mặt nước, có hoa đã vươn lên khỏi mặt nước và "không bị nước làm đẫm ướt". Thấy vậy, Ngài đáp lại bằng bài kệ mở cửa bất tử: "Hãy rộng mở cho họ, Cửa trường sanh bất tử, Hỡi những ai có tai…" Phạm thiên Sahampati biết mình đã tạo được cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp, liền đảnh lễ, nhiễu quanh Ngài rồi biến mất. Với Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, ví dụ hồ sen là bài học rất gần: đoàn sinh mỗi em một căn cơ, có em hiểu ngay, có em còn dưới mặt nước — nhưng tất cả đều cùng một loài sen, và cửa Pháp được mở cho tất cả "những ai có tai".

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Thế Tôn mới thành đạo tại Uruvelà — Thế Tôn ở Uruvelà, bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapāla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo (đoạn 1).
  • Tư tưởng khởi lên trong Thiền tịnh: Pháp sâu kín, khó thấy — Trong khi Thiền tịnh độc cư, Thế Tôn nghĩ Pháp Ngài chứng được thật sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu; quần chúng ưa ái dục khó thấy y duyên tánh duyên khởi pháp và Niết-bàn; nếu thuyết mà người khác không hiểu thì thật mệt mỏi, bực phiền cho Ngài (đoạn 2–3).
  • Bài kệ 'Pháp Ta chứng khó khăn' và tâm hướng về thụ động — Những bài kệ vi diệu từ trước chưa từng được nghe khởi lên nơi Thế Tôn; sau đó tâm Ngài hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp (đoạn 4–5).
  • Phạm thiên Sahampati biết tâm tư Thế Tôn và hiện xuống — Phạm thiên Sahampati biết tâm tư Thế Tôn, lo 'thế giới bị tiêu diệt', liền biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn, đắp thượng y một bên vai, quỳ gối phải, chắp tay (đoạn 6–8).
  • Lời thỉnh cầu và bài kệ thỉnh Pháp của Phạm thiên — Phạm thiên bạch: hãy thuyết pháp, có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp; rồi nói kệ về xứ Magadha, về 'mở cửa bất tử', ví Thế Tôn như người đứng trên đỉnh núi đá nhìn xuống quần sanh, và thỉnh 'Anh hùng, hãy đứng lên' (đoạn 8–9).
  • Thế Tôn nhìn đời với Phật nhãn — ví dụ hồ sen — Vì lòng thương xót chúng sanh, Thế Tôn nhìn đời với Phật nhãn, thấy có hạng ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; lợi căn, độn căn; tánh thuận, tánh nghịch; dễ dạy, khó dạy. Ví như trong hồ sen, có hoa còn chìm dưới nước, có hoa vươn tới mặt nước, có hoa vươn khỏi mặt nước không bị nước làm đẫm ướt (đoạn 10–12).
  • Thế Tôn nhận lời: 'Hãy rộng mở cho họ, cửa trường sanh bất tử' — Thấy vậy, Thế Tôn trả lời Phạm thiên Sahampati bằng bài kệ mở cửa bất tử, nguyện thuyết giảng Pháp tốt đẹp vi diệu giữa nhân loại (đoạn 13).
  • Phạm thiên hoan hỷ, đảnh lễ rồi biến mất — Phạm thiên Sahampati biết mình đã tạo cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp, đảnh lễ, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy (đoạn 14).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 6.1, đoạn 1 (sn6.1:1.2)
ekaṁ samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhamūle paṭhamābhisambuddho.
Một thời Thế Tôn ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapāla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
At one time, when he was first awakened, the Buddha was staying in Uruvelā at the root of the goatherd's banyan tree on the bank of the Nerañjarā River.
SN 6.1, đoạn 3 (sn6.1:1.4–1.8)
“adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. … Ahañceva kho pana dhammaṁ deseyyaṁ; pare ca me na ājāneyyuṁ; so mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā”ti.
“Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta.”
“This principle I have discovered is deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute. But people like clinging, they love it and enjoy it. It's hard for them to see this topic; that is, specific conditionality, dependent origination. It's also hard for them to see this topic; that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. And if I were to teach this principle, others might not understand me, which would be wearying and troublesome for me.”
SN 6.1, đoạn 4 — kệ (sn6.1:2.1–3.4)
“Kicchena me adhigataṁ, halaṁ dāni pakāsituṁ; Rāgadosaparetehi, nāyaṁ dhammo susambudho. Paṭisotagāmiṁ nipuṇaṁ, gambhīraṁ duddasaṁ aṇuṁ; Rāgarattā na dakkhanti, tamokhandhena āvuṭā”ti.
Pháp Ta chứng khó khăn,
Sao nay Ta nói lên?
Tham, sân chi phối ai,
Khó chứng ngộ pháp này.
Pháp này đi ngược dòng,
Vi diệu và thâm sâu,
Khó thấy, rất vi tế.
Những ai ưa ái dục,
Bị vô minh bao phủ,
Rất khó thấy pháp này.
“I've struggled hard to realize this, / there's no need to reveal it now! / Those mired in greed and hate / can't really understand this teaching. / It goes against the stream, subtle, / deep, obscure, and very fine. / Those besotted by greed cannot see, / for they're cloaked in a mass of darkness.”
SN 6.1, đoạn 8 (sn6.1:5.5–5.7)
“desetu, bhante, bhagavā dhammaṁ, desetu sugato dhammaṁ. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti. Bhavissanti dhammassa aññātāro”ti.
—Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại, nếu không được nghe Chánh pháp. Nếu được nghe những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp.
“Sir, let the Blessed One teach the Dhamma! Let the Holy One teach the Dhamma! There are beings with little dust in their eyes. They're in decline because they haven't heard the teaching. There will be those who understand the teaching!”
SN 6.1, đoạn 9 — kệ Phạm thiên (sn6.1:7.1–8.4)
“Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, Yathāpi passe janataṁ samantato; … Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma, Satthavāha anaṇa vicara loke; Desassu bhagavā dhammaṁ, Aññātāro bhavissantī”ti.
Như đứng trên tảng đá,
Tại đỉnh một núi cao,
Ðưa mắt nhìn xung quanh,
Quần chúng dưới chân mình.
Cũng vậy, Ngài Thiện Thệ,
Leo lên lầu Chánh pháp,
Biến nhãn, không sầu muộn,
Nhìn xuống đám quần sanh
Bị ưu tư sầu khổ,
Bị sanh già áp bức.
Anh hùng, hãy đứng lên,
Bậc Chiến thắng chiến trường,
Vị Trưởng đoàn lữ khách,
Ðấng Thoát ly nợ nần,
Thế Tôn hãy thuyết pháp,
Bộ hành khắp thế gian,
Có người nhờ được nghe,
Sẽ thâm hiểu diệu nghĩa.
“Standing high on a rocky mountain, you can see the people all around. In just the same way, All-seer, so intelligent, having ascended the Temple of Truth, rid of sorrow, look upon the people swamped with sorrow, overcome by rebirth and old age. Rise, hero! Victor in battle, caravan leader, wander the world free of debt. Let the Blessed One teach the Dhamma! There will be those who understand!”
SN 6.1, đoạn 12 — ví dụ hồ sen (sn6.1:9.3–9.4)
Seyyathāpi nāma uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā … udakā accuggamma ṭhitāni anupalittāni udakena; evameva bhagavā buddhacakkhunā lokaṁ volokento addasa satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye.
Ví như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt. Cũng vậy, Thế Tôn trong khi với Phật nhãn nhìn quanh thế giới, thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng lợi căn, độn căn; có hạng tánh thuận, tánh nghịch; có hạng dễ dạy, khó dạy; một số thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác, và sự nguy hiểm của các hành động lỗi lầm.
It's like a pool with blue water lilies, or pink or white lotuses. Some of them sprout and grow in the water without rising above it, thriving underwater. Some of them sprout and grow in the water reaching the water's surface. And some of them sprout and grow in the water but rise up above the water and stand with no water clinging to them. In the same way, the Buddha saw sentient beings with little dust in their eyes, and some with much dust in their eyes; with keen faculties and with weak faculties, with good qualities and with bad qualities, easy to teach and hard to teach. …
SN 6.1, đoạn 13 — kệ đáp của Thế Tôn (sn6.1:10.1–10.4)
“Apārutā tesaṁ amatassa dvārā, Ye sotavanto pamuñcantu saddhaṁ; Vihiṁsasaññī paguṇaṁ na bhāsiṁ, Dhammaṁ paṇītaṁ manujesu brahme”ti.
Hãy rộng mở cho họ,
Cửa trường sanh bất tử,
Hỡi những ai có tai,
Hãy giải thoát tà tín,
Ý thức sự nguy hại,
Ta sẽ có thuyết giảng
Pháp tốt đẹp vi diệu,
Giữa nhân loại, chúng sanh,
Ôi Phạm thiên Sahampati!
“Flung open are the doors to freedom from death! Let those with ears to hear commit to faith. Thinking it would be troublesome, Divinity, I did not teach the sophisticated, sublime Dhamma among mankind.”
SN 6.1, đoạn 14 (sn6.1:11.1)
Atha kho brahmā sahampati “katāvakāso khomhi bhagavatā dhammadesanāyā”ti bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyīti.
Rồi Phạm thiên Sahampati biết được: “Ta đã tạo ra cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp”, nên đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ ấy.
Then the divinity Sahampati, knowing that his request for the Buddha to teach the Dhamma had been granted, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
BrahmāyācanaPhạm thiên thỉnh cầubrahmā = Phạm thiên; yācana = sự cầu xin, thỉnh cầu. Tên kinh.
SahampatiSahampati — tên riêng của vị Phạm thiên thỉnh Phật thuyết phápBản Việt giữ nguyên "Phạm thiên Sahampati".
paṭhamābhisambuddhokhi Ngài mới thành đạopaṭhama = đầu tiên; abhisambuddha = đã hoàn toàn giác ngộ.
dhammo gambhīro duddasopháp sâu kín, khó thấygambhīra = sâu thẳm; duddasa = khó thấy.
atakkāvacarosiêu lý luận, vượt ngoài phạm vi suy luậna-takka-avacara: không thuộc lãnh vực của suy tầm.
idappaccayatāpaṭiccasamuppādoy duyên tánh duyên khởi pháp (lý duyên khởi)idappaccayatā = tánh y duyên; paṭiccasamuppāda = duyên khởi.
sabbasaṅkhārasamathotất cả hành là tịch tịnhsaṅkhāra = hành; samatha = sự lắng dịu.
sabbūpadhipaṭinissaggotất cả sanh y được từ bỏupadhi = sanh y, nền tảng của tái sanh.
taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn
appossukkatāya cittaṁ namatitâm hướng về thụ động (không muốn thuyết pháp)appossukkatā = trạng thái ít bận tâm, thụ động.
apparajakkhajātikāhạng chúng sanh ít nhiễm bụi trầnappa = ít; rajakkha = bụi (trong mắt). Trái nghĩa: mahārajakkha = nhiều nhiễm bụi đời.
tikkhindriya / mudindriyalợi căn / độn cănindriya = căn, khả năng.
suviññāpaya / duviññāpayadễ dạy / khó dạy
buddhacakkhuPhật nhãn — mắt của một vị Phật
samantacakkhuBiến nhãn — bậc có mắt nhìn khắp tất cảMột danh hiệu của Đức Phật, xuất hiện trong kệ của Phạm thiên.
amatassa dvāraṁcửa bất tửamata = bất tử, đồng nghĩa Niết-bàn. Bản Việt: "Cửa trường sanh bất tử".
uppala / paduma / puṇḍarīkasen xanh / sen hồng / sen trắngBa loại hoa trong ví dụ hồ sen.
anupalittāni udakenakhông bị nước làm đẫm ướtHình ảnh hoa sen vươn khỏi mặt nước, không dính nước.
satthavāhaVị Trưởng đoàn lữ kháchNgười dẫn đầu đoàn thương buôn — ẩn dụ bậc dẫn đường.
padakkhiṇanhiễu quanh theo chiều bên phải, thân bên hữu hướng về NgàiNghi thức tỏ lòng tôn kính.

Đây là chỗ ít người để ý nhất trong cuộc đời Đức Phật. Vừa chứng ngộ xong, Ngài không lập tức đi thuyết pháp. Ngài nghĩ pháp này “sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận”, còn quần chúng thì ưa ái dục.

Và lý do Ngài ngần ngại rất người. Nếu thuyết mà không ai hiểu thì “thật mệt mỏi cho Ta, thật bực phiền cho Ta”. Kinh ghi lại câu ấy nguyên vẹn, không tô vẽ cho đẹp.

Rồi Phạm thiên Sahampati thỉnh cầu. Lời thỉnh có một câu đáng nhớ: “Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời — nếu không được nghe pháp, họ sẽ bị nguy hại.” Không phải xin cho đám đông, mà xin cho thiểu số ấy.

Rồi Đức Phật quán thế gian — và đây là ví dụ đẹp nhất bài kinh. Trong hồ sen có ba hạng: sen sanh dưới nước, lớn dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước; sen vươn tới ngang mặt nước; và sen vươn khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt.

Ví dụ ấy không nói người này hơn người kia. Nó nói cùng một hồ mà có nhiều mức: có hạng ít nhiễm bụi đời, có hạng nhiều; lợi căn, độn căn; dễ dạy, khó dạy. Thấy vậy Ngài mới nhận lời.

Chỗ chúng tôi phải ghi rõ, và đây là chỗ quan trọng. Dòng kệ đáp của Thế Tôn (sn6.1:10.3) trong Pāli là “na bhāsiṁ” — thì quá khứ phủ định: vì nghĩ là phiền nhiễu nên Ta ĐÃ KHÔNG nói Pháp vi diệu giữa nhân loại. Bản Anh cũng vậy. Bản Hoà thượng Minh Châu dịch theo hướng khẳng định ở tương lai: “Ta sẽ có thuyết giảng”.

Khác biệt ấy đổi ý câu. Theo Pāli, đó là câu Ngài giải thích vì sao trước đó Ngài im lặng. Theo bản Việt, nó thành lời nhận sẽ thuyết pháp. Chúng tôi giữ nguyên cả ba bản và ghi chú. Xin lưu ý: lời nhận thuyết pháp nằm ở hành động kế đó — Ngài bắt đầu chuyển Pháp luânkhông nằm trong dòng kệ này.

Câu mở cửa thì cả ba bản đều như nhau. “Hãy rộng mở cho họ cửa trường sanh bất tử; hỡi những ai có tai, hãy giải thoát tà tín.” “Những ai có tai”không phải ai cũng, mà ai chịu nghe.

  • “Đức Phật thành đạo là đi thuyết pháp ngay.” Kinh ghi tâm Ngài hướng về im lặng trước đã.
  • “Ba hạng sen là ba hạng người tốt xấu.”ba mức trong cùng một hồ, không phải phân loại tốt xấu.
  • “Phạm thiên xin cho tất cả chúng sinh.” Lời thỉnh nêu rõ: những người ít nhiễm bụi đời.
  • Ngành Oanh. Hồ sen ba hạng — vẽ ra giấy, ba mức nước.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao Ngài ngần ngại? Rồi đọc câu “thật mệt mỏi cho Ta”.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Câu “những ai có tai” — bàn về dạy cho người chịu nghe. Đọc kèm DN 12.
  • Vì sao Đức Phật ngần ngại thuyết pháp?
  • Ví dụ hồ sen nói gì?
  • Phạm thiên xin cho ai?
  • Lời nhận thuyết pháp nằm ở đâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.