G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 5.1
Tương Ưng Tỳ-Kheo-Ni · Ta Biết Ngươi, Ác Ma

Kinh Tỳ-Kheo-Ni Āḷavikā

Āḷavikā Sutta — SN 5.1 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Tỳ-Kheo-Ni Āḷavikā

Đây là bài mở đầu Tương Ưng Tỳ-Kheo-Ni — cả một chương gồm lời của các vị ni đối đáp với Ác ma. Hắn tới gieo một câu rất độc: đời này không có lối thoát, vậy tu làm gì. Vị ni không cãi dài.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Chương V — Tương Ưng Tỳ-Kheo-Ni, bài mở đầu
  • Nơi chốnrừng Andha (Andhavana) gần Sāvatthī
  • Đặc điểmĐức Phật không có mặt trong cuộc đối đáp
  • Trên trang này — bài thứ hai ghi tiếng nói của một vị ni, sau Kệ Ni Ubbirī

Đây là bài kinh mở đầu Chương V — Tương Ưng Tỷ-Kheo-Ni của Tương Ưng Bộ, ghi lại cuộc đối đáp ngắn giữa Ác ma (Māra) và Tỳ-kheo-ni Āḷavikā. Bối cảnh rất giản dị: Thế Tôn trú tại Sāvatthi, rừng Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika. Buổi sáng, Tỳ-kheo-ni Āḷavikā đắp y, cầm y bát vào thành Sāvatthi khất thực. Khất thực xong, sau buổi ăn, trên đường trở về, vị ni đi vào rừng Andha (Andhavana) để tìm sự yên tĩnh viễn ly (viveka) — tức là tìm chỗ vắng để hành thiền. Ác ma xuất hiện, với ý muốn làm cho vị ni "run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược", muốn nàng từ bỏ hạnh viễn ly. Ác ma nói kệ gieo nghi ngờ tận gốc: đời này không có xuất ly (nissaraṇa), vậy sống viễn ly để làm gì, chi bằng hưởng trọn dục lạc kẻo về sau hối tiếc. Đây đúng là lối cám dỗ quen thuộc: trước hết phủ nhận có con đường giải thoát, sau đó mời gọi trở về với dục. Vị ni không hoảng, cũng không tranh cãi vội. Nàng lần lượt khởi lên hai ý nghĩ: "Ai nói bài kệ này, người hay không phải người?", rồi nhận ra: "Chính Ác ma muốn làm ta run sợ… nên đã nói bài kệ đó". Chính sự tỉnh giác nhận diện được ma này là điểm then chốt của bài kinh. Sau khi biết rõ, nàng đáp lại bằng kệ: ở đời CÓ xuất ly, và điều ấy nàng đã tự chứng bằng trí tuệ; còn Ác ma — "bà con của phóng dật" — thì không thể biết được pháp ấy. Nàng kết bằng hình ảnh rất mạnh: dục như gươm giáo, các uẩn là đài chém; điều Ác ma gọi là dục lạc thì đối với nàng là bất lạc. Ác ma biết mình đã bị nhận ra, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ. Bài kinh nêu gương một vị ni thắng ma không bằng thần thông mà bằng chánh niệm và trí tuệ tự chứng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: khất thực rồi vào rừng Andha tìm viễn ly — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana. Tỳ-kheo-ni Āḷavikā buổi sáng đắp y cầm bát vào Sāvatthi khất thực; sau buổi ăn, trên đường trở về, đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly. Ác ma đi đến, muốn làm nàng run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ viễn ly. (Đoạn 1.1–1.5)
  • 2. Kệ cám dỗ của Ác ma — Ác ma nói kệ: đời không có xuất ly, sống viễn ly làm gì, hãy hưởng trọn dục lạc, chớ hối hận về sau. (Đoạn 2.1–2.4)
  • 3. Vị ni suy xét và nhận diện Ác ma — Nàng khởi ý: "Ai đã nói bài kệ này? Người hay không phải người?"; rồi biết rõ: "Chính Ác ma… nên đã nói lên bài kệ đó". Biết được "Đấy là Ác ma", nàng nói kệ đáp lại. (Đoạn 3.1–3.5)
  • 4. Kệ đáp: có xuất ly, tự chứng bằng trí tuệ — Ở đời có xuất ly, nhờ trí tuệ ta chứng; này Bà con phóng dật, biết sao được pháp ấy. (Đoạn 4.1–4.4)
  • 5. Kệ đáp: dục như kiếm thương, các uẩn là đài chém — Ái dục như kiếm thương, đài chém đầu các uẩn; điều Ông gọi dục lạc, ta gọi là bất lạc. (Đoạn 5.1–5.4)
  • 6. Ác ma thất vọng, biến mất — Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Alavikà đã biết ta", nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy. (Đoạn 6.1)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 5.1 (đoạn 1.2–1.4)
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho āḷavikā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvesi. Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena andhavanaṁ tenupasaṅkami vivekatthinī.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika. Tỷ-kheo-ni Alavikà, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Khất thực ở Sāvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery. Then the nun Āḷavikā robed up in the morning and, taking her bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. She wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on her return from almsround, she went to the Dark Forest seeking seclusion.
SN 5.1 (đoạn 1.5)
Atha kho māro pāpimā āḷavikāya bhikkhuniyā bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo vivekamhā cāvetukāmo yena āḷavikā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āḷavikaṁ bhikkhuniṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỷ-kheo-ni Alavikà và nói lên bài kệ:
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Āḷavikā feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from seclusion, went up to her and addressed her in verse:
SN 5.1 (đoạn 2.1–2.4) — kệ của Ác ma
Natthi nissaraṇaṁ loke,
kiṁ vivekena kāhasi;
Bhuñjassu kāmaratiyo,
māhu pacchānutāpinī”ti.
Ðời không có xuất ly,
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau.
“There's no escape in the world, so what will seclusion do for you? Enjoy erotic delights; don't regret it later.”
SN 5.1 (đoạn 3.2)
“ko nu khvāyaṁ manusso vā amanusso vā gāthaṁ bhāsatī”ti?
"Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?"
“Who's speaking this verse, a human or a non-human?”
SN 5.1 (đoạn 3.4)
“māro kho ayaṁ pāpimā mama bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo vivekamhā cāvetukāmo gāthaṁ bhāsatī”ti.
"Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó".
“This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from seclusion!”
SN 5.1 (đoạn 4.1–4.4) — kệ đáp thứ nhất
“Atthi nissaraṇaṁ loke,
paññāya me suphussitaṁ;
Pamattabandhu pāpima,
na tvaṁ jānāsi taṁ padaṁ.
Ở đời có xuất ly,
Nhờ trí tuệ, ta chứng.
Này Bà con phóng dật,
Biết sao được pháp ấy?
“There is an escape in the world, and I've personally experienced it with wisdom. O Wicked One, kinsman of the negligent, you don't know that state.
SN 5.1 (đoạn 5.1–5.4) — kệ đáp thứ hai
Sattisūlūpamā kāmā,
khandhāsaṁ adhikuṭṭanā;
Yaṁ tvaṁ kāmaratiṁ brūsi,
arati mayha sā ahū”ti.
Ái dục như kiếm thương,
Ðài chém đầu các uẩn.
Ðiều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.
Sensual pleasures are like swords and spears; the aggregates are their chopping block. What you call erotic delight is now no delight for me.”
SN 5.1 (đoạn 6.1)
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ āḷavikā bhikkhunī”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Alavikà đã biết ta", nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Āḷavikā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
nissaraṇaxuất ly, sự thoát ra khỏi (khổ, khỏi thế gian)Ác ma nói "natthi nissaraṇaṁ loke" (đời không có xuất ly); vị ni đáp "atthi" (có).
vivekaviễn ly, sống yên tĩnh xa lìavivekatthinī = người tìm cầu viễn ly; Ác ma muốn làm nàng "cāvetu" (rơi rụng) khỏi viveka.
bhikkhunīTỳ-kheo-ni, vị nữ tu xuất gia
Māra pāpimāÁc ma, kẻ Ác — biểu tượng của tham dục, phóng dật, cái chết
pamattabandhubà con của phóng dật (kẻ dể duôi)danh xưng thường dùng để gọi Ác ma.
kāma / kāmaratidục, dục lạc / sự ưa thích dục lạc
khandhauẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)trong kệ: các uẩn ví như đài chém (adhikuṭṭana) mà dục là gươm giáo.
paññātrí tuệ"paññāya me suphussitaṁ" — chính nhờ trí tuệ mà tự thân chứng đạt.
Andhavanarừng Andha (rừng Tối), khu rừng gần Sāvatthi nơi các Tỳ-kheo-ni thường vào hành thiền
lomahaṁsalông tóc dựng ngược (kinh sợ)
aratibất lạc, không ưa thích

Lối cám dỗ của Ác ma rất bài bản, và rất quen. Hắn không mời gọi trước. Hắn phủ nhận trước: “Đời không có xuất ly, sống viễn ly làm gì?” Bỏ đích đến đi, thì con đường tự thành vô nghĩa. Rồi mới tới lời mời: “Hãy trọn hưởng dục lạc, chớ hối hận về sau.”

Bà không đáp ngay — và chỗ ấy mới là bài học. Kinh ghi bà khởi hai ý nghĩ: trước là “Ai nói bài kệ này, người hay không phải người?”, sau mới nhận ra: “Chính Ác ma… nên đã nói lên bài kệ đó.” Bà dừng lại để xem lời ấy từ đâu tới, trước khi xem lời ấy nói gì.

Đây là chỗ Ác ma thua. Kinh nói rõ hắn muốn làm bà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược. Nhưng bà không sợ, cũng không vội tranh cãi. Chỉ riêng việc gọi được tên hắn đã đủ — cuối bài, hắn biết “Tỳ-kheo-ni Āḷavikā đã biết ta” rồi biến mất tại chỗ.

Câu đáp của bà đặt nền trên chỗ vững nhất. “Ở đời có xuất ly, nhờ trí tuệ ta chứng.”không viện dẫn kinh sách, không viện dẫn thầy tổ — bà nói chính mình đã chứng. Đối với một lời phủ nhận, chỉ có kinh nghiệm tự thân mới đáp được.

Rồi bà gọi hắn bằng một cái tên rất sắc. “Này Bà con của phóng dật, biết sao được pháp ấy?”pamattabandhu. Ác ma là bà con của sự buông lung. Đó không phải lời chửi; đó là chỉ đúng chỗ hắn ở.

Bài kệ cuối lật ngược lời mời. Hắn gọi là dục lạc; bà đáp: “Ái dục như kiếm thương, đài chém đầu các uẩn. Điều Ông gọi dục lạc, ta gọi là bất lạc.” Bà không nói dục lạc là sai — bà nói với bà nó không còn là lạc. Hai câu ấy khác nhau.

Vì sao nên có bài này trên trang. Cả chương Tương Ưng Tỳ-Kheo-Ni theo một khuôn: Ác ma tới, vị ni nhận ra, đáp bằng kệ, hắn biến mất. Không vị nào cầu cứu Đức Phật. Các vị tự giải quyết — và kinh ghi lại đúng như vậy.

  • “Ác ma là quỷ dữ bên ngoài.” Tên hắn trong kinh là bà con của phóng dật — chỗ hắn ở là sự buông lung.
  • “Phải tranh luận cho thắng.”nhận ra trước, đáp sau, và chỉ đáp hai bài kệ.
  • “Kinh dạy dục lạc là xấu.” Bà nói với bà nó không còn là lạc — không phán chung.
  • Ngành Oanh. Một ý thôi: khi ai nói điều làm em nản, hãy hỏi xem lời ấy từ đâu tới.
  • Ngành Thiếu. Lối cám dỗ phủ nhận đích đến trước — hỏi các em có gặp lối nói ấy chưa.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Cả chương các vị ni tự đối đáp, không cầu cứu. Đọc kèm Kệ Ni Ubbirī.
  • Vì sao Ác ma phủ nhận trước rồi mới mời gọi?
  • Bà làm gì trước khi trả lời?
  • Vì sao bà nói nhờ trí tuệ ta chứng mà không dẫn kinh sách?
  • Bà con của phóng dật — cái tên ấy nói gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.