G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 2.26
Tương Ưng Thiên Tử · Trong Thân Một Tầm

Kinh Rohitassa

Rohitassa Sutta — SN 2.26 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Rohitassa

Thiên tử Rohitassa kể chuyện đời trước: ông là ẩn sĩ có thần thông đi giữa hư không, bước một bước từ biển Đông sang biển Tây. Ông đi suốt trăm năm để tìm tận cùng thế giới — và chết giữa đường.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Thiên Tử (SN 2), bài 26
  • Nơi chốn — Sāvatthī
  • Câu nổi tiếngthế giới nằm trong tấm thân dài một tầm
  • Lặp lại — cùng lời dạy này còn ở AN 4.45

Kinh Rohitassa là một bài kinh rất ngắn nhưng chứa một lời dạy then chốt của Đức Phật về chỗ phải tìm cầu sự giải thoát. Tại Xá-vệ, Thiên tử Rohitassa đến bạch hỏi Thế Tôn: nơi nào không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi, thì có thể dùng bộ hành (đi bộ, di chuyển) mà biết được, thấy được hay đạt được sự tận cùng của thế giới chăng? Đức Phật trả lời dứt khoát: không thể với bộ hành mà biết, thấy hay đạt đến sự tận cùng của thế giới. Rohitassa tán thán lời dạy ấy là "khéo nói", rồi kể lại kinh nghiệm của chính mình: thuở trước ông là vị tiên nhân Rohita con của Bhoja, có thần thông, đi được giữa hư không; tốc lực mau lẹ như mũi tên của người thợ bắn cung lão luyện bắn vượt qua bóng cây tala; bước chân dài có thể bước từ biển phía Đông qua biển phía Tây. Ông khởi ước muốn "với bộ hành, ta có thể đạt đến sự tận cùng của thế giới". Nhưng dù với tốc lực và bước đi như vậy, dù đi suốt trăm năm là tuổi thọ thường tình — bản Việt diễn đạt là “không dừng để ăn, uống, đại tiểu tiện, ngủ nghỉ”, còn Pāli (aññatreva asitapītakhāyitasāyita…) và bản Anh hiểu ngược lại: chỉ dừng đúng những lúc ăn uống, vệ sinh và ngủ; xem ghi chú, ông vẫn mệnh chung giữa đường mà không đạt tới tận cùng thế giới. Đức Phật dạy tiếp: Ngài cũng không nói rằng chưa đạt đến sự tận cùng của thế giới mà lại chấm dứt được khổ đau — nguyên văn bản Việt: “Ta cũng không nói rằng không đạt được sự tận cùng của thế giới thời chấm dứt cuộc khổ đau.” (Pāli: na … appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi.) Và Ngài tuyên bố: "chính trong cái thân thể dài một tầm có tưởng, có ý này, Ta tuyên bố thế giới, nguyên nhân của thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới." Bài kệ kết lại: bộ hành không bao giờ đạt được thế giới tận, mà bậc trí hiểu rõ thế gian, viên thành phạm hạnh, với tâm định tĩnh biết được thế giới tận, thì không còn ước vọng đời này lẫn đời sau. Với Huynh trưởng và đoàn sinh: bài kinh nhắc rằng khổ và sự chấm dứt khổ đều nằm ngay nơi thân tâm này — không phải ở một nơi chốn xa xôi nào để chạy tới.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi và câu hỏi của Thiên tử Rohitassa — Tại Sāvatthi; đứng một bên, Thiên tử Rohitassa hỏi: nơi không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi — có thể với bộ hành mà biết, thấy, đạt được sự tận cùng của thế giới chăng? Thế Tôn đáp: không thể.
  • 2. Rohitassa tán thán lời khéo nói của Thế Tôn — "Thật vi diệu thay… Thật hy hữu thay…" — lặp lại nguyên lời dạy của Thế Tôn.
  • 3. Chuyện đời trước: tiên nhân Rohita con của Bhoja — Có thần thông, đi giữa hư không; tốc lực như mũi tên của thợ bắn cung lão luyện; bước dài từ biển Đông qua biển Tây; khởi ước muốn đi đến tận cùng thế giới; đi suốt trăm năm không ăn uống ngủ nghỉ mà vẫn mệnh chung giữa đường, không đạt tới.
  • 4. Tán thán lần thứ hai — Rohitassa lại nói "Thật là vi diệu… Thật là hy hữu…" và lặp lại lời dạy của Thế Tôn.
  • 5. Lời dạy cốt tủy: thế giới nằm trong thân một tầm — Thế Tôn: không đạt được sự tận cùng thế giới thì cũng không chấm dứt được khổ; và chính trong thân thể dài một tầm có tưởng, có ý này, Ngài tuyên bố thế giới, nguyên nhân, sự đoạn diệt và con đường đưa đến đoạn diệt thế giới.
  • 6. Bài kệ kết — Bộ hành không bao giờ đạt được thế giới tận; bậc Thế gian giải, Thiện tuệ, phạm hạnh viên thành, tâm định tĩnh biết được thế giới tận, không ước vọng đời này, không ước vọng đời sau.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 2.26, đoạn 2 (Vi-n 2)
Yattha nu kho, bhante, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, sakkā nu kho so, bhante, gamanena lokassa anto ñātuṁ vā daṭṭhuṁ vā pāpuṇituṁ vāti?
Bạch Thế Tôn, tại chỗ nào không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi, làm sao, bạch Thế Tôn, với bộ hành, có thể biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới?
Sir, is it possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there's no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn?
SN 2.26, đoạn 3 (Vi-n 3)
Yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmīti.
Này Hiền giả, tại chỗ nào không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi, Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể với bộ hành, biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới.
Reverend, I say it's not possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there's no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn.
SN 2.26, đoạn 5 (Vi-n 5)
Bhūtapubbāhaṁ, bhante, rohitasso nāma isi ahosiṁ bhojaputto iddhimā vehāsaṅgamo. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpo javo ahosi; seyyathāpi nāma daḷhadhammā dhanuggaho susikkhito katahattho katayoggo katūpāsano lahukena asanena appakasireneva tiriyaṁ tālacchāyaṁ atipāteyya.
Bạch Thế Tôn, thuở trước, con tên là Rohita con của Bhoja, có thần thông, có thể đi giữa hư không. Bạch Thế Tôn, tốc lực con mau lẹ cho đến con có thể bay, như người thợ bắn cung lão luyện, khéo tập, khéo luyện, thuần thục, thiện xảo, với một cây cung chắc mạnh không gì khó khăn, có thể bắn một mũi tên nhẹ bay vượt qua bóng tối của cây tala.
Once upon a time, I was a seer named Rohitassa, son of the benefactors. I was a sky-walker with psychic powers. I was as fast as a light arrow easily shot across the shadow of a palm tree by a well-trained expert archer with a strong bow.
SN 2.26, đoạn 6 (Vi-n 6)
Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpo padavītihāro ahosi; seyyathāpi nāma puratthimā samuddā pacchimo samuddo. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpaṁ icchāgataṁ uppajji: ‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti.
Và bạch Thế Tôn, bước đi của con dài cho đến con có thể bước từ biển phía Ðông qua biển phía Tây. Và ở nơi con, bạch Thế Tôn, khởi lên sự ước muốn như sau: "Với bộ hành, ta có thể đạt đến được sự tận cùng của thế giới".
My stride was such that it could span from the eastern ocean to the western ocean. This wish came to me: 'I will reach the end of the world by traveling.'
SN 2.26, đoạn 7 (Vi-n 7)
So khvāhaṁ, bhante, evarūpena javena samannāgato evarūpena ca padavītihārena, aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarāva kālaṅkato.
Và bạch Thế Tôn, dầu cho tốc lực của con mau đến như vậy, và dầu cho con có bước dài đến như vậy, và dầu cho con không có dừng để ăn, hay uống, hay nhai, hay nếm, dầu cho con không có đại tiện, tiểu tiện, dầu cho con không ngủ, không bị mệt nhọc, không trừ cấu uế, dầu cho trăm năm là tuổi thọ thường tình, dầu cho trăm năm là mạng sống thường tình, tuy con đi hơn trăm năm và bị mệnh chung, con cũng không thể đạt đến sự tận cùng của thế giới.
Having such speed and stride, I traveled for my whole lifespan of a hundred years—pausing only to eat and drink, go to the toilet, and sleep to dispel weariness—and I passed away along the way, never reaching the end of the world.
SN 2.26, đoạn 9 (Vi-n 9) — đoạn cốt tủy, hay được trích nhất
Na kho panāhaṁ, āvuso, appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi. Api ca khvāhaṁ, āvuso, imasmiṁyeva byāmamatte kaḷevare sasaññimhi samanake lokañca paññapemi lokasamudayañca lokanirodhañca lokanirodhagāminiñca paṭipadanti.
Này Hiền giả, nhưng Ta cũng không nói rằng không đạt được sự tận cùng của thế giới thời chấm dứt cuộc khổ đau. Này Hiền giả, chính trong cái thân thể dài một tầm có tưởng, có ý này, Ta tuyên bố thế giới, nguyên nhân của thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới.
But Reverend, I also say there's no making an end of suffering without reaching the end of the world. For it is in this fathom-long carcass with its perception and mind that I describe the world, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.
SN 2.26, đoạn 10 (Vi-n 10) — bài kệ, phần đầu
Gamanena na pattabbo, lokassanto kudācanaṁ; Na ca appatvā lokantaṁ, dukkhā atthi pamocanaṁ.
Bộ hành không bao giờ / Ðạt được thế giới tận, / Không đạt thế giới tận, / Không thể thoát khỏi khổ.
The end of the world can never be reached by traveling. But without reaching the end of the world, there's no release from suffering.
SN 2.26, đoạn 10 (Vi-n 10) — bài kệ, phần cuối
Tasmā have lokavidū sumedho, Lokantagū vusitabrahmacariyo; Lokassa antaṁ samitāvi ñatvā, Nāsīsati lokamimaṁ parañcāti.
Do vậy, bậc Hiền thiện, / Thế gian giải, Thiện tuệ, / Ðạt đến thế giới tận, / Phạm hạnh được viên thành. / Với tâm tư định tĩnh, / Biết được thế giới tận, / Không ước vọng đời này, / Không ước vọng đời sau.
So an intelligent person, understanding the world, has completed the spiritual journey and gone to the end of the world. Assuaged, knowing the end of the world, they do not hope for this world or the next.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
RohitassaTên vị Thiên tử; bản Việt của HT. Thích Minh Châu ghi tên kinh là "Rohita" và gọi "Thiên tử Rohitassa", đời trước là tiên nhân "Rohita con của Bhoja"Pāli: rohitasso… isi… bhojaputto
devaputtaThiên tử — vị trời (con trai chư thiên)
lokassa antaSự tận cùng của thế giới / thế giới tận
gamanaSự đi, bộ hành (di chuyển bằng thân)
byāmamatta kaḷevaraCái thân thể dài một tầm (một sải tay)Bản Anh: "this fathom-long carcass"
saññāTưởng (tri giác) — trong "sasaññimhi": có tưởng
manoÝ, tâm ý — trong "samanake": có ý
loka, lokasamudaya, lokanirodha, lokanirodhagāminī paṭipadāThế giới, nguyên nhân của thế giới, sự đoạn diệt thế giới, con đường đưa đến sự đoạn diệt thế giớiCấu trúc song hành với Bốn Sự Thật Cao Thượng
dukkhassa antakiriyāSự chấm dứt khổ đau
iddhimā vehāsaṅgamoCó thần thông, đi được giữa hư không
brahmacariya (vusitabrahmacariyo)Phạm hạnh (đã viên thành phạm hạnh)
lokavidūThế gian giải — bậc hiểu rõ thế gian
sumedhaThiện tuệ — bậc có trí tuệ tốt đẹp
samitāviBậc đã lắng dịu, tịch tịnh; bản Việt dịch thoát là "với tâm tư định tĩnh"
āvusoNày Hiền giả — cách xưng hô Đức Phật dùng với vị thiên tử ở đây

Câu hỏi được đặt rất nghiêm túc. Rohitassa hỏi: chỗ nào không sanh, không già, không chếtcó thể đi bộ mà tới được không? Ông không hỏi vu vơ; ông đã thử rồi.

Câu chuyện đời trước của ông làm cả bài kinh có sức nặng. Tốc lực nhanh như mũi tên người thợ bắn cung lão luyện bắn vượt qua bóng cây tala. Bước chân từ biển Đông sang biển Tây. Ông đi trọn trăm nămvà vẫn không tới.

Xin thưa một chỗ hai bản hiểu ngược nhau. Bản Hoà thượng Minh Châu dịch ông "không dừng để ăn, uống, đại tiểu tiện, ngủ nghỉ". Còn Pāli (aññatreva asitapītakhāyitasāyita…) và bản Anh hiểu ngược lại: ông chỉ dừng đúng những lúc ấy. Chúng tôi ghi cả hai, không chọn một bên rồi im lặng.

Đức Phật trả lời gọn: không thể. Không thể với bộ hành mà biết được, thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới. Không phải vì đi chưa đủ nhanh — mà vì đi không phải là cách.

Rồi tới câu dễ đọc ngược nhất trong bài. Ngài nói tiếp: Ngài cũng không nói rằng chưa đạt đến tận cùng thế giới mà lại chấm dứt được khổ đau. Nguyên văn bản Việt: "Ta cũng không nói rằng không đạt được sự tận cùng của thế giới thời chấm dứt cuộc khổ đau." Pāli: na … appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi.

Nghĩa là gì? Vẫn phải tới tận cùng thế giới — chỉ là không tới bằng chân. Ngài không hạ thấp mục tiêu; Ngài đổi chỗ tìm.

Và câu kết là chỗ cả bài dồn về. "Chính trong cái thân thể dài một tầm có tưởng, có ý này, Ta tuyên bố thế giới, nguyên nhân của thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới."

Chữ "một tầm" đáng để ý. Đó là sải tay của chính mìnhđơn vị đo mà ai cũng mang theo. Người vừa nghe chuyện đi từ biển Đông sang biển Tây, giờ được chỉ về một khoảng bằng sải tay.

Bài kinh này rất dùng được. Nó trả lời câu hỏi "phải đi đâu, phải tới chùa nào, phải gặp ai" bằng một câu: chỗ ấy không ở xa. Nhưng không phải theo nghĩa dễ dãivẫn phải tới, chỉ là tới bằng cách khác.

  • “Vậy khỏi cần đạt tới tận cùng thế giới.” Kinh nói vẫn phải đạt tới — chỉ không bằng chân.
  • “Thế giới ở trong tâm nên mọi thứ là tưởng tượng.” Kinh nói chỗ tìm ở đây, không nói thế giới không có.
  • “Thần thông giúp giải thoát.” Rohitassa có thần thông bậc nhấtchết giữa đường.
  • Ngành Oanh. Cho các em giang tay đo một tầm. Thế giới nằm trong khoảng này.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao đi nhanh cỡ nào cũng không tới?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Câu phủ định kép — đọc kỹ kẻo dạy ngược. Đọc kèm DN 9.
  • Rohitassa đã thử cách nào, và kết quả ra sao?
  • Vì sao không thể tới bằng bộ hành?
  • Một tầm là bao xa?
  • Câu phủ định kép ấy nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.