G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 20
Trường Bộ · Chư Thiên Mười Phương

Kinh Đại Hội

Mahāsamaya Sutta — DN 20 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Đại Hội

Đây là bài kinh lạ nhất Trường Bộ: gần như chỉ gồm một danh sách tên — hàng trăm chúng chư thiên từ mười phương thế giới về hội. Không có giáo lý nào được giảng. Và chính điều đó đáng nói.

  • Bộ — Trường Bộ, bài 20
  • Nơi chốn — rừng Đại Lâm, Kapilavatthu, cùng năm trăm vị Tỳ-kheo đều là A-La-Hán
  • Thể — phần lớn là kệ liệt kê tên
  • Đặc điểmkhông giảng một giáo lý nào

Kinh Ðại Hội (Mahāsamayasutta) là bài kinh số 20 của Trường Bộ, ghi lại một "đại hội" hy hữu: Thế Tôn đang ở Ðại Lâm, thành Ca-tỳ-la-vệ, với năm trăm vị Tỷ-kheo đều đã chứng A-la-hán, thì chư Thiên khắp mười phương thế giới cùng vân tập về để chiêm ngưỡng Phật và chúng Tăng. Mở đầu, bốn vị Tịnh Cư thiên biến mất khỏi cõi trời và hiện ra trước Thế Tôn, mỗi vị đọc một bài kệ tán thán: kệ thứ nhất tả cảnh "Ðại hội tại Ðại Lâm, Chư Thiên đồng tụ tập"; kệ thứ hai khen chúng Tỷ-kheo "Thiền định, tâm chánh trực... Bậc trí hộ các căn"; kệ thứ ba ví các vị đã đoạn tận kiết sử như voi khéo điều phục; kệ thứ tư là câu được trích tụng nhiều nhất: "Những ai quy y Phật, Sẽ không đọa ác thú". Kế đó Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo rằng chư Phật quá khứ và vị lai cũng đều được một Thiên chúng tối thắng vân tập như vậy, rồi Ngài tuyên bố, cáo tri và thuyết giảng danh tánh chư Thiên. Phần lớn bài kinh là những đoạn kệ liệt kê tên từng nhóm: bảy ngàn Dạ-xoa ở Ca-tỳ-la, sáu ngàn từ Tuyết Sơn, ba ngàn từ Sātā; Kumbhīra ở Vương Xá; bốn vị Ðại Thiên vương trấn bốn phương (Trì Quốc, Tăng Trưởng, Quảng Mục, Ða Văn) cùng các con tên Inda; chúng Càn-thát-bà; các loài Nàgà (Long) và Supannà (Kim Sí điểu) — cả hai vốn thù nghịch nhưng "nhờ ơn Phật an toàn" nên "đều đến quy y Phật"; các Asura; rồi từng nhóm mười vị Thiên tộc nối nhau, tổng cộng sáu mươi Thiên chúng; sau cùng là Ðại Phạm thiên và các Phạm thiên. Cuối kinh, Ác ma (Māra) đem quân đến, ra lệnh bắt trói những ai còn bị tham triền, vỗ tay xuống đất gây tiếng vang khiếp đảm, nhưng phải "thối quân lui, phẫn nộ nhưng bất lực" vì các vị đệ tử đã ly tham, không một sợi lông xao động. Bài kinh khép lại bằng lời tán thán: "Tất cả đều chiến thắng". Với Huynh Trưởng, bài kinh cho thấy hai điều: uy đức của Tam Bảo khiến cả thiên chúng cung kính, và sức mạnh thật sự bảo hộ người tu là sự ly tham, chánh niệm — chứ không phải thần lực bên ngoài. Ở các nước Phật giáo Nam truyền, kinh này thường được tụng như kinh hộ trì (paritta).

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Ðại Lâm, Ca-tỳ-la-vệ, năm trăm A-la-hán — Thế Tôn trú tại bộ lạc Sakka, thành Kapilavatthu, ở Ðại Lâm với khoảng năm trăm Tỷ-kheo đều là A-la-hán; chư Thiên mười phương thế giới phần lớn tụ hội chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo (DN 20.1).
  • Bốn vị Tịnh Cư thiên đến đọc bốn bài kệ — Bốn vị Suddhāvāsa suy nghĩ rồi biến mất khỏi Tịnh Cư thiên, hiện ra trước Thế Tôn, đảnh lễ và mỗi vị đọc một bài kệ (DN 20.2–20.3).
  • 1. Devatāsannipāta — Chư Thiên vân tập: lời Thế Tôn dạy và lời hứa tuyên bố danh tánh chư Thiên — Thế Tôn dạy chư Phật quá khứ và vị lai cũng có Thiên chúng tối thắng vân tập như vậy, và tuyên bố sẽ nói lên danh tánh chư Thiên; các Tỷ-kheo vâng đáp (DN 20.4). Ðây là đề mục duy nhất được đánh trong kinh văn Pāli.
  • Phần kệ mở: pháp nhãn của chúng Tỷ-kheo thấy hàng phi nhân — Kệ tả chư Thiên trú hang núi, tâm thuần tịnh; Bậc Ðạo Sư bảo "Chư Thiên chúng đến gần"; trí khởi lên nơi các Tỷ-kheo, kẻ thấy trăm, ngàn, bảy mươi ngàn, kẻ thấy vô lượng vị khắp mọi phương (DN 20.5–20.6).
  • Liệt kê Dạ-xoa (yakkha) các xứ — Bảy ngàn Dạ-xoa ở Ca-tỳ-la, sáu ngàn từ Tuyết Sơn, ba ngàn từ Sātā, cộng mười sáu ngàn; năm trăm từ Vessāmitta; Kumbhīra ở Vương Xá trú tại Vepulla với hơn trăm ngàn Dạ-xoa (DN 20.7–20.8).
  • Bốn vị Ðại Thiên vương trấn bốn phương — Dhataraṭṭha (Trì Quốc) phương Ðông, chúa tể Càn-thát-bà; Virūḷhaka (Tăng Trưởng) phương Nam, chúa tể Cưu-bàn-trà; Virūpakkha (Quảng Mục) phương Tây, chúa tể loài Nāga; Kuvera (Ða Văn) phương Bắc, chúa tể Dạ-xoa — cùng các con đại lực tên Inda (DN 20.9).
  • Chúng Càn-thát-bà (gandhabba) — Các bộ hạ giả dối xảo quyệt: Māyā, Kuṭeṇḍu, Viṭeṇḍu, Viṭucca, Viṭuṭa, Candana, Kāmaseṭṭha, Kinnughaṇḍu, Nighaṇḍu, Panāda, Opamañña, Mātali người đánh xe chư Thiên, Cittasena, vua Nala, Janesabha, Pañcasikha, Timbaru, Suriyavaccasā (DN 20.10).
  • Long vương (nāga) và Kim Sí điểu (supaṇṇa) cùng quy y Phật — Các Nāga từ Nābhasa, Vesālī, Takkasilā, Kambala, Assatara, Payāga, Yamunā, Dhataraṭṭha, Erāvaṇa; các thiên điểu Citrā và Supaṇṇā vốn bắt Long vương, nhưng nhờ Phật mà Long vương được an ổn, hai bên lấy lời nhẹ nhàng khuyên nhau và đều quy y Phật (DN 20.11).
  • Chúng A-tu-la (asura) — Các Asura ở biển bị Kim Cang thủ đánh bại: Kālakañja, Dānaveghasa, Vepacitti, Sucitti, Pahārāda, Namuci, trăm con của Bali đều tên Verocana; quân Bali đến với Rāhu (DN 20.12).
  • Sáu nhóm "mười vị Thiên tộc" nối nhau vân tập — Thần nước, đất, lửa, gió, Varuṇa, Soma, Yasa, chư Thiên Từ Bi sanh (DN 20.13); Veṇḍu, Sahalī, Asama, Yama, Nguyệt tộc, Nhật tộc, Vāsava–Sakka (DN 20.14); Sahabhū, Ariṭṭhaka, Roja, Varuṇa, Sahadhamma, Accuta, Anejaka, Sūleyya-rucira, Vāsavanesī (DN 20.15); Samāna, Mahāsamāna, Mānusa, Mānusuttama, Khiḍḍāpadosika, Manopadosika, Haraya, Lohitavāsī, Pāraga, Mahāpāraga (DN 20.16); Sukka, Karambha, Aruṇa, Veghanasa, Odātagayha, Vicakkhaṇa, Sadāmatta, Hāragaja, Missaka, Pajjuna (DN 20.17); Khemiya, Tusita, Yāma, Kaṭṭhaka, Lambītaka, Lāmaseṭṭha, Jotināma, Āsava, Nimmānarati (Hóa Lạc), Paranimmita (Tha Hóa Tự Tại) (DN 20.18). (Danh sách này còn nhóm mandavalāhakā — chư Thiên mây, đi cùng các tinh tú đi trước — ở dn20:14.7–14.8.)
  • Tổng kết sáu mươi Thiên chúng — "Sáu mươi Thiên chúng này" theo danh tộc mà đến, cùng nhiều vị khác, để thấy bậc đã đoạn sanh, đã vượt bộc lưu, vô lậu (DN 20.19).
  • Chư Phạm thiên và Ðại Phạm thiên — Subrahmā, Paramatta, Sanaṅkumāra, Tissa; Ðại Phạm thiên ngự trị ngàn Phạm giới; mười đấng Tự Tại và Hārita cùng đồ chúng (DN 20.20).
  • Ma quân (Māra) kéo đến và bị thối lui — Ác ma ra lệnh bắt trói những ai bị tham triền, vỗ tay xuống đất gây tiếng vang khiếp đảm như giông tố sấm chớp, rồi thối quân lui, phẫn nộ nhưng bất lực (DN 20.21).
  • Kết: chúng Tỷ-kheo ly tham, không xao động — tất cả đều chiến thắng — Bậc Ðạo Sư bảo "Ma quân đã tiến đến; Tỷ-kheo hãy biết chúng"; kẻ thù bỏ đi trước những vị ly tham, không một sợi lông xao động; "Tất cả đều chiến thắng" (DN 20.22).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 20.1.2–1.3 (SC 2)
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ mahāvane mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sabbeheva arahantehi; dasahi ca lokadhātūhi devatā yebhuyyena sannipatitā honti bhagavantaṁ dassanāya bhikkhusaṅghañca.
Một thời, Thế Tôn trú tại bộ lạc Sakka (Thích-ca), thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở Ðại Lâm (Mahāvana), cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế giới phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, in the Great Wood near Kapilavatthu, together with a large Saṅgha of five hundred mendicants, all of whom were perfected ones. And most of the deities from ten solar systems had gathered to see the Buddha and the Saṅgha of mendicants.
DN 20.3.4–3.7 (SC 5) — bài kệ thứ nhất của vị Tịnh Cư thiên
“Mahāsamayo pavanasmiṁ,
Devakāyā samāgatā;
Āgatamha imaṁ dhammasamayaṁ,
Dakkhitāye aparājitasaṅghan”ti.
Ðại hội tại Ðại Lâm
Chư Thiên đồng tụ tập.
Chúng con đến Pháp hội
Ðảnh lễ chúng Bất Thắng.
“There's a great congregation in the woods, where heavenly hosts have assembled. We've come to this righteous congregation to see the invincible Saṅgha!”
DN 20.3.9–3.12 (SC 7) — bài kệ thứ hai
“Tatra bhikkhavo samādahaṁsu,
Cittamattano ujukaṁ akaṁsu;
Sārathīva nettāni gahetvā,
Indriyāni rakkhanti paṇḍitā”ti.
Tại đây chúng Tỷ-kheo
Thiền định, tâm chánh trực.
Như chủ xe nắm cương,
Bậc trí hộ các căn.
“The mendicants there are immersed in samādhi, they've straightened their own minds. Like a charioteer holding the reins, the astute ones protect their senses.”
DN 20.3.19–3.22 (SC 11) — bài kệ thứ tư, câu được trích tụng nhiều nhất
“Ye keci buddhaṁ saraṇaṁ gatāse,
Na te gamissanti apāyabhūmiṁ;
Pahāya mānusaṁ dehaṁ,
Devakāyaṁ paripūressantī”ti.
Những ai quy y Phật,
Sẽ không đọa ác thú,
Sau khi bỏ thân người,
Sẽ sanh làm chư Thiên.
“Anyone who has gone to the Buddha for refuge won't go to a plane of loss. After giving up this human body, they swell the heavenly host.”
DN 20.4.3–4.8 (SC 13) — có lược bớt đoạn về chư Phật vị lai, đánh dấu bằng (...)
Yepi te, bhikkhave, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṁ etapparamāyeva devatā sannipatitā ahesuṁ seyyathāpi mayhaṁ etarahi. … Ācikkhissāmi, bhikkhave, devakāyānaṁ nāmāni; kittayissāmi, bhikkhave, devakāyānaṁ nāmāni; desessāmi, bhikkhave, devakāyānaṁ nāmāni. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
Này các Tỷ-kheo, những vị nào trong thời quá khứ đã là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những vị này được một Thiên chúng tối thắng tụ hội xung quanh, như Ta hiện nay vậy. (...) Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ tuyên bố danh tánh của chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ cáo tri danh tánh của chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng danh tánh của chư Thiên. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
“Those who were perfected ones, fully awakened Buddhas in the past also had gatherings of deities that were at best like the gathering for me now. … I shall declare the names of the heavenly hosts; I shall extol the names of the heavenly hosts; I shall teach the names of the heavenly hosts. Listen and apply your mind well, I will speak.”
DN 20.9.1–9.4 (SC 27) — mở đầu phần Bốn Ðại Thiên vương
Purimañca disaṁ rājā,
dhataraṭṭho pasāsati;
Gandhabbānaṁ adhipati,
mahārājā yasassiso.
Vua Dhataraṭṭha (Trì Quốc Thiên vương)
Trị vì tại phương Ðông,
Chúa tể Càn-thát-bà
Bậc đại vương danh tiếng.
King Dhataraṭṭha rules the eastern quarter. Lord of the centaurs, he's a great king, glorious.
DN 20.11.13–11.16 (SC 35)
Abhayaṁ tadā nāgarājānamāsi,
Supaṇṇato khemamakāsi buddho;
Saṇhāhi vācāhi upavhayantā,
Nāgā supaṇṇā saraṇamakaṁsu buddhaṁ.
Long vương không sợ hãi,
Nhờ ơn Phật an toàn
Với những lời nhẹ nhàng,
Chúng tự khuyên bảo nhau,
Nàgà, Supannà (Kim Sí điểu)
Ðều đến quy y Phật.
But the dragon kings remained fearless, for the Buddha kept them safe from the phoenixes. Wooing each other with gentle words, the dragons and phoenixes took the Buddha as refuge.
DN 20.22.5–22.12 (SC 57) — đoạn kết
‘Mārasenā abhikkantā,
te vijānātha bhikkhavo’;
Te ca ātappamakaruṁ,
sutvā buddhassa sāsanaṁ;
Vītarāgehi pakkāmuṁ,
nesaṁ lomāpi iñjayuṁ.
‘Sabbe vijitasaṅgāmā,
bhayātītā yasassino;
“Ma quân đã tiến đến;
Tỷ-kheo hãy biết chúng”.
Nghe lời dạy đức Phật,
Ðại chúng tâm nhiệt tình.
Kẻ thù đã bỏ đi,
Xa vô tham, vô úy.
Tất cả đều chiến thắng,
Vô úy và vô xưng!
“Māra's army has arrived; mendicants, you should be aware of them.” Those monks grew keen, hearing the Buddha's instruction. The army fled from those free of passion, and not a single hair was stirred! “All triumphant in battle, so fearless and glorious.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
mahāsamayađại hội, cuộc tụ hội lớntên bài kinh; bản Anh của Sujato dịch "The Great Congregation"
devakāyaThiên chúng, chúng chư Thiênkinh liệt kê tổng cộng sáu mươi Thiên chúng (saṭṭhete devanikāyā)
suddhāvāsaTịnh Cư thiêncõi của bốn vị Thiên đến đọc kệ mở đầu
arahantA-la-hán, bậc đã đoạn tận lậu hoặcnăm trăm Tỷ-kheo trong hội đều là A-la-hán
yakkhaDạ-xoabản Anh dịch "spirits"
gandhabbaCàn-thát-bà, nhạc thầndo vua Dhataraṭṭha thống lãnh
kumbhaṇḍaCưu-bàn-tràdo vua Virūḷhaka thống lãnh
nāgaLong, rồngdo vua Virūpakkha thống lãnh
supaṇṇaKim Sí điểu, thần điểuvốn bắt Long vương, nhưng cùng Nāga quy y Phật
asuraA-tu-labị Vajirahattha (Kim Cang thủ) đánh bại, trú ở biển
cattāro mahārājāBốn vị Ðại Thiên vươngDhataraṭṭha (Trì Quốc), Virūḷhaka (Tăng Trưởng), Virūpakkha (Quảng Mục), Kuvera (Ða Văn)
brahmā / mahābrahmāPhạm thiên / Ðại Phạm thiênngự trị ngàn Phạm giới (sahassaṁ brahmalokānaṁ)
Māra / kaṇhaÁc ma / Hắc quỷđem ma quân đến rồi phải thối lui
samādhithiền định, địnhtrong kệ "Tại đây chúng Tỷ-kheo Thiền định, tâm chánh trực"
indriyacác căn"Bậc trí hộ các căn" — indriyāni rakkhanti paṇḍitā
saraṇaquy y, nương tựabuddhaṁ saraṇaṁ gatāse — những ai quy y Phật
apāyabhūmiác thú, cõi đọa"Sẽ không đọa ác thú"
oghabộc lưu, dòng nước lũ (dục, hữu, kiến, vô minh)oghatiṇṇa — đã vượt bộc lưu
anāsavavô lậu, không còn lậu hoặctrong kệ tổng kết sáu mươi Thiên chúng
vītarāgaly thamma quân bỏ chạy trước những vị ly tham
parittakinh hộ trìkhông phải chữ trong kinh văn; đây là ghi chú về truyền thống tụng kinh này ở các nước Nam truyền

Nói thẳng: bài này khó đọc. Hàng trăm cái tên lạ — chư thiên, long vương, kim-sí-điểu, càn-thát-bà, dạ-xoa — nối nhau thành kệ. Người đọc lần đầu thường bỏ giữa chừng, và điều đó bình thường.

Nhưng vì sao nó nằm trong Trường Bộ?nó ghi lại một sự việc, không phải một bài giảng. Chỗ đáng chú ý: năm trăm vị Tỳ-kheo đều đã là A-La-Hán — và chư thiên mười phương tới xem. Bài kinh là một bản ghi chép, không phải một bài dạy.

Một điều bài kinh nói mà không cần nói ra. Đức Phật gọi tên được từng chúngbiết ai đang có mặt. Trong văn cảnh Ấn Độ thời ấy, biết tên là biết bản chất. Danh sách dài chính là cách nói rằng không có gì ngoài tầm biết của Ngài.

Có nhóm không đến với thiện ý. Kinh ghi cả Ma vương và quyến thuộc tới, và Đức Phật bảo chư Tỳ-kheo biết rõ điều ấy. Kinh không vẽ ra một cảnh toàn tốt đẹp.

Bài này về sau được dùng làm bài tụng hộ trì. Cũng như DN 32. Xin thưa rõ: công dụng ấy là do truyền thống về sau, kinh văn không nói gì về việc tụng bài này để được che chở.

Vậy dạy bài này thế nào cho phải. Đừng bắt đoàn sinh học thuộc tên. Hai điều đáng lấy: một hội chúng tu hành nghiêm túc thì cả trời người đều lưu ý; và trong hội ấy vẫn có mặt Ma vươngchỗ đông người tu không có nghĩa là chỗ không còn nguy.

Chỗ chúng tôi phải sửa. Bản tra cứu bỏ sót nhóm mandavalāhakā — chư thiên mây, đi cùng các tinh tú đi trước — nên danh sách nêu chưa đủ mười nhóm. Đã bổ sung.

  • “Tụng bài này thì được chư thiên hộ trì.” Kinh văn không nói vậy; đó là công dụng do truyền thống về sau.
  • “Phải học thuộc các tên.” Không cần. Danh sách là cách nói, không phải bài học thuộc lòng.
  • “Đây là cảnh toàn thiện.” Ma vương cũng có mặt, và kinh nói rõ.
  • Ngành Oanh. Đừng dạy bài này. Nếu muốn, chỉ một ý: khi mọi người cùng tu, ai cũng để ý tới.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao có bài kinh không dạy gì cả mà vẫn được giữ lại?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bàn về chỗ khác nhau giữa kinh văn và công dụng truyền thống — bài này là ví dụ rõ nhất.
  • Vì sao một bài kinh gần như chỉ có tên vẫn được giữ?
  • Việc gọi được tên nói lên điều gì?
  • Ma vương có mặt trong hội — điều đó nói gì?
  • Kinh văn nói gì, và truyền thống thêm gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.