G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 30
Trường Bộ · Mỗi Tướng Do Nghiệp Gì

Kinh Tướng

Lakkhaṇa Sutta — DN 30 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Tướng

Bài kinh liệt kê ba mươi hai tướng tốt của bậc Đại Nhân — nhưng không dừng ở việc tả. Với mỗi tướng, kinh nói rõ do nghiệp gì trong đời trước mà có. Đây thật ra là một bài kinh về nhân quả của hành vi.

  • Bộ — Trường Bộ, bài 30
  • Cấu trúc — mỗi tướng: nghiệp đời trước → tướng → quả báo đời này
  • Thể — văn xuôi xen kệ, mỗi phần đều có kệ tóm lại
  • Bài liên hệDN 14 cũng nêu ba mươi hai tướng, nhưng không giải nghiệp

Kinh Tướng (Lakkhaṇasutta) là bài kinh thứ 30 của Trường Bộ, Thế Tôn giảng tại Sāvatthi, rừng Jeta, vườn ông Cấp Cô Độc, cho các Tỷ-kheo. Kinh gồm hai tụng phẩm. Mở đầu, Thế Tôn dạy: ai đầy đủ ba mươi hai tướng Đại Trượng phu thì chỉ có hai con đường, không có con đường thứ ba — nếu sống tại gia sẽ làm Chuyển luân Thánh vương trị nước bằng Chánh pháp, đầy đủ bảy món báu; nếu xuất gia sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, "vén lui màn vô minh che đời". Kế đó Ngài liệt kê đủ ba mươi hai tướng, từ "lòng bàn chân bằng phẳng" cho đến "nhục kế trên đầu". Điểm đặc sắc làm nên giá trị của kinh này nằm ở câu kết phần liệt kê: "những vị ẩn sĩ ngoại đạo thọ trì ba mươi hai tướng Đại Trượng phu này nhưng không biết là do tạo nghiệp nào mà được những tướng này". Người ngoài chỉ học thuộc tướng; chỉ Như Lai mới chỉ ra được cái NHÂN. Toàn bộ phần còn lại của kinh là lời giải nhân quả ấy, lặp đi lặp lại theo một khuôn thống nhất cho từng tướng: (1) trong đời trước làm Người, Như Lai đã tạo nghiệp thiện gì; (2) nhờ "tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy" mà sanh Thiên giới; (3) khi tái sanh cõi này thì được tướng tương ứng; (4) tướng ấy đem lại lợi ích gì nếu làm vua, lợi ích gì nếu làm Phật; (5) một bài kệ trùng tụng tóm lại. Với Huynh trưởng và đoàn sinh, đây là bài kinh dạy nhân quả rất cụ thể và dễ nhớ: không sát sanh, bỏ trượng bỏ kiếm, có lòng từ thì được gót chân thon dài, ngón tay ngón chân dài, tay chân mềm mại; thực hành Bốn Nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự) thì được tay chân mềm mại và lưới da; không nói láo thì được tướng bạch hào giữa hai chân mày; không nói lời độc ác thì được lưỡi rộng dài và giọng nói dịu ngọt như chim Ca-lăng-tần-già; không nói hai lưỡi, hòa hợp người ly gián thì được bốn mươi răng khít đều; sống chánh mạng thì răng đều đặn sáng chói; dẫn đầu đại chúng trong các thiện pháp thì được nhục kế trên đầu. Nói gọn: tướng đẹp không từ trên trời rơi xuống, mà là kết quả chín muồi của hạnh lành đã gieo.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Tụng phẩm I — Duyên khởi — Thế Tôn trú tại Sāvatthi, rừng thái tử Jeta, vườn ông Anāthapiṇḍika, gọi các Tỷ-kheo và bắt đầu giảng (SC 1 / PTS 1).
  • Hai con đường của bậc đủ ba mươi hai tướng — Ai đầy đủ ba mươi hai tướng Đại Trượng phu chỉ có hai con đường: tại gia làm Chuyển luân Thánh vương đủ bảy món báu, hoặc xuất gia thành A-la-hán Chánh Đẳng Giác (SC 2 / PTS 1).
  • Liệt kê ba mươi hai tướng Đại Trượng phu — Kể đủ từng tướng, từ lòng bàn chân bằng phẳng, bánh xe ngàn căm dưới hai bàn chân… cho đến nhục kế trên đầu (SC 4–35 / PTS 2).
  • Ngoại đạo thuộc tướng nhưng không biết nghiệp — Lặp lại hai con đường, rồi nêu điểm then chốt: các ẩn sĩ ngoại đạo thọ trì ba mươi hai tướng này nhưng không biết do tạo nghiệp nào mà được (SC 36 / PTS 3). Đây là cửa mở cho toàn bộ phần sau.
  • Phần chính: mỗi tướng do nghiệp gì mà có (khuôn lặp lại) — Từ SC 37 (PTS 4) trở đi, mỗi tướng được giảng theo cùng một khuôn: đời trước làm Người tạo nghiệp thiện gì — nhờ nghiệp ấy sanh Thiên giới, hơn chư Thiên mười điểm — tái sanh cõi này được tướng ấy — nếu làm vua được lợi gì, nếu làm Phật được lợi gì — rồi một bài kệ trùng tụng.
  • Tụng phẩm II — tiếp tục các tướng còn lại — Bắt đầu từ SC 88 (PTS 34), tiếp tục cùng khuôn ấy cho các tướng còn lại: thân tròn như cây Nigrodha, nhục kế, bạch hào, bốn mươi răng, lưỡi rộng dài và phạm âm, hàm sư tử, răng đều đặn sáng chói… kết thúc kinh.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 30, đoạn 1 (SC 1 / PTS 1) — dn30:1.1.1–1.1.6
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhaddante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthi, rừng thái tử Jeta, vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”, các vị Tỷ-kheo đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
DN 30, đoạn 2 (SC 2 / PTS 1) — dn30:1.1.7–1.1.13
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Này các Tỷ-kheo, những ai có đầy đủ ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này, những vị ấy sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. … Nếu vị này, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.
There are thirty-two marks of a great man. A great man who possesses these has only two possible destinies, no other. If he stays at home he becomes a king, a wheel-turning monarch, a just and principled king. … But if he goes forth from the lay life to homelessness, he becomes a perfected one, a fully awakened Buddha, who has cast off the world’s veil.
DN 30, đoạn 36 (SC 36 / PTS 3) — dn30:1.3.4–1.3.5
Imāni kho, bhikkhave, dvattiṁsa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇāni bāhirakāpi isayo dhārenti, no ca kho te jānanti: ‘imassa kammassa kaṭattā idaṁ lakkhaṇaṁ paṭilabhatī’ti.
Này các Tỷ-kheo, những vị ẩn sĩ ngoại đạo thọ trì ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này nhưng không biết là do tạo nghiệp nào mà được những tướng này.
Seers who are outsiders remember these marks, but they do not know the specific deeds performed in the past to obtain each mark.
DN 30, đoạn 37 (SC 37 / PTS 4) — dn30:1.4.1–1.4.4
Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno daḷhasamādāno ahosi kusalesu dhammesu … So tassa kammassa kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người kiên trì và không dao động đối với các thiện Pháp, thiện hành về thân, thiện hành về miệng, thiện hành về ý, phân định bố thí, thủ hộ giới luật, tuân giữ các lễ Bồ tát, hiếu kính với mẹ, hiếu kính với cha, cúng dường Sa-môn, cúng dường Bà-la-môn, tôn kính các bậc đàn anh trong gia đình, và tất cả những vị tối thắng khác. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, cõi Trời hay đời này. … Ngài từ trần từ chỗ kia sanh đến chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này, nghĩa là lòng bàn chân bằng phẳng.
In some past lives, past existences, past abodes the Realized One was reborn as a human being. He firmly and persistently undertook skillful behaviors such as good conduct by way of body, speech, and mind, giving and sharing, taking precepts, observing the sabbath, paying due respect to mother and father, ascetics and brahmins, honoring the elders in the family … Due to performing, accumulating, heaping up, and amassing those deeds, when his body broke up, after death, he was reborn in a good place, a heavenly realm.
DN 30, đoạn 48 (SC 48 / PTS 10) — dn30:1.10.1–1.10.4
Pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato ahosi nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī vihāsi. … so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni tīṇi mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, từ bỏ sát sanh, chế ngự sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương sót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. … Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này, được ba tướng Ðại Trượng phu này: gót chân thon dài, ngón tay, ngón chân dài và tay chân mềm mại.
He gave up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. He was scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings. Due to performing those deeds he was reborn in a heavenly realm. … When he came back to this place he obtained these three marks.
DN 30, đoạn 58 (SC 58 / PTS 16) — dn30:1.16.1–1.16.6
Catūhi saṅgahavatthūhi janaṁ saṅgāhako ahosi—dānena peyyavajjena atthacariyāya samānattatāya. … Mudutalunahatthapādo ca hoti jālahatthapādo ca.
Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, được đầy đủ Bốn Nhiếp pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. … Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: Tay chân mềm mại, và có lưới da giữa ngón tay, ngón chân.
He brought people together using the four ways of being inclusive: giving, kindly words, taking care, and equality. … When he came back to this place he obtained these two marks: his hands and feet are soft and tender, and they are serried.
DN 30, đoạn 113 (SC 113 / PTS 16~48) — dn30:2.16.2–2.16.5
Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato ahosi, saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa. … Ekekalomo ca hoti, uṇṇā ca bhamukantare jātā hoti odātā mudutūlasannibhā.
Này các Tỷ-kheo, Như Lai … lúc xưa làm Người từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói lời chân thật, y chỉ chơn thật, chắc chắn đáng tin cậy, không thất hứa một ai. … Ngài sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh tại chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: mỗi lỗ chân lông là mỗi một sợi lông mọc lên và giữa hai lông mày có tướng bạch hào sanh, màu trắng, mềm mại giống như bông.
He refrained from lying. He spoke the truth and stuck to the truth. He was honest and dependable, and didn’t trick the world with his words. … When he came back to this place he obtained these two marks: his hairs grow one per pore, and between his eyebrows there grows a tuft, soft and white like cotton-wool.
DN 30, đoạn 123 (SC 123 / PTS 22~54) — dn30:2.22.2–2.22.5
Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato ahosi. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā ahosi. … Pahūtajivho ca hoti brahmassaro ca karavīkabhāṇī.
Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn … trong đời trước làm Người, Ngài từ bỏ nói lời độc ác, tránh nói lời độc ác, nói những lời không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người. Ngài nói những lời như vậy. … sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh lại tại chỗ này, Ngài được hai tướng Ðại Trượng phu: lưỡi dài và giọng nói dịu ngọt như tiếng chim Karavīka (Ca-lăng-tần-già).
He refrained from harsh speech. He spoke in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people. … When he came back to this place he obtained these two marks: he has a large tongue, and the voice of the Divinity, like a cuckoo’s call.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
LakkhaṇaTướng, dấu hiệu trên thânTên kinh: Kinh Tướng
MahāpurisaĐại Trượng phu, bậc Đại nhân
MahāpurisalakkhaṇaTướng của bậc Đại Trượng phuCó ba mươi hai (dvattiṁsa) tướng
DvattiṁsaBa mươi hai
Cakkavattī (rājā cakkavattī)Chuyển luân Thánh vươngVua trị nước bằng Chánh pháp, đủ bảy món báu
SammāsambuddhaBậc Chánh Đẳng GiácĐi đôi với arahaṁ — A-la-hán
Loke vivaṭṭacchadoVén lui màn vô minh che đờiCụm từ lặp lại suốt kinh
KammaNghiệp, hành vi có tác ýTrục chính của kinh: mỗi tướng do một nghiệp thiện đời trước
Kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattāDo tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh (của nghiệp ấy)Công thức lặp lại trước mỗi lần nói quả báo
Saṅgahavatthu (catu-)Bốn Nhiếp phápdāna (bố thí), peyyavajja (ái ngữ), atthacariyā (lợi hành), samānattatā (đồng sự)
Pāṇātipātā paṭiviratoTừ bỏ, tránh xa sát sanh
MusāvādaNói láoTừ bỏ nói láo → tướng bạch hào và lông một lỗ một sợi
Pisuṇā vācāNói hai lưỡi, lời chia rẽTừ bỏ → bốn mươi răng, răng không kẽ hở
Pharusā vācāLời nói độc ác, thô ácTừ bỏ → lưỡi rộng dài, phạm âm
SamphappalāpaỶ ngữ, lời nói phù phiếmBản Việt: “lời nói ỷ ngữ”; từ bỏ → hàm như hàm sư tử
Uṇṇā (bhamukantare jātā)Tướng bạch hào giữa hai chân màyMàu trắng, mềm mại như bông
UṇhīsasīsaNhục kế trên đầuDo đời trước dẫn đầu đại chúng trong các thiện pháp
KaravīkaChim Ca-lăng-tần-giàVí dụ cho giọng nói dịu ngọt của Phật
BrahmassaraPhạm âm — giọng nói như Phạm thiên
Micchājīva / sammā-ājīvaTà mạng / chánh mạngTừ bỏ tà mạng → răng đều đặn và sáng chói
UposathaNgày trai giới, lễ Bố-tát
Sugati saggaṁ lokaṁCõi thiện thú, Thiên giới
TathāgataNhư Lai

Đọc lướt thì tưởng đây là bài tả hình dáng. Nhưng xương sống bài kinh nằm ở chữ “vì sao”. Mỗi tướng đều mở bằng: trong đời trước, vị ấy đã làm gì.

Và các cặp nhân–quả rất đáng đọc. Kiên trì trong thiện phápchân đứng vững vàng. Đem lại an vui cho nhiều ngườidưới bàn chân có bánh xe. Nói lời chân thật, hoà hợptướng lưỡi rộng dài. Không sân hận, hay bố thí y phụcda mịn, bụi không bám.

Chỗ hay nhất là phần “quả báo đời này”. Kinh không dừng ở tướng. Nó nói tiếp: có tướng ấy thì đời này được gì. Ví dụ tướng do không chia rẽ người khác mà có thì quả là đồ chúng không bị chia rẽ. Nhân nào quả nấy, và quả lặp lại đúng hình dáng của nhân.

Cần nói rõ một chỗ, kẻo dạy hỏng. Kinh không dạy xem tướng đoán người. Nó đi ngược chiều: từ hành vi mà ra tướng, không phải từ tướng mà đoán số. Dùng bài này để coi tướng là dùng ngược.

Và một chỗ nữa. Kinh nói người có đủ ba mươi hai tướng thì hoặc làm Chuyển Luân Thánh Vương, hoặc thành Phậthai đường, không phải một. Tướng không quyết định. Cùng những tướng ấy mà ra hai cuộc đời hoàn toàn khác nhau.

Vì sao bài này hợp để dạy đoàn sinh. Nó nói rất cụ thể: nói lời hoà hợp thì được gì, không sân hận thì được gì, đem an vui cho người thì được gì. Không trừu tượng. Có thể lấy vài cặp nhân–quả ra dạy mà không cần dạy hết ba mươi hai tướng.

Nhưng xin dạy cho cân. Nếu chỉ kể tướng đẹp thì đoàn sinh nhớ hình dáng mà quên việc làm. Nên đọc theo cặp: làm gì → được gì, và bỏ qua phần mô tả nếu cần.

  • “Đây là sách xem tướng.” Kinh đi từ hành vi ra tướng, không phải từ tướng đoán số.
  • “Có tướng tốt là thành Phật.” Kinh nói hai đường: Chuyển Luân Thánh Vương hoặc Phật.
  • “Tướng là do trời cho.” Kinh nói do nghiệp đời trước — tức do việc đã làm.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy một hai cặp: nói lời hoà thuận thì được người quý.
  • Ngành Thiếu. Cho các em ghép việc làm với quả báo, giấu phần tướng đi.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bàn vì sao cùng ba mươi hai tướng mà ra hai cuộc đời khác nhau.
  • Bài kinh đi theo chiều nào — từ tướng hay từ nghiệp?
  • Kể một cặp nhân–quả mà em nhớ.
  • Vì sao cùng tướng ấy lại có hai đường?
  • Dùng bài này để coi tướng thì sai ở đâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.