G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 9
Trường Bộ · Những Câu Ngài Không Trả Lời

Kinh Bố-Sá-Bà-Lâu

Poṭṭhapāda Sutta — DN 9 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Bố-Sá-Bà-Lâu

Du sĩ Poṭṭhapāda hỏi về sự diệt tận các tưởng. Nhưng bài kinh nổi tiếng vì phần sau: khi ông hỏi mười câu siêu hình — thế giới thường hay vô thường, Như Lai có tồn tại sau khi chết không — Đức Phật nói thẳng: “Ta không trả lời”, và giải thích vì sao.

  • Bộ — Trường Bộ, bài 9
  • Nơi chốnhội thảo trường trong vườn hoàng hậu Mallikā, Sāvatthī
  • Người hỏi — du sĩ Poṭṭhapāda, cùng khoảng ba trăm du sĩ
  • Kết — Poṭṭhapāda quy y; Citta Hatthisāriputta xuất gia và chứng A-La-Hán

Kinh Bố-sá-bà-lâu là bài kinh thứ 9 của Trường Bộ, Thế Tôn giảng tại Sāvatthi, trong vườn hoàng hậu Mallikā — nơi các du sĩ ngoại đạo thường tụ họp bàn luận. Du sĩ Poṭṭhapāda hỏi Thế Tôn về "sự diệt tận các tăng thượng tưởng" (abhisaññānirodha), vấn đề mà các Sa-môn, Bà-la-môn thời ấy giải thích rất khác nhau: có vị nói tưởng sinh diệt không nhân không duyên, có vị nói tưởng chính là tự ngã đến rồi đi, có vị nói do thần thông của người khác hay của chư thiên kéo tưởng vào ra. Thế Tôn bác bỏ ngay quan điểm "không nhân, không duyên", dạy rằng chính DO SỰ HỌC TẬP (sikkhā) mà một loại tưởng sanh và một loại tưởng diệt. Rồi Ngài trình bày con đường học tập ấy theo thứ lớp giống kinh Sa-môn quả: giới hạnh đầy đủ, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, xả ly năm triền cái, rồi lần lượt bốn thiền và ba Vô sắc xứ (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ). Ở mỗi bậc, tưởng cũ diệt và tưởng mới vi diệu hơn khởi lên — đây là điểm rất dễ dạy cho đoàn sinh: tâm thức được huấn luyện, không phải may rủi. Cuối cùng, hành giả đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến "tưởng tột đỉnh" (saññagga), rồi thôi không suy tưởng, và cảm thọ sự diệt tận. Poṭṭhapāda hỏi tiếp: tưởng có phải là tự ngã không? Thế Tôn lần lượt nêu ba cách hiểu tự ngã của ông (thô phù, do ý sở thành, vô sắc) và mỗi lần đều chỉ ra: tưởng khác, tự ngã khác — vì tự ngã ấy vẫn đứng yên mà tưởng thì cứ sanh rồi diệt. Khi Poṭṭhapāda quay sang mười câu hỏi siêu hình (thế giới thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên, sinh mạng và thân thể một hay khác, Như Lai có tồn tại sau khi chết hay không...), Thế Tôn đều nói "Ta không trả lời", vì những câu ấy không thuộc đích giải thoát, không đưa đến yểm ly, ly tham, tịch diệt, giác ngộ, Niết-bàn. Điều Ngài trả lời dứt khoát là Bốn Thánh Đế. Vài ngày sau, Poṭṭhapāda cùng Citta Hatthisāriputta trở lại. Thế Tôn phân biệt pháp "không dứt khoát" và pháp "dứt khoát", bác bỏ chủ trương "sau khi chết tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh" bằng ví dụ người yêu cô gái đẹp mà không biết mặt và người xây thang lên cái lầu chưa từng thấy. Rồi Ngài dạy ba loại ngã chấp và ví dụ sữa - lạc - sanh tô - thục tô - đề hồ, kết luận: đó chỉ là danh tự thế gian, Như Lai dùng mà không chấp trước. Kinh kết thúc: Poṭṭhapāda quy y, Citta xuất gia và chứng A-la-hán.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Du sĩ Poṭṭhapāda — Thế Tôn ghé vườn hoàng hậu Mallikā; Poṭṭhapāda khuyên chúng du sĩ im lặng và thỉnh Thế Tôn ngồi (SC 1-6).
  • 1.1. Bàn về sự diệt tận các tăng thượng tưởng — Poṭṭhapāda thuật lại bốn cách giải thích của các Sa-môn, Bà-la-môn về sự diệt tận các tăng thượng tưởng, rồi thưa hỏi Thế Tôn (SC 8-12).
  • 1.2. Tưởng sanh diệt là có nhân có duyên — do sự học tập — Thế Tôn bác quan điểm 'không nhân không duyên'; trình bày sự học tập: giới hạnh, hộ trì các căn, xả ly năm triền cái, bốn thiền, ba Vô sắc xứ; mỗi bậc một tưởng diệt một tưởng sanh; đi đến tưởng tột đỉnh và sự diệt tận có ý thức. Kèm phần hỏi đáp về một hay nhiều tưởng tuyệt đỉnh, và về tưởng sanh trước - trí sanh sau (SC 13-34).
  • 1.3. Tưởng và tự ngã — Poṭṭhapāda nêu ba cách hiểu tự ngã (thô phù có sắc do bốn đại; do ý sở thành; vô sắc do tưởng sở thành); mỗi lần Thế Tôn dạy 'tưởng khác, tự ngã khác' (SC 35-44).
  • Mười vấn đề Thế Tôn không trả lời — Thế giới thường/vô thường, hữu biên/vô biên; sinh mạng và thân thể một/khác; Như Lai tồn tại/không tồn tại/vừa tồn tại vừa không/không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết — Thế Tôn đều nói 'Ta không trả lời', và giải thích lý do; điều Ngài trả lời là Bốn Thánh Đế. Thế Tôn ra về (SC 45-72).
  • Các du sĩ mỉa mai Poṭṭhapāda — Thế Tôn đi rồi, các du sĩ vây quanh chê trách Poṭṭhapāda; ông đáp rằng Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, dùng Pháp làm cơ bản (SC 73-75).
  • 2. Citta Hatthisāriputta và Poṭṭhapāda đến gặp Thế Tôn — Hai ba ngày sau, Citta Hatthisāriputta cùng Poṭṭhapāda đến; Poṭṭhapāda thuật lại sự việc (SC 76-77).
  • 2.1. Pháp không dứt khoát và pháp dứt khoát — Thế Tôn phân biệt hai loại pháp; rồi bác bỏ chủ trương 'sau khi chết tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh' bằng ví dụ người yêu cô gái đẹp không biết mặt và người xây thang lên lầu chưa từng thấy (SC 78-90).
  • 2.2. Ba loại ngã chấp — Thô phù ngã chấp, ý sở thành ngã chấp, vô sắc ngã chấp; Thế Tôn thuyết pháp để diệt trừ cả ba; đối đáp với Citta; ví dụ sữa - lạc - sanh tô - thục tô - đề hồ; kết luận về danh tự thế gian (SC 91-114).
  • 2.3. Poṭṭhapāda quy y, Citta xuất gia và chứng A-la-hán — Poṭṭhapāda xin quy y Tam Bảo trọn đời; Citta Hatthisāriputta xin xuất gia, thọ đại giới, tinh cần và chứng quả A-la-hán (SC 115-120).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 9, SC 13 (PTS cs 7) — Pāli/Anh: dn9:7.1–7.5
“Tatra, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘ahetū appaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipī’ti, āditova tesaṁ aparaddhaṁ. Taṁ kissa hetu? Sahetū hi, poṭṭhapāda, sappaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipi. Sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.”
Này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt”. Những vị này đã sai lạc ngay từ ban đầu. Vì sao vậy? Này Poṭṭhapāda, chính vì có nhân, có duyên, các tưởng của con người sinh và diệt. Chính do sự học tập, một loại tưởng sanh, chính do sự học tập, một loại tưởng diệt.
“Regarding this, Poṭṭhapāda, those ascetics and brahmins who say that a person’s perceptions arise and cease without cause or reason are wrong from the start. Why is that? Because a person’s perceptions arise and cease with cause and reason. With training, certain perceptions arise and certain perceptions cease.”
DN 9, SC 24 (PTS cs 17) — Pāli/Anh: dn9:17.1–17.9
“Yato kho, poṭṭhapāda, bhikkhu idha sakasaññī hoti, so tato amutra tato amutra anupubbena saññaggaṁ phusati. Tassa saññagge ṭhitassa evaṁ hoti: ‘cetayamānassa me pāpiyo, acetayamānassa me seyyo. Ahañceva kho pana ceteyyaṁ, abhisaṅkhareyyaṁ, imā ca me saññā nirujjheyyuṁ, aññā ca oḷārikā saññā uppajjeyyuṁ; yannūnāhaṁ na ceva ceteyyaṁ na ca abhisaṅkhareyyan’ti. So na ceva ceteti, na ca abhisaṅkharoti. Tassa acetayato anabhisaṅkharoto tā ceva saññā nirujjhanti, aññā ca oḷārikā saññā na uppajjanti. So nirodhaṁ phusati. Evaṁ kho, poṭṭhapāda, anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti hoti.”
Này Poṭṭhapāda, khi Tỷ-kheo ở nơi đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này khi đứng tại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng, khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên, ta hãy đừng có suy tưởng”. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác không khởi lên, vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy, này Poṭṭhapāda, là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.
“Poṭṭhapāda, from the time a mendicant here takes charge of their own perception, they proceed from one stage to the next, progressively reaching the peak of perception. Standing on the peak of perception they think, ‘Intentionality is bad for me, it’s better to be free of it. For if I were to intend and choose, these perceptions would cease in me, and other coarser perceptions would arise. Why don’t I neither make a choice nor form an intention?’ They neither make a choice nor form an intention. Those perceptions cease in them, and other coarser perceptions don’t arise. They touch cessation. And that, Poṭṭhapāda, is how the progressive cessation of perception is attained with awareness.”
DN 9, SC 34 (PTS cs 20) — Pāli/Anh: dn9:20.1–20.6
“Saññā kho, poṭṭhapāda, paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hoti. So evaṁ pajānāti: ‘idappaccayā kira me ñāṇaṁ udapādī’ti. Iminā kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ—yathā saññā paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hotī”ti.
- Này Poṭṭhapāda, tưởng khởi trước trí mới khởi sau, do tưởng sanh, trí mới sanh. Vị ấy tuệ tri: “Do duyên tưởng, trí sanh ra nơi ta”. Này Poṭṭhapāda, với lời dạy này cần phải hiểu tưởng sanh trước trí sanh sau, tưởng sanh trí mới sanh.
“Perception arises first and knowledge afterwards. The arising of perception leads to the arising of knowledge. They understand, ‘My knowledge arose from a specific condition.’ That is a way to understand how perception arises first and knowledge afterwards; that the arising of perception leads to the arising of knowledge.”
DN 9, SC 38 (PTS cs 21) — Pāli/Anh: dn9:21.4–21.7
“Oḷāriko ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho. Evaṁ santaṁ kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā. Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā. Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, oḷāriko attā rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti.”
- Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, như vậy này Poṭṭhapāda, tưởng khác và tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu, tưởng khác và tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sử tự ngã ấy là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
“Suppose there was such a solid self, Poṭṭhapāda. In that case, perception would be one thing, the self another. Here is another way to understand how perception and self are different things. So long as that solid self remains, still some perceptions arise in a person and others cease. That is a way to understand how perception and self are different things.”
DN 9, SC 66 (PTS cs 28) — Pāli/Anh: dn9:28.1–28.3
“Na hetaṁ, poṭṭhapāda, atthasaṁhitaṁ na dhammasaṁhitaṁ nādibrahmacariyakaṁ, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, tasmā etaṁ mayā abyākatan”ti.
- Này Poṭṭhapāda, câu hỏi này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về Pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy, Ta không trả lời.
“Because they’re not beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why I haven’t declared them.”
DN 9, SC 67–68 (PTS cs 29) — Pāli/Anh: dn9:29.1–29.2
“Idaṁ dukkhanti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhasamudayoti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhanirodhoti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, poṭṭhapāda, mayā byākatan”ti.
- Này Poṭṭhapāda, Ta trả lời: “Ðây là khổ”. Ta trả lời: “Ðây là khổ tập”. “Ta trả lời: “Ðây là khổ diệt”. Ta trả lời: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
“I have declared this: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.”
DN 9, SC 91 (PTS cs 39) — Pāli/Anh: dn9:39.1–39.8
“Tayo kho me, poṭṭhapāda, attapaṭilābhā—oḷāriko attapaṭilābho, manomayo attapaṭilābho, arūpo attapaṭilābho. Katamo ca, poṭṭhapāda, oḷāriko attapaṭilābho? Rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho, ayaṁ oḷāriko attapaṭilābho. Katamo manomayo attapaṭilābho? Rūpī manomayo sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, ayaṁ manomayo attapaṭilābho. Katamo arūpo attapaṭilābho? Arūpī saññāmayo, ayaṁ arūpo attapaṭilābho.”
- Này Poṭṭhapāda, có ba loại ngã chấp: thô phù ngã chấp, ý sở thành ngã chấp, vô sắc ngã chấp. Này Poṭṭhapāda, thế nào là thô phù ngã chấp? Có sắc, do bốn đại hình thành, do đoàn thực nuôi dưỡng là thô phù ngã chấp. Thế nào ý sở thành ngã chấp? Có sắc, do ý sở thành, đầy đủ chi tiết lớn nhỏ, các căn đầy đủ, là ý sở thành ngã chấp. Thế nào là vô sắc ngã chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành là vô sắc ngã chấp.
“Poṭṭhapāda, there are these three kinds of incarnation: a solid incarnation, a mind-made incarnation, and a formless incarnation. And what is a solid incarnation? It is formed, made up of the four principal states, and consumes edible food. What is a mind-made incarnation? It is formed, mind-made, whole in its major and minor limbs, not deficient in any faculty. What is a formless incarnation? It is formless, made of perception.”
DN 9, SC 113–114 (PTS cs 52–53) — Pāli/Anh: dn9:52–53.5
“Imā kho, citta, lokasamaññā lokaniruttiyo lokavohārā lokapaññattiyo, yāhi tathāgato voharati aparāmasan”ti.
Này Citta, ví như từ bò cái sanh ra sữa, từ sữa sinh ra lạc, từ lạc sanh ra sanh tô, từ sanh tô sanh ra thục tô, từ thục tô sanh ra đề hồ. Khi thành sữa thời sữa ấy không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, không thuộc đề hồ, chính khi ấy thuộc sữa; khi thành lạc … khi thành sanh tô … khi thành thục tô … khi thành đề hồ thời đề hồ không thuộc sữa, không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, chính khi ấy thuộc đề hồ. … Này Citta, chúng chỉ là danh tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, ký pháp thế gian. Như Lai dùng chúng nhưng không chấp trước chúng.
“In the same way, while in any one of the three incarnations, it’s not referred to as the other two, only under its own name. … These are the world’s common usages, definitions, expressions, and descriptions, which the Realized One uses to communicate without getting stuck on them.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saññātưởng — sự nhận biết, nhận ra, tri giácChủ đề trung tâm của kinh; bản Anh dịch là 'perception'.
abhisaññānirodhasự diệt tận các tăng thượng tưởngCâu hỏi mở đầu của Poṭṭhapāda.
anupubbābhisaññānirodha-sampajāna-samāpattisự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởngTiến trình có ý thức, theo thứ lớp — không phải trạng thái mê muội.
sikkhāsự học tập, sự tu họcNhân duyên khiến tưởng sanh và diệt.
saññaggatưởng tột đỉnh / tưởng tuyệt đỉnhThế Tôn nói có một và cũng có nhiều tưởng tuyệt đỉnh (SC 30-32).
attātự ngã
attapaṭilābhangã chấp (sự chấp thủ / sự thâu nhận một tự ngã)HT. Minh Châu dịch 'ngã chấp'; Sujato dịch 'incarnation'.
oḷāriko attapaṭilābhothô phù ngã chấp — có sắc, do bốn đại hình thành, do đoàn thực nuôi dưỡng
manomayo attapaṭilābhoý sở thành ngã chấp — có sắc, do ý sở thành, đầy đủ chi tiết lớn nhỏ, các căn đầy đủ
arūpo attapaṭilābhovô sắc ngã chấp — không có sắc, do tưởng sở thành
ñāṇatríTưởng sanh trước, trí sanh sau.
abyākatakhông được trả lời, vô kýMười vấn đề Thế Tôn không trả lời.
ekaṁsikadứt khoát, một chiềuBốn Thánh Đế là pháp được tuyên thuyết một cách dứt khoát.
nibbidā, virāga, nirodha, upasama, abhiññā, sambodhi, nibbānayểm ly, ly tham, tịch diệt, tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bànTiêu chuẩn để Thế Tôn quyết định trả lời hay không trả lời.
lokasamaññā, lokanirutti, lokavohāra, lokapaññattidanh tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, ký pháp thế gianNhư Lai dùng chúng nhưng không chấp trước (aparāmasa).
paribbājakadu sĩ ngoại đạo

Câu trả lời đầu tiên đã đặt nền cho cả bài. Có người bảo tưởng sanh diệt không nhân không duyên. Đức Phật nói họ sai ngay từ ban đầu: “Chính do sự học tập, một loại tưởng sanh; chính do sự học tập, một loại tưởng diệt.” Tâm thức được huấn luyện, không phải may rủi.

Rồi Ngài kể ra lộ trình. Giới hạnh → hộ trì các căn → chánh niệm tỉnh giác → bỏ năm triền cái → bốn thiền → ba Vô sắc xứ. Ở mỗi bậc, một tưởng cũ diệt và một tưởng mới vi diệu hơn khởi lên. Không có bậc nào nhảy được.

Phần về tự ngã rất gọn mà chặt. Poṭṭhapāda nêu ba cách hiểu tự ngã — thô phù, do ý sở thành, vô sắc. Mỗi lần Đức Phật đều đáp cùng một cách: tưởng là một chuyện, tự ngã là chuyện khác — vì cái tự ngã ấy đứng yên mà tưởng thì cứ sanh rồi diệt.

Rồi tới phần nổi tiếng nhất. Poṭṭhapāda hỏi mười câu: thế giới thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên, sinh mạng và thân thể là một hay khác, Như Lai có tồn tại sau khi chết hay không. Mỗi câu Đức Phật đều đáp: “Ta không trả lời.”

Và lý do Ngài đưa ra không phải là “không biết”. Ngài nói những câu ấy không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yểm ly, ly tham, tịch diệt, giác ngộ, Niết-bàn. Không phải câu hỏi cấm — là câu hỏi không dẫn tới đâu.

Và Ngài nói ngay điều Ngài CÓ trả lời. Bốn Thánh Đế. Ngài không im lặng cho ra vẻ sâu xa — Ngài đổi câu hỏi: thay vì vũ trụ ra sao, hỏi khổ là gì và hết khổ bằng cách nào.

Chi tiết sau khi Ngài về rất đời. Các du sĩ xúm lại chê trách Poṭṭhapāda vì đã tán thành. Ông đáp: Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, dùng Pháp làm cơ bản. Kinh ghi lại cả áp lực của đám đông, không giấu.

Đoạn cuối có một ví dụ rất hay về danh tự. Sữa → lạc → sanh tô → thục tô → đề hồ: lúc là lạc thì không gọi là sữa nữa. Cũng vậy, ba loại ngã chấp chỉ là danh tự thế gianNhư Lai dùng mà không chấp trước.

  • “Không trả lời nghĩa là không biết.” Kinh nói rõ lý do: không đưa đến giải thoát.
  • “Đạo Phật cấm hỏi.” Ngài trả lời rất nhiều câu — và nói ngay điều Ngài trả lời là Bốn Thánh Đế.
  • “Tưởng chính là tự ngã.” Kinh bác thẳng: tưởng sanh diệt, còn cái được gọi là tự ngã thì đứng yên — không thể là một.
  • Ngành Oanh. Ví dụ sữa thành lạc thành bơ — mang sữa chua tới cho các em xem.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: có câu hỏi nào hay mà không giúp gì cho mình không? Rồi đọc phần mười câu.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Cách Ngài đổi câu hỏi thay vì tranh luận — đọc kèm MN 63.
  • Do sự học tập — câu ấy bác bỏ điều gì?
  • Vì sao tưởng không thể là tự ngã?
  • Ngài không trả lời vì lý do gì?
  • Ngài trả lời điều gì thay vào đó?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.