G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 32
Trường Bộ · Bài Hộ Trì

Kinh A-Sá-Nang-Chi

Āṭānāṭiya Sutta — DN 32 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh A-Sá-Nang-Chi

Đây là bài hộ trì được tụng nhiều nơi. Cũng vì vậy nó là bài dễ bị hiểu thành bùa chú nhất trong Trường Bộ. Trang này cố gắng tách rõ: chỗ nào là kinh văn, chỗ nào là cách hiểu về sau.

  • Bộ — Trường Bộ, bài 32
  • Người dângbốn vị Đại Thiên Vương giữ bốn phương
  • Phương Nam — trong bài kệ, tên là Virūḷha (dạng văn xuôi: Virūḷhaka)
  • Lý do dâng — có phi nhân không có lòng tin quấy nhiễu người tu ở nơi hoang vắng

Kinh A-sá-nang-chi là bài kinh hộ trì (paritta) nổi tiếng của truyền thống Nam truyền, được tụng để cầu an. Bối cảnh: đêm khuya, Bốn Thiên vương đưa đại chúng phi nhân đến núi Linh Thứu đảnh lễ Phật. Đại vương Vessavaṇa bạch rằng phần lớn Dạ-xoa không ưa thích giáo pháp của Thế Tôn, vì Thế Tôn dạy từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo và rượu men — những điều họ chưa từ bỏ được. Vì thương các đệ tử tu tập nơi rừng vắng có thể bị các phi nhân chưa có lòng tin quấy nhiễu, ông thỉnh Thế Tôn thọ nhận bài hộ trì Āṭānāṭiya; Thế Tôn im lặng nhận lời. Nội dung bài hộ trì gồm hai phần rõ rệt. Phần một là bài kệ đảnh lễ bảy đức Phật: Vipassī, Sikhī, Vessabhū, Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa và đức Phật Gotama (Aṅgīrasa) — "Ðã thuyết chơn diệu pháp, Diệt trừ mọi khổ đau". Phần hai mô tả bốn phương và bốn vị đại vương trấn giữ: phương Đông là Dhataraṭṭha (Trì Quốc) chủ loài Càn-thát-bà; phương Nam là Virūḷhaka chủ loài Cưu-bàn-trà; phương Tây là Virūpakkha chủ loài Nāga; phương Bắc là Kuvera (Vessavaṇa) chủ loài Dạ-xoa. Điều đáng chú ý: cả bốn vị cùng con cháu của họ đều "chiêm ngưỡng Thế Tôn… Từ xa, họ lễ Phật", nghĩa là chính chư thiên, phi nhân cũng quy kính Tam Bảo. Tiếp đó, Vessavaṇa nói rõ hiệu lực: ai học thuộc hộ kinh này một cách chín chắn, rõ ràng, mà bị phi nhân ác tâm theo quấy phá, thì phi nhân ấy sẽ bị chính cộng đồng phi nhân khinh chê, không được chỗ ở, không được dự hội. Nếu gặp loại phi nhân hung bạo không nghe lời các đại vương, thì hành giả hãy kêu lên danh hiệu các vị Dạ-xoa đại tướng. Cuối kinh, Thế Tôn dạy: "hãy học… hãy thuộc lòng… hãy thọ trì" hộ kinh này. Điểm cần dạy cho đoàn sinh: đây KHÔNG phải bùa chú thần bí hay phép mầu để cầu tài, trừ tà. Sức hộ trì đến từ việc đảnh lễ chư Phật, ghi nhớ ân đức Tam Bảo và giữ giới — chính năm giới là điều khiến Dạ-xoa "không ưa thích". Người sống buông thả mà tụng suông thì trái ngược tinh thần bài kinh.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Phần I — Tụng phẩm thứ nhất (Paṭhamabhāṇavāra): Duyên khởi — Đoạn 1: Thế Tôn ở núi Linh Thứu, Vương Xá. Bốn Thiên vương cùng đại quân Dạ-xoa, Càn-thát-bà, Cưu-bàn-trà, Nāga trấn giữ bốn phương rồi đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên.
  • Lời thỉnh cầu của đại vương Vessavaṇa — Đoạn 2: Vessavaṇa bạch rằng phần lớn Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn vì Ngài dạy từ bỏ năm điều ác; đệ tử Phật sống nơi thâm sơn cùng cốc có thể bị quấy nhiễu, nên xin Thế Tôn thọ nhận Āṭānāṭiya Hộ Kinh. Thế Tôn im lặng chấp thuận.
  • Bài kệ đảnh lễ bảy đức Phật — Đoạn 3: Kệ đảnh lễ Vipassī, Sikhī, Vessabhū, Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa và Aṅgīrasa (Phật Gotama).
  • Phương Đông — đại vương Dhataraṭṭha, chủ loài Càn-thát-bà — Đoạn 4: Mô tả phương Đông, đại vương Dhataraṭṭha (Trì Quốc Thiên vương) và các con tên Inda, tất cả đều đảnh lễ Phật.
  • Phương Nam — đại vương Virūḷha, chủ loài Cưu-bàn-trà — Đoạn 5: Mô tả phương Nam và đại vương Virūḷha (dạng văn xuôi: Virūḷhaka); kết bằng cùng đoạn kệ đảnh lễ Gotama.
  • Phương Tây — đại vương Virūpakkha, chủ loài Nāga — Đoạn 6: Mô tả phương Tây và đại vương Virūpakkha; kết bằng cùng đoạn kệ đảnh lễ Gotama.
  • Phương Bắc — Bắc Câu-lô-châu và đại vương Kuvera (Vessavaṇa) — Đoạn 7: Mô tả Uttarakuru (Bắc Lô Châu), núi Neru, các thành phố trên hư không (Āṭānāṭā, Kusināṭā…), kinh đô Āḷakamandā và Visāṇā; vì thế Kuvera được gọi là Vessavaṇa. Kết bằng đoạn kệ đảnh lễ Gotama.
  • Hiệu lực của hộ kinh đối với phi nhân ác tâm — Đoạn 8: Ai học thuộc hộ kinh này chín chắn rõ ràng mà bị phi nhân ác tâm theo quấy nhiễu, thì phi nhân ấy không được đón mừng kính trọng, không có chỗ ở trong kinh đô Āḷakamandā, không được dự hội Dạ-xoa, bị mắng nhiếc, thậm chí bị chẻ đầu làm bảy mảnh.
  • Loại phi nhân hung bạo không nghe lệnh — ví dụ đại tướng cướp xứ Magadha — Đoạn 9: Có hạng phi nhân hung bạo không nghe lời các đại vương, ví như bọn đại tướng cướp trong xứ vua Magadha. Khi bị hạng ấy quấy nhiễu, hành giả phải kêu lên, van lên với các Dạ-xoa đại tướng.
  • Danh sách các Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư — Đoạn 10: Liệt kê danh hiệu Inda, Soma, Varuṇa, Bhāradvāja, Pajāpati… cho đến Serīsaka, là những vị cần được kêu gọi.
  • Bốn Thiên vương từ tạ, biến mất — hết tụng phẩm thứ nhất — Đoạn 11: Vessavaṇa xin phép ra về; Bốn Thiên vương và chúng Dạ-xoa đảnh lễ, hữu nhiễu rồi biến mất tại chỗ.
  • Phần II — Tụng phẩm thứ hai (Dutiyabhāṇavāra): Thế Tôn thuật lại cho chư Tỷ-kheo — Đoạn 12: Sau khi đêm mãn, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và thuật lại toàn bộ sự việc cùng toàn bộ bài kệ đêm qua (lặp lại nguyên văn).
  • Lời dạy kết thúc: hãy học, thuộc lòng và thọ trì — Đoạn 13: Thế Tôn dạy chư Tỷ-kheo hãy học, hãy thuộc lòng, hãy thọ trì Āṭānāṭiya Hộ Kinh vì lợi ích, che chở, hộ trì cho bốn chúng. Chư Tỷ-kheo hoan hỷ thọ trì.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 32.1
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. Atha kho cattāro mahārājā mahatiyā ca yakkhasenāya mahatiyā ca gandhabbasenāya mahatiyā ca kumbhaṇḍasenāya mahatiyā ca nāgasenāya catuddisaṁ rakkhaṁ ṭhapetvā … yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Bốn Thiên vương sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương với đại quân Yakkha (Dạ-xoa), đại quân Gandhabba (Càn-thát-bà), đại quân Kumbhaṇḍa (Cưu-bàn-trà) và đại quân Nāga (Na-già), án ngữ bốn phương, bảo trì bốn phương, trong đêm tối thâm sâu, với hào quang tuyệt diệu chói sáng toàn thể núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture's Peak Mountain. Then, late at night, the four great kings—with large armies of spirits, centaurs, gnomes, and dragons—set guards, troops, and wards at the four quarters and then, lighting up the entire Vulture's Peak with their beauty, went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side.
DN 32.2 (lý do Dạ-xoa không tin tưởng)
Taṁ kissa hetu? Bhagavā hi, bhante, pāṇātipātā veramaṇiyā dhammaṁ deseti, adinnādānā veramaṇiyā dhammaṁ deseti, kāmesumicchācārā veramaṇiyā dhammaṁ deseti, musāvādā veramaṇiyā dhammaṁ deseti, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇiyā dhammaṁ deseti.
Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp để từ bỏ sát sanh, thuyết pháp để từ bỏ trộm cắp, thuyết pháp để từ bỏ tà dâm, thuyết pháp để từ bỏ nói láo, thuyết pháp để từ bỏ không uống các loại rượu.
Why is that? Because the Buddha teaches them to refrain from killing living creatures, stealing, lying, sexual misconduct, and consuming intoxicants of beer, wine, and liquor.
DN 32.2 (lời thỉnh cầu)
Tesaṁ pasādāya uggaṇhātu, bhante, bhagavā āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāyāti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Bạch Thế Tôn, hãy học chú Āṭānāṭiyarakkha (A-sá-nang-chi Hộ Kinh) để họ được lòng tin, để các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ có thể sống an lạc, được che chở, được hộ trì không bị tại họa. Thế Tôn im lặng chấp thuận.
To give them confidence, may the Buddha please learn the Āṭānāṭiya protection for the guarding, protection, safety, and comfort of the monks, nuns, laymen, and laywomen. The Buddha consented with silence.
DN 32.3 (bài kệ đảnh lễ bảy đức Phật — đoạn được tụng nhiều nhất)
Vipassissa ca namatthu, cakkhumantassa sirīmato; Sikhissapi ca namatthu, sabbabhūtānukampino. Vessabhussa ca namatthu, nhātakassa tapassino; Namatthu kakusandhassa, mārasenāpamaddino. Koṇāgamanassa namatthu, brāhmaṇassa vusīmato; Kassapassa ca namatthu, vippamuttassa sabbadhi. Aṅgīrasassa namatthu, sakyaputtassa sirīmato; Yo imaṁ dhammaṁ desesi, sabbadukkhāpanūdanaṁ.
Ðảnh lễ Vipassī (Tỳ-bà-thi), Sáng suốt và huy hoàng! Ðảnh lễ đấng Sikhī (Thi-khí) Có lòng thương muôn loài! Ðảnh lễ Vessabhū (Tỳ-xá-bà), Thanh tịnh, tu khổ hạnh! Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn), Vị nhiếp phục ma quân! Ðảnh lễ Koṇāgamana (Câu-na-hàm), Bà-la-môn viên mãn! Ðảnh lễ Kassapa (Ca-diếp), Vị giải thoát muôn mặt! Ðảnh lễ Aṅgīrasa, Vị Thích tử huy hoàng, Ðã thuyết chơn diệu pháp, Diệt trừ mọi khổ đau!
Hail Vipassī, the glorious Clear-eyed One! Hail Sikhī, sympathetic for all beings! Hail Vessabhū, cleansed and fervent! Hail Kakusandha, crusher of Māra's army! Hail Koṇāgamana, the brahmin who has lived the life! Hail Kassapa, everywhere free! Hail Aṅgīrasa, the glorious Sakyan! He taught this Dhamma that casts aside all suffering.
DN 32.4 (điệp khúc lặp lại ở cả bốn phương)
Te cāpi buddhaṁ disvāna, buddhaṁ ādiccabandhunaṁ; Dūratova namassanti, mahantaṁ vītasāradaṁ. Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Kusalena samekkhasi, amanussāpi taṁ vandanti.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn, Thuộc dòng họ mặt trời. Từ xa, họ lễ Phật, Bậc vĩ đại thanh thoát. "Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân! Ðảnh lễ bậc Thượng nhân! Thiện tâm nhìn chúng con, Phi nhân cũng lễ Ngài".
After seeing the Awakened One, the Buddha, Kinsman of the Sun, they revere him from afar, the one great of heart and intrepid. Homage to you, O thoroughbred! Homage to you, supreme among men! You examine us skillfully; the non-humans bow to you.
DN 32.8
Ayaṁ kho sā, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāya. Yassa kassaci, mārisa, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā upāsakassa vā upāsikāya vā ayaṁ āṭānāṭiyā rakkhā suggahitā bhavissati samattā pariyāputā.
Tôn giả, Āṭānāṭiya Hộ Kinh này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc. Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atanatiya này một cách chín chắn, rõ ràng…
This, good fellow, is the Āṭānāṭiya protection for the guarding, protection, safety, and comfort of the monks, nuns, laymen, and laywomen. The monks, nuns, laymen, and laywomen should learn this Āṭānāṭiya protection well and completely memorize it.
DN 32.9 (lời kêu cứu khi bị phi nhân quấy nhiễu)
Imesaṁ yakkhānaṁ mahāyakkhānaṁ senāpatīnaṁ mahāsenāpatīnaṁ ujjhāpetabbaṁ vikkanditabbaṁ viravitabbaṁ: 'ayaṁ yakkho gaṇhāti, ayaṁ yakkho āvisati, ayaṁ yakkho heṭheti, ayaṁ yakkho viheṭheti, ayaṁ yakkho hiṁsati, ayaṁ yakkho vihiṁsati, ayaṁ yakkho na muñcatī'ti.
…vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
One ought to yell, cry, and scream to the spirits, great spirits, generals, great generals: 'This spirit's got me! This spirit's entered me! This spirit's annoying me! This spirit's harassing me! This spirit's hurting me! This spirit's harming me! This spirit won't let me go!'
DN 32.13 (lời dạy kết thúc của Thế Tôn)
Uggaṇhātha, bhikkhave, āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ. Pariyāpuṇātha, bhikkhave, āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ. Dhāretha, bhikkhave, āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ. Atthasaṁhitā, bhikkhave, āṭānāṭiyā rakkhā … phāsuvihārāyāti. Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Này các Tỷ-kheo, hãy học Āṭānāṭiya Hộ Kinh này, hãy thuộc lòng Kinh Āṭānāṭiya này, hãy thọ trì Āṭānāṭiya Hộ Kinh này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ trì lời dạy Thế Tôn.
Mendicants, learn the Āṭānāṭiya protection! Memorize the Āṭānāṭiya protection! Remember the Āṭānāṭiya protection! The Āṭānāṭiya protection is beneficial, and is for the guarding, protection, safety, and comfort of the monks, nuns, laymen, and laywomen. That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ĀṭānāṭiyaA-sá-nang-chi — tên một thành phố (Āṭānāṭā) của chư Thiên vương, do đó gọi tên bài hộ trìKinh văn chỉ nêu Āṭānāṭā là một trong các thành trên hư không của vua Kuvera (dn32:7.34). Việc bài hộ trì mang tên thành ấy là giải thích theo Chú giải — kinh không nói như vậy.
rakkhāsự che chở, hộ trì; 'hộ kinh'HT. Minh Châu dịch 'Hộ Kinh'; cùng gốc với paritta
parittakinh hộ trì, kinh cầu an (không xuất hiện trong DN 32 nhưng là tên gọi truyền thống của loại kinh này)Thuật ngữ truyền thống, không có trong kinh văn DN 32
yakkhaDạ-xoa — một loại phi nhân, quỷ thần
gandhabbaCàn-thát-bà — chư thiên hương ấm, ưa múa hát
kumbhaṇḍaCưu-bàn-trà — một loại phi nhân ở phương Nam
nāgaNa-già, long chúng
amanussaphi nhân — loài không phải người
cattāro mahārājāBốn vị Đại Thiên vương (Tứ Đại Thiên Vương)Dhataraṭṭha (Đông), Virūḷhaka (Nam), Virūpakkha (Tây), Kuvera/Vessavaṇa (Bắc)
Vessavaṇa (Kuvera)Tỳ-sa-môn Thiên vương, chủ loài Dạ-xoa, trấn phương BắcKinh giải thích: vì kinh đô tên Visāṇā nên Kuvera được gọi Vessavaṇa
guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāyađể được canh giữ, che chở, không bị làm hại và sống an ổn thoải máiCụm từ lặp đi lặp lại nêu rõ mục đích bài kinh
bhāṇavāratụng phẩm — một phần tụng đọc; kinh này có hai tụng phẩmPaṭhamabhāṇavāra và Dutiyabhāṇavāra
paduṭṭhacittatâm niệm độc ác, tâm bị ô nhiễm bởi sân hận
Aṅgīrasamột danh hiệu của đức Phật Gotama
ādiccabandhuBậc thuộc dòng họ mặt trời (Nhật Thân)Danh hiệu của đức Phật
vijjācaraṇasampannaMinh Hạnh Túc — bậc trí đức viên mãnMột trong mười danh hiệu của Phật

Vì sao bài này có mặt — kinh nói rõ. Không phải để trừ tà. Bốn Đại Thiên Vương thưa rằng có những phi nhân không có lòng tin nơi Thế Tôn, và chư Tỳ-kheo ở rừng núi hoang vắng có thể bị quấy nhiễu. Bài hộ trì là để những phi nhân ấy nhận ra người tu, không phá.

Nội dung phần lớn là gì. Đảnh lễ bảy vị Phật, rồi kể tên bốn phương và bốn vị Đại Thiên Vương. Không có câu thần chú nàochỉ có lời đảnh lễ và lời tuyên bố.

Đây là chỗ cần nói cho rõ. Nhiều nơi tụng bài này như một câu bùa, tin rằng âm thanh có sức mạnh. Kinh văn không nói vậy. Cái được nêu là sự nhận biết — phi nhân biết đây là người của Thế Tôn nên không quấy.

Và kinh còn đặt điều kiện. Bài hộ trì không che chở người phá giới. Kinh nói rõ: nếu phi nhân vẫn quấy nhiễu sau khi đã tụng, thì hãy kêu lên cho chư Thiên biết — nghĩa là bài tụng không tự động có hiệu lực.

Chỗ chúng tôi đính chính. Bản tra cứu ghi tên vị đại vương phương Nam là Virūḷhaka. Trong bài kệ Pāli (dn32:5.10) tên ấy là Virūḷha; Virūḷhakadạng văn xuôi, không có trong kệ này. Đã sửa.

Và một chỗ nữa, quan trọng hơn. Bản tra cứu giải rằng bài hộ trì mang tên thành Āṭānāṭā. Kinh văn không nói vậy — kinh chỉ nêu Āṭānāṭā là một trong các thành trên hư không của vua Kuvera (dn32:7.34). Việc gán tên là lời Chú giải đời sau. Đã ghi rõ.

Dạy bài này thế nào cho phải. Không cấm tụng — tụng là nếp sinh hoạt lâu đời và có chỗ đứng của nó. Nhưng nên nói cho đoàn sinh biết: kinh nói về sự nhận biết và về giới hạnh, không nói về sức mạnh của âm thanh. Biết đúng thì tụng vẫn tụng, mà không thành mê tín.

  • “Tụng bài này thì không ai hại được.” Kinh đặt điều kiện, và còn dạy phải kêu lên cho chư Thiên biết nếu vẫn bị quấy.
  • “Đây là thần chú.” Nội dung là đảnh lễ bảy vị Phậtkể tên bốn phương — không có câu chú nào.
  • “Kinh mang tên thành Āṭānāṭā.” Đó là lời Chú giải; kinh chỉ nói Āṭānāṭā là một thành của vua Kuvera.
  • Ngành Oanh. Chỉ nói: người giữ giới thì ai cũng quý. Đừng nói tới phi nhân với các em nhỏ.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: tụng kinh là để làm gì? Rồi đọc đoạn kinh nói về sự nhận biết.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài mẫu để tách kinh văn khỏi tập tục. Đọc kèm AN 10.176 về nghi lễ rửa tội.
  • Kinh nói vì sao cần bài hộ trì?
  • Bài tụng gồm những gì?
  • Vì sao kinh dạy phải kêu lên nếu vẫn bị quấy?
  • Đâu là kinh văn, đâu là cách hiểu về sau?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.