"about": { "@type": "Thing", "name": "Parinibbāna · Theravāda Buddhism" }, "isPartOf": { "@type": "Book", "name": "Dīgha Nikāya", "url": "https://www.gdpthuyenquang.com/kinh/truong-bo.html" }, "publisher": { "@type": "Organization", "name": "Gia Đình Phật Tử Huyền Quang", "url": "https://www.gdpthuyenquang.com/" } }
G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 10
Trường Bộ · Sau Khi Đức Phật Nhập Diệt

Kinh Subha

Subha Sutta — DN 10 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Subha

Đức Phật vừa nhập diệt. Một thanh niên Bà-la-môn hỏi Tôn giả Ānanda đúng câu ai cũng muốn biết: Tôn giả hầu cận Thế Tôn — vậy Thế Tôn tán thán những pháp nào và an trú mọi người vào những pháp nào? Tôn giả đáp bằng ba chữ: giới – định – tuệ. Rồi trọn con đường tu được xếp lại dưới ba khối ấy.

  • Bộ — Trường Bộ, bài 10, thuộc Phẩm Giới Uẩn.
  • Thời điểmkhông lâu sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn (aciraparinibbute bhagavati). Đây là một trong rất ít bài Trường Bộ xảy ra sau khi Phật diệt độ.
  • Người thuyếtTôn giả Ānanda. Đức Phật không có mặt trong bài kinh này.
  • Người hỏi — thanh niên Subha, con của Todeyya. Cùng tên và cùng dòng dõi với người hỏi trong Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt (MN 135) và trong Kinh Subha (MN 99).
  • Chi tiết ít ai để ý — Tôn giả Ānanda từ chối lời mời hôm trước“hôm nay tôi có uống thuốc”, và hôm sau đi cùng Tôn giả Cetaka làm vị Sa-môn thứ hai.

Bài kinh mở ra ở một thời điểm rất riêng: Đức Phật vừa nhập diệt, Tôn giả Ānanda trú ở Jetavana, vườn ông Cấp Cô Độc, thành Sāvatthī. Thanh niên Subha con của Todeyya đang có việc ở Sāvatthī, sai một thanh niên đến thỉnh Tôn giả về nhà. Tôn giả từ chối hôm ấy — lý do rất người: hôm nay tôi có uống thuốc — và hẹn hôm sau. Hôm sau Ngài đi, có Tôn giả Cetaka đi cùng. Subha hỏi một câu gọn mà lớn: “Tôn giả Ānanda là thị giả của Tôn giả Gotama, sống gần Ngài, hầu cận Ngài. Vậy Tôn giả Gotama tán thán những pháp nàoan trú quần chúng vào những pháp nào?” Tôn giả Ānanda đáp: Thế Tôn tán thán ba pháp uẩn (khandha — ba khối) và an trú quần chúng vào đó: Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn. Phần còn lại của bài kinh là trọn tiến trình tu tập — vẫn nguyên văn ấy đã có trong Kinh Sa-Môn Quả (DN 2) — nhưng lần này được chia lại thành ba khối: Một là giới uẩn. Như Lai ra đời, thuyết pháp; có người nghe pháp sanh lòng tin, thấy “đời sống gia đình chật hẹp đầy bụi bặm, đời sống xuất gia thênh thang như hư không”, bèn xuất gia. Rồi giữ giới: bỏ sát sanh, trộm cắp, phi phạm hạnh, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm; bỏ các nghề tà mạng như xem tướng, đoán mộng, cúng sao, làm bùa, chữa bệnh lấy tiền. Vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh thì không thấy sợ hãi từ bất cứ phương nàonhư vị vua đã thắng địch không còn thấy nguy từ phía nào — và hưởng lạc không tội lỗi ở nội tâm. Hai là định uẩn. Hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, biết đủ; tìm chỗ vắng, ngồi kiết-già, đoạn trừ năm triền cái; rồi lần lượt chứng Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Ba là tuệ uẩn. Hướng tâm đến tri kiến, đến hoá tâm, đến các thần thông, đến thiên nhĩ, đến tha tâm thông, đến túc mạng minh, đến thiên nhãn minh, và cuối cùng đến lậu tận minh — biết như thật “đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt”, tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Mỗi bước tuệ đều kèm một ví dụ: người đi từ làng mình sang làng khác rồi trở về, nhớ lại từng chỗ đứng chỗ ngồi (túc mạng); người đứng trên lầu giữa ngã tư nhìn người ra vào (thiên nhãn); hồ nước trong vắt giữa núi, người mắt sáng đứng bờ thấy rõ sò ốc, sạn sỏi và đàn cá (lậu tận). Nghe xong, Subha thốt lên: “Thật vi diệu thay! Thánh tuệ uẩn này thật viên mãn, không thiếu sót gì cả. Con không thấy một Thánh tuệ uẩn viên mãn như vậy ở các Sa-môn, Bà-la-môn ngoài đây.” Ông xin quy y Phật, Pháp, Tăng và xin làm cư sĩ trọn đời.

Bố cục bài kinhBa khối, theo tên trong ấn bản Mahāsaṅgīti

  • Mở đầu (đoạn 1.1–1.6) — Sau khi Phật nhập diệt; Subha thỉnh Tôn giả Ānanda; câu hỏi và câu đáp ba khối.
  • 1. Sīlakkhandha — Giới uẩn (đoạn 1.6.5–1.29) — Xuất gia; ba bậc giới hạnh; bỏ tà mạng (bói toán, cúng sao, bùa chú, chữa bệnh lấy tiền); ví dụ vị vua đã thắng địch; lạc không tội lỗi.
  • 2. Samādhikkhandha — Định uẩn (đoạn 2.1–2.19) — Hộ trì các căn; chánh niệm tỉnh giác; biết đủ; đoạn năm triền cái; bốn thiền.
  • 3. Paññākkhandha — Tuệ uẩn (đoạn 2.20–2.37)Tám bước: tri kiến · hoá tâm · thần túc · thiên nhĩ · tha tâm · túc mạng · thiên nhãn · lậu tận. Kết: “không còn gì phải làm nữa”, Subha quy y.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 10.1
(dn10:1.1.2)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme aciraparinibbute bhagavati.
Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Ānanda trú tại Sāvatthī, rừng Jeta, vườn ông Anāthapiṇḍika, khi Thế Tôn nhập diệt không bao lâu.
So I have heard. At one time Venerable Ānanda was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. It was not long after the Buddha had become fully quenched.
DN 10.1
(dn10:1.4.3)
Akālo kho, māṇavaka. Atthi me ajja bhesajjamattā pītā.
Này thanh niên, nay không phải thời. Hôm nay tôi có uống thuốc.
“It’s not the right time, young student. I have drunk a dose of medicine today.”
DN 10.1
(dn10:1.5.3–1.5.5)
Bhavañhi ānando tassa bhoto gotamassa dīgharattaṁ upaṭṭhāko santikāvacaro samīpacārī. Bhavametaṁ ānando jāneyya, yesaṁ so bhavaṁ gotamo dhammānaṁ vaṇṇavādī ahosi, yattha ca imaṁ janataṁ samādapesi nivesesi patiṭṭhāpesi. Katamesānaṁ kho, bho ānanda, dhammānaṁ so bhavaṁ gotamo vaṇṇavādī ahosi; kattha ca imaṁ janataṁ samādapesi nivesesi patiṭṭhāpesī”ti?
Tôn giả Ānanda là thị giả của Tôn giả Gotama, sống gần Ngài, ở một bên Ngài. Vậy Tôn giả Ānanda hẳn biết Tôn giả Gotama tán thán những pháp nào, và Ngài đã khích lệ, an trú, làm cho quần chúng đứng vững trong những pháp nào?
“Worthy Ānanda, you were the worthy Gotama’s attendant. You were close to him, living in his presence. You ought to know what things the worthy Gotama praised, and in which he encouraged, settled, and grounded all these people. What were those things?”
DN 10.1
(dn10:1.6.1–1.6.3)
Tiṇṇaṁ kho, māṇava, khandhānaṁ so bhagavā vaṇṇavādī ahosi; ettha ca imaṁ janataṁ samādapesi nivesesi patiṭṭhāpesi. Katamesaṁ tiṇṇaṁ? Ariyassa sīlakkhandhassa, ariyassa samādhikkhandhassa, ariyassa paññākkhandhassa.
Này thanh niên, Thế Tôn tán thán ba pháp uẩn, và Ngài đã khích lệ, an trú quần chúng vào ba pháp uẩn ấy. Thế nào là ba? Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn.
“Student, the Buddha praised three spectrums of practice, and that’s what he encouraged, settled, and grounded all these people in. What three? The spectrums of noble ethics, noble immersion, and noble wisdom.
DN 10.1
(dn10:1.8.4–1.8.5)
Sambādho gharāvāso rajopatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
Ðời sống gia đình bị gò bó, con đường đầy những bụi đời; đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc.
“Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell.”
DN 10.1
(dn10:1.29.2 và 1.29.4)
Seyyathāpi, māṇava, rājā khattiyo muddhāvasitto nihatapaccāmitto na kutoci bhayaṁ samanupassati, yadidaṁ paccatthikato; evameva kho, māṇava, bhikkhu evaṁ sīlasampanno na kutoci bhayaṁ samanupassati, yadidaṁ sīlasaṁvarato. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
Này thanh niên, ví như một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa. Cũng vậy, vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh, không thấy sợ hãi từ một chỗ nào cả về phương diện hộ trì giới hạnh. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc không khuyết phạm.
“It’s like a king who has defeated his enemies. He sees no danger from his foes in any quarter. In the same way, a mendicant thus accomplished in ethics sees no danger in any quarter in regards to their ethical restraint. When they have this spectrum of noble ethics, they experience a blameless happiness inside themselves.”
DN 10.2
(dn10:2.36.1)
Seyyathāpi, māṇava, pabbatasaṅkhepe udakarahado accho vippasanno anāvilo; tattha cakkhumā puriso tīre ṭhito passeyya sippisambukampi sakkharakathalampi macchagumbampi carantampi tiṭṭhantampi.
Này thanh niên, ví như tại dãy núi, có một hồ nước trong veo, không cấu nhiễm; một người có mắt đứng trên bờ nhìn xuống thấy rõ con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, và những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên.
“Suppose that in a mountain glen there was a lake that was transparent, clear, and unclouded. A person with clear eyes standing on the bank would see the clams and mussels, pebbles and gravel, and schools of fish swimming about or staying still.”
DN 10.2
(dn10:2.37.3–2.37.6)
Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda. So cāyaṁ, bho ānanda, ariyo paññākkhandho paripuṇṇo, no aparipuṇṇo. Evaṁ paripuṇṇaṁ cāhaṁ, bho ānanda, ariyaṁ paññākkhandhaṁ ito bahiddhā aññesu samaṇabrāhmaṇesu na samanupassāmi. Natthi ca me ito uttari karaṇīyaṁ.
Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Thánh tuệ uẩn này thật viên mãn, không phải không viên mãn. Con không thấy một Thánh tuệ uẩn viên mãn như vậy ở các Sa-môn, Bà-la-môn nào ngoài đây. Và không còn gì hơn nữa cần phải làm.
“It’s incredible, worthy Ānanda, it’s amazing! This spectrum of noble wisdom is complete, not lacking anything! Such a complete spectrum of wisdom cannot be seen among the other ascetics and brahmins. And there is nothing more to be done.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
khandhauẩn — khối, nhóm, phầnỞ đây không phải năm uẩn (sắc thọ tưởng hành thức). Cùng một chữ, hai nghĩa khác nhau — chỗ rất dễ lẫn.
sīlakkhandhagiới uẩnCũng là tên của Phẩm I Trường Bộ (13 bài đầu).
samādhikkhandhađịnh uẩnTừ hộ trì các căn cho tới Tứ thiền.
paññākkhandhatuệ uẩnTám bước, chấm dứt ở lậu tận minh.
aciraparinibbute bhagavatikhi Thế Tôn nhập diệt không bao lâuCâu định vị thời điểm của cả bài. Rất ít bài kinh mở đầu như vậy.
bhesajjamattā pītāđã uống một liều thuốcLý do Tôn giả Ānanda hoãn lại một ngày. Kinh chép cả những chi tiết đời thường như vậy.
anavajjasukhalạc không tội lỗiNiềm vui do giữ giới sanh ra — vui mà không phải hối.
tiracchānavijjātà mạng, “nghề thấp kém”Kinh kể rõ: xem tướng, đoán mộng, cúng sao giải hạn, làm bùa, xem đất cất nhà, chữa bệnh lấy tiền. Người tu từ bỏ những nghề ấy.
upaṭṭhākathị giảChữ Subha dùng để gọi Tôn giả Ānanda — lý do khiến ông tin lời đáp.
CetakaTôn giả CetakaVị Sa-môn thứ hai đi cùng. Chỉ xuất hiện đúng một lần trong bài này.

Đây là chỗ kinh tạng xếp giáo pháp thành “giới – định – tuệ”. Nội dung thì không mới — vẫn là tiến trình tu tập đã có trong Kinh Sa-Môn Quả (DN 2). Cái mới là cách xếp: cùng một con đường ấy được chia rành mạch làm ba khối. Về sau ba chữ này thành khung xương của cả Phật giáo.

Người nói là Ānanda, và Phật đã diệt độ — điều ấy có ý nghĩa riêng. Bài kinh vừa là một bài pháp, vừa là một bằng chứng: Chánh pháp vẫn được trao truyền nguyên vẹn khi bậc Đạo Sư không còn. Người hỏi không hỏi “Phật đâu rồi” mà hỏi “Phật đã dạy gì” — và câu trả lời đủ khiến ông quy y trọn đời.

Hai chi tiết nhỏ rất đáng quý. Tôn giả hoãn lại một ngày vì hôm ấy có uống thuốc; và hôm sau đi cùng một vị thứ hai chứ không đi một mình tới nhà cư sĩ. Kinh chép nguyên những chi tiết ấy — vừa là nếp sống, vừa cho thấy bản kinh không được gọt cho đẹp.

Một chỗ dễ lẫn phải nói rõ. Chữ khandha (uẩn) trong giới uẩn – định uẩn – tuệ uẩn không phải chữ khandha trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Ở đây nó chỉ có nghĩa “khối, nhóm”. Cùng một chữ, hai chỗ dùng khác hẳn nhau.

  • “Ba uẩn này là năm uẩn.” Không phải. Khandha ở đây chỉ nghĩa là khối / nhóm.
  • “Bài này do Đức Phật thuyết.” Không. Đức Phật đã nhập diệt; người thuyết là Tôn giả Ānanda.
  • “Thần thông là mục đích.” Các thần thông nằm trong tuệ uẩn, nhưng tuệ uẩn kết thúc ở lậu tận, không kết thúc ở thần thông.
  • “Giới uẩn chỉ dành cho người xuất gia.” Bài này thuyết cho một cư sĩ Bà-la-môn, và ông xin làm cư sĩ trọn đời chứ không xuất gia.
  • Ngành Oanh. Ví dụ hồ nước trong trên núi: nước lặng thì thấy cả đàn cá. Tâm lặng thì thấy rõ. Có thể khuấy một ly nước đục rồi để yên cho các em xem.
  • Ngành Thiếu. Học thuộc ba chữ: giới – định – tuệ. Hỏi các em xếp một việc thường ngày vào khối nào.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. So DN 10 với DN 2: cùng một nội dung, hai cách xếp. Bài tập rất tốt về cách trình bày giáo pháp.
  • Vì sao Subha lại hỏi Tôn giả Ānanda mà không hỏi ai khác?
  • Vì sao thứ tự lại là giới trước, chứ không bắt đầu bằng thiền định?
  • Ví dụ vị vua đã thắng địch nói gì về người giữ giới?
  • Bậc Đạo Sư không còn mà giáo pháp vẫn được trao lại nguyên vẹn — điều đó nói lên gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Tên bài trong bản Việt là “Kinh Subha (Tu-bà)”. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.