Bà-la-môn Soṇadaṇḍa nêu năm điều làm nên một Bà-la-môn. Đức Phật hỏi: bỏ bớt một điều được không? Và chính ông tự rút xuống — Ngài không ép một câu nào.
Phần I · Xuất Xứ
- Bộ — Trường Bộ, bài 4
- Nơi chốn — Campā, bên hồ Gaggarā
- Năm điều — thọ sanh, chú thuật, dung sắc, giới hạnh, trí tuệ
- Kết — còn lại giới và tuệ, không bỏ thêm được
✦
Phần II · Bài Kinh Nói Gì
Kinh Chủng Đức là bài kinh thứ 4 của Trường Bộ. Thế Tôn du hành xứ Anga cùng khoảng năm trăm vị Tỷ-kheo, đến thành Campà, ở trên bờ hồ Gaggara. Dân Campà kéo nhau đi yết kiến Phật. Bà-la-môn Soṇadaṇḍa (Chủng Đức), một vị niên cao lạp lớn, được vua Bimbisāra ban tịnh ấp, cũng muốn đi. Năm trăm Bà-la-môn khách can ngăn, cho rằng đi yết kiến một Sa-môn trẻ tuổi thì "danh tiếng bị hao tổn". Soṇadaṇḍa đáp lại bằng cách kể ra rất nhiều đức của Sa-môn Gotama, kết luận: chính chúng ta mới xứng đáng đi yết kiến Ngài.
Trên đường đi và cả khi đã ngồi xuống, Soṇadaṇḍa vẫn lo lắng: sợ hỏi vụng, sợ đáp không xong, sợ hội chúng khinh miệt, mất danh tiếng thì mất cúng dường. Thế Tôn biết tâm ấy nên hỏi ngay một câu thuộc sở trường của ông: người Bà-la-môn phải đầy đủ bao nhiêu đức tánh mới thật là Bà-la-môn?
Soṇadaṇḍa nêu năm: thọ sanh (huyết thống bảy đời), chú thuật (thông ba tập Vedà), dung sắc, giới hạnh, và trí tuệ. Thế Tôn hỏi có thể bớt một được không. Ông tự bỏ dung sắc, rồi bỏ chú thuật, rồi bỏ thọ sanh — còn lại hai: giới hạnh và trí tuệ. Các Bà-la-môn kia phản đối, nhưng ông chỉ ngay cháu mình là thanh niên Angaka: đẹp trai, thuộc chú thuật, dòng dõi thanh tịnh — nhưng nếu nó sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu thì dung sắc, chú thuật, thọ sanh làm được gì?
Đến khi Thế Tôn hỏi có thể bỏ một trong hai không, ông đáp: không thể. "Trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh", như lấy tay rửa tay, lấy chân rửa chân. Thế Tôn ấn khả, rồi giảng thế nào là giới (theo Kinh Sa-môn quả) và thế nào là tuệ (bốn thiền cho đến tri kiến). Soṇadaṇḍa xin quy y Tam Bảo trọn đời và thỉnh Phật cùng chúng Tăng thọ trai.
Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn
- 1. Các Bà-la-môn và gia chủ ở Campà (Campeyyakabrāhmaṇagahapatikā) — Thế Tôn đến Campà, ở bờ hồ Gaggara. Tiếng đồn tốt đẹp về Ngài lan truyền; các Bà-la-môn và gia chủ từng đoàn lũ lượt đi ra khỏi Campà đến hồ Gaggara.
- 2. Các đức của Soṇadaṇḍa (Soṇadaṇḍaguṇakathā) — Soṇadaṇḍa sai người gác cửa nhắn hội chúng chờ. Năm trăm Bà-la-môn từ nhiều địa phương can ngăn, liệt kê các ưu điểm của ông (thọ sanh, giàu có, chú thuật, dung sắc, thiện ngôn, tôn sư, niên cao lạp lớn, được vua và Bà-la-môn Pokkharasāti kính trọng) để nói rằng chính Sa-môn Gotama mới nên đến yết kiến ông.
- 3. Các đức của đức Phật (Buddhaguṇakathā) — Soṇadaṇḍa lần lượt kể các đức của Sa-môn Gotama: thiện sanh, xuất gia từ bỏ đại gia đình và tài sản, xuất gia lúc thanh niên, đầy đủ giới hạnh, thiện ngôn, đã diệt trừ tham dục, chủ trương về nghiệp, đủ ba mươi hai tướng tốt, được vua Bimbisāra, vua Pasenadi, Bà-la-môn Pokkharasāti quy y… và kết luận Ngài có vô lượng ưu điểm; lại thêm lẽ Ngài là khách của địa phương. Các Bà-la-môn đồng ý cùng đi.
- 4. Soṇadaṇḍa phân vân lo lắng (Soṇadaṇḍaparivitakka) — Trên đường đi và khi đã ngồi xuống, Soṇadaṇḍa lo sợ bị hội chúng khinh miệt vì hỏi hoặc đáp không khéo, danh tiếng giảm thì cúng dường giảm; ông mong Sa-môn Gotama hỏi mình câu thuộc ba quyển Vedà. Thế Tôn biết tâm ấy nên hỏi đúng câu ấy.
- 5. Thế nào là Bà-la-môn (Brāhmaṇapaññatti) — Soṇadaṇḍa nêu năm đức tánh: thọ sanh, chú thuật (ba tập Vedà), dung sắc, giới hạnh, trí tuệ. Thế Tôn hỏi bớt dần: ông bỏ dung sắc, bỏ chú thuật, bỏ thọ sanh, còn lại giới hạnh và trí tuệ. Các Bà-la-môn phản đối; Thế Tôn để hai bên tự biện luận; Soṇadaṇḍa lấy chính người cháu là thanh niên Angaka làm ví dụ để chứng minh.
- 6. Bàn về giới và tuệ (Sīlapaññākathā) — Thế Tôn hỏi có thể bỏ một trong hai không; Soṇadaṇḍa đáp không thể, vì giới và tuệ rửa sạch cho nhau như tay rửa tay, chân rửa chân. Thế Tôn ấn khả rồi hỏi: thế nào là giới hạnh, thế nào là trí tuệ, và giảng theo Kinh Sa-môn quả (giới đầy đủ; bốn thiền cho đến tri kiến).
- 7. Soṇadaṇḍa tự nhận là cư sĩ (Soṇadaṇḍaupāsakattapaṭivedanā) — Soṇadaṇḍa tán thán, xin quy y Phật – Pháp – Tăng trọn đời, thỉnh Phật và chúng Tỷ-kheo thọ trai. Hôm sau, sau bữa cơm, ông thưa về việc giữ thể diện trước hội chúng (chắp tay vái chào, tháo khăn đầu, hạ cán roi, vẫy tay xin được xem là đảnh lễ). Thế Tôn thuyết pháp làm ông hoan hỷ rồi từ biệt.
Phần III · Đoạn Trích
Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
DN 4, SC 54 (PTS 11)
“Katihi pana, brāhmaṇa, aṅgehi samannāgataṁ brāhmaṇā brāhmaṇaṁ paññapenti; ‘brāhmaṇosmī’ti ca vadamāno sammā vadeyya, na ca pana musāvādaṁ āpajjeyyā”ti?
—Này Bà-la-môn, những vị Bà-la-môn phải đầy đủ bao nhiêu đức tính mới được gọi là Bà-la-môn, và để có thể khi nói: “Tôi là Bà-la-môn”, lời nói ấy là chơn chánh, không phải là lời nói dối?
“Brahmin, how many factors must a brahmin possess for the brahmins to describe him as a brahmin; and so that when he says ‘I am a brahmin’ he speaks rightly, without falling into falsehood?”
DN 4, SC 57 (PTS 13)
“Pañcahi, bho gotama, aṅgehi samannāgataṁ brāhmaṇā brāhmaṇaṁ paññapenti… Katamehi pañcahi? Idha, bho gotama, brāhmaṇo ubhato sujāto hoti mātito ca pitito ca… ajjhāyako hoti mantadharo tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū… abhirūpo hoti dassanīyo pāsādiko… sīlavā hoti vuddhasīlī vuddhasīlena samannāgato; paṇḍito ca hoti medhāvī paṭhamo vā dutiyo vā sujaṁ paggaṇhantānaṁ.”
—Có năm đức tánh, những vị Bà-la-môn phải đầy đủ mới được gọi là Bà-la-môn và để có thể khi nói: “Tôi là Bà-la-môn ”, lời nói ấy chơn chánh, không phải là lời nói dối. Thế nào là năm? Ở đây, này Tôn giả, người Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vị ấy là nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân. Vị ấy đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng. Vị ấy có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày. Và vị ấy là người học rộng, sáng suốt, là người đệ nhất hay đệ nhị trong những người cầm muỗng (để đổ bơ làm lễ tế thần). […]
“Worthy Gotama, a brahmin must possess five factors for the brahmins to describe him as a brahmin… It’s when a brahmin is well born on both his mother’s and father’s side… He recites and remembers the hymns, and has mastered the three Vedas… He is attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty… He is ethical, mature in ethical conduct. He’s astute and intelligent, being the first or second to hold the sacrificial ladle.”
DN 4, SC 59 (PTS 14)
“Sakkā, bho gotama. Imesañhi, bho gotama, pañcannaṁ aṅgānaṁ vaṇṇaṁ ṭhapayāma. Kiñhi vaṇṇo karissati?
- Tôn giả Gotama, có thể được. Tôn giả Gotama, trong năm đức tánh này, chúng tôi có thể bỏ dung sắc. Thật vậy, dung sắc làm được gì?
“It is possible, worthy Gotama. We could leave appearance out of the five factors. For what does appearance matter?”
DN 4, SC 61 (PTS 15)
“Sakkā, bho gotama. Imesañhi, bho gotama, catunnaṁ aṅgānaṁ mante ṭhapayāma. Kiñhi mantā karissanti?
- Tôn giả Gotama, có thể được. Tôn giả Gotama, trong bốn đức tánh này, chúng tôi có thể bỏ chú thuật. Thật vậy, chú thuật làm được gì?
“It is possible, worthy Gotama. We could leave the hymns out of the four factors. For what do the hymns matter?”
DN 4, SC 63 (PTS 16)
“Sakkā, bho gotama. Imesañhi, bho gotama, tiṇṇaṁ aṅgānaṁ jātiṁ ṭhapayāma. Kiñhi jāti karissati? Yato kho, bho gotama, brāhmaṇo sīlavā hoti vuddhasīlī vuddhasīlena samannāgato; paṇḍito ca hoti medhāvī paṭhamo vā dutiyo vā sujaṁ paggaṇhantānaṁ.”
- Tôn giả Gotama, có thể được. Tôn giả Gotama, trong ba đức tánh này, chúng tôi có thể bỏ thọ sanh. Thật vậy, thọ sanh làm được gì? Khi một Tôn giả Bà-la-môn có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày, vị ấy là người học rộng, sáng suốt, là người đệ nhất hay đệ nhị trong những người cầm muỗng. Những đức tánh này, những vị Bà-la-môn phải đầy đủ mới được gọi là Bà-la-môn và để có thể, khi nói: “Tôi là Bà-la-môn”, lời nói ấy là chơn chánh, không phải là lời nói dối.
“It is possible, worthy Gotama. We could leave birth out of the three factors. For what does birth matter? It’s when a brahmin is ethical, mature in ethical conduct; and he’s astute and intelligent… A brahmin must possess these two factors for the brahmins to rightly describe him as a brahmin.”
DN 4, SC 75 (PTS 20)
“Aṅgako kho māṇavako pāṇampi haneyya, adinnampi ādiyeyya, paradārampi gaccheyya, musāvādampi bhaṇeyya, majjampi piveyya, ettha dāni, bho, kiṁ vaṇṇo karissati, kiṁ mantā, kiṁ jāti? Yato kho, bho, brāhmaṇo sīlavā ca hoti vuddhasīlī vuddhasīlena samannāgato, paṇḍito ca hoti medhāvī…”
[…] Này các Hiền giả nếu thanh niên Angaka giết hại các loại hữu tình, lấy của không cho, đi tư thông với vợ người, nói láo, uống rượu, như vậy này các Hiền giả, nay dung sắc làm được cái gì, thọ sanh làm được cái gì? Này các Hiền giả, khi một Bà-la-môn nào có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày, lại là người học rộng, sáng suốt, là người đệ nhất hay đệ nhị trong những người cầm muỗng; này các Hiền giả, những Bà-la-môn nào đầy đủ hai đức tánh ấy mới được gọi là Bà-la-môn và để có thể, khi nói: “Tôi là Bà-la-môn ”, lời nói ấy là chơn chánh, không phải là lời nói dối. […]
“But if Aṅgaka were to kill living creatures, steal, commit adultery, lie, and drink liquor, then what’s the use of his appearance, his hymns, or his birth? It’s when a brahmin is ethical, mature in ethical conduct; and he’s astute and intelligent… A brahmin must possess these two factors for the brahmins to rightly describe him as a brahmin.”
DN 4, SC 77 (PTS 21)
“No hidaṁ, bho gotama. Sīlaparidhotā hi, bho gotama, paññā; paññāparidhotaṁ sīlaṁ. Yattha sīlaṁ tattha paññā, yattha paññā tattha sīlaṁ. Sīlavato paññā, paññavato sīlaṁ. Sīlapaññāṇañca pana lokasmiṁ aggamakkhāyati. Seyyathāpi, bho gotama, hatthena vā hatthaṁ dhoveyya, pādena vā pādaṁ dhoveyya…”
- Tôn giả Gotama, không thể được. Tôn giả Gotama, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh; người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời. Tôn giả Gotama, cũng như lấy bàn tay rửa bàn tay, lấy bàn chân để rửa bàn chân; cũng vậy, Tôn giả Gotama, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh.
“No, worthy Gotama. For wisdom is cleansed by ethics, and ethics are cleansed by wisdom. Ethics and wisdom always go together. An ethical person is wise, and a wise person ethical. And ethics and wisdom are said to be the best things in the world. It’s just like when you clean one hand with the other, or clean one foot with the other.”
DN 4, SC 78 (PTS 22)
“Evametaṁ, brāhmaṇa, evametaṁ, brāhmaṇa, sīlaparidhotā hi, brāhmaṇa, paññā, paññāparidhotaṁ sīlaṁ… Katamaṁ pana taṁ, brāhmaṇa, sīlaṁ? Katamā sā paññā”ti?
- Thật như vậy, này Bà-la-môn. Này Bà-la-môn, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời. Nhưng này Bà-la-môn, thế nào là giới hạnh, thế nào là trí tuệ?
“That’s so true, brahmin, that’s so true! For wisdom is cleansed by ethics, and ethics are cleansed by wisdom… And ethics and wisdom are said to be the best things in the world. But what, brahmin, is that ethical conduct? And what is that wisdom?”
DN 4, SC 86 (PTS 24)
“Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca.”
—Thật là vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật là vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng.
“Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.”
Phần IV · Thuật Ngữ & Giảng Giải
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
| sīla | giới, giới hạnh, đức hạnh | Bản Việt HT. Minh Châu dịch là “giới hạnh”, “đức hạnh”. |
| paññā | trí tuệ | Bản Việt viết cả “trí tuệ” lẫn “trí huệ”. |
| sīlaparidhotā paññā, paññāparidhotaṁ sīlaṁ | trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh | Câu cốt tủy của kinh (SC 77–78). |
| brāhmaṇa | Bà-la-môn | |
| aṅga | đức tánh, yếu tố, chi phần | Năm aṅga được rút còn hai. |
| jāti | thọ sanh, sự sanh ra, dòng dõi huyết thống | Đức tánh thứ ba bị bỏ. |
| vaṇṇa | dung sắc, sắc đẹp bên ngoài | Đức tánh bị bỏ đầu tiên. |
| mantā / manta | chú thuật, thánh điển được phúng tụng (Vedà) | Đức tánh bị bỏ thứ hai. |
| tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū | thông hiểu (đến bờ kia) ba tập Vedà | |
| ubhato sujāto | thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ | |
| lokāyata | Thuận thế (tự nhiên học) | Theo cách dịch của HT. Minh Châu. |
| mahāpurisalakkhaṇa | tướng của bậc đại nhân (ba mươi hai tướng tốt) | |
| jhāna | thiền (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền) | Phần “trí tuệ” được giảng theo Kinh Sa-môn quả. |
| ñāṇadassana | tri kiến | |
| saraṇaṁ gacchāmi | con xin quy y | |
| upāsaka | cư sĩ, nam Phật tử tại gia | |
| brahmavihāra — không xuất hiện trong kinh này | (ghi chú: kinh này không nói về Tứ vô lượng tâm) | Nêu ra để tránh nhầm với DN 13. |
Cách Đức Phật hỏi là chỗ đáng học nhất. Ngài không nói năm điều ấy sai. Ngài chỉ hỏi: bỏ bớt một điều thì còn gọi là Bà-la-môn được không? — và để chính ông trả lời.
Ông bỏ dung sắc trước. Vì người có dung sắc mà thiếu giới hạnh thì chẳng ai nhận là Bà-la-môn. Còn bốn.
Rồi bỏ chú thuật. Rồi bỏ thọ sanh — bỏ chính dòng dõi, điều mà cả một truyền thống dựng trên đó. Còn hai.
Và tới đây ông dừng. Không bỏ thêm được nữa — vì "giới được tuệ làm cho thanh tịnh, tuệ được giới làm cho thanh tịnh". Hai điều ấy đỡ lẫn nhau, bỏ một thì cái kia cũng hỏng.
Xin lưu ý điều này khi dạy. Chính Soṇadaṇḍa tự rút xuống, từng bước một, trước mặt hội chúng Bà-la-môn của mình. Đức Phật không bác một câu nào. Đây là cách thuyết phục bền nhất — người ta tự đi tới kết luận.
Và kinh có kể chỗ khó của ông. Ông lo hội chúng của mình sẽ chê nếu ông tỏ ra kính Phật, mà cũng lo Thế Tôn chê nếu ông giữ ý. Kinh ghi lại thế kẹt ấy rất thật, không vẽ ông thành người dứt khoát.
Chỗ chúng tôi phải đính chính lời của chính mình. Bản tra cứu ghi rằng bản Việt sai ở cả hai chỗ SC 59 và SC 61 khi liệt kê lại. Lượt soi độc lập đọc lại và chỉ ra: SC 59 đã bỏ đúng "dung sắc", khớp với Pāli — chỉ SC 61 mới lệch. Nghĩa là ghi chú ấy đổ oan cho bản dịch một chỗ. Đã sửa.
Và một chỗ nữa chúng tôi đã thận trọng thừa. Một đoạn trích bị đánh dấu "chưa đối chiếu được", nhưng thật ra tra ra đầy đủ, khớp cả Pāli lẫn bản Anh. Đã bỏ nhãn ấy.
Phần định nghĩa giới và tuệ thì kinh viết tắt. Nó dẫn về Kinh Sa-Môn Quả. Muốn giảng đủ phải mở bài ấy ra — chúng tôi ghi rõ trên trang.
Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm
- “Đức Phật bảo bỏ dòng dõi.” Chính Soṇadaṇḍa tự bỏ, Ngài chỉ hỏi.
- “Giới quan trọng hơn tuệ.” Kinh nói hai điều đỡ lẫn nhau, không xếp trên dưới.
- “Kinh này định nghĩa đủ giới và tuệ.” Phần ấy viết tắt, dẫn về DN 2.
Phần VI · Dùng Trong Sinh Hoạt Đoàn
- Ngành Oanh. Chỉ lấy ý cuối: người tốt là người giữ điều lành và biết nghĩ.
- Ngành Thiếu. Cho các em tự rút: bỏ điều nào trước? vì sao?
- Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Cách hỏi để người ta tự đi tới kết luận. Đọc kèm SN 3.25.
Phần VII · Câu Hỏi Thảo Luận
- Năm điều ấy là gì, và bỏ theo thứ tự nào?
- Vì sao dừng lại ở hai?
- Giới được tuệ làm cho thanh tịnh nghĩa là gì?
- Vì sao để ông tự rút lại thuyết phục hơn?
✦
Nguồn
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 4 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.