G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 3
Trường Bộ · Chuyện Giai Cấp

Kinh A-Ma-Trú

Ambaṭṭha Sutta — DN 3 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh A-Ma-Trú

Thanh niên Ambaṭṭha đến gặp Đức Phật với thái độ ngạo mạn, rồi ba lần gọi dòng họ Thích-ca là "đê tiện". Đức Phật không cãi — Ngài hỏi về dòng dõi của chính ông.

  • Bộ — Trường Bộ, bài 3, hai tụng phẩm
  • Nơi chốn — rừng Icchānaṅgala, nước Kosala
  • Người sai đi — Bà-la-môn Pokkharasāti, thầy của Ambaṭṭha
  • Lượt soi — bài này không tìm thấy lỗi nào

Thế Tôn du hành ở nước Kosala, cùng khoảng năm trăm Tỷ-kheo, dừng lại trong khu rừng Icchānaṅgala. Bà-la-môn Pokkharasāti nghe tiếng đồn tốt đẹp về Ngài, liền sai học trò là thanh niên Ambaṭṭha — người tinh thông ba tập Vệ-đà và Ðại nhân tướng — đến xem Sa-môn Gotama có đúng ba mươi hai tướng của bậc đại nhân hay không. Ambaṭṭha đến nơi nhưng cư xử ngạo mạn: đi qua đi lại, nói năng nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi. Bị Thế Tôn chỉ ra là "vô giáo dục", chàng nổi giận và ba lần buộc tội dòng họ Thích-ca là "đê tiện" (ibbhā), lấy lý do khi đến Kapilavatthu chàng không được các thanh niên Thích-ca mời ngồi, và lấy lý thuyết bốn giai cấp: ba giai cấp kia chỉ để hầu hạ Bà-la-môn. Thế Tôn đáp nhẹ nhàng: "con chim cáy con có thể tự hát thỏa thích trong tổ của nó", rồi hỏi đến dòng họ của chính Ambaṭṭha. Chàng nhận mình thuộc dòng Kaṇhāyana. Thế Tôn kể lại nguồn gốc: vua Okkāka là tổ của dòng Thích-ca, và Kaṇha — tổ phụ dòng Kaṇhāyana — là con của nữ tỳ Disā của vua. Bị hỏi ba lần, Ambaṭṭha phải im lặng rồi thừa nhận. Khi các thanh niên khác quay ra chê bai Ambaṭṭha là "con nữ tỳ", chính Thế Tôn lại bênh vực, kể chuyện ẩn sĩ Kaṇha là một tu sĩ vĩ đại. Kế đó Thế Tôn dùng loạt câu hỏi về hôn phối và về người bị tẩn xuất khỏi giai cấp, cho thấy so sánh trong khuôn khổ thế gian thì Sát-đế-lỵ là ưu; nhưng ngay đó Ngài nêu bài kệ của Phạm thiên Sanaṅkumāra để vượt lên trên giai cấp: người đầy đủ giới hạnh và trí tuệ mới là tối thắng giữa Người và chư Thiên. Tụng phẩm thứ hai giảng "vijjā-caraṇa" (minh và hạnh) — theo lộ trình giới, định, tuệ như Kinh Sa-môn quả — và bốn nguyên nhân đưa đến thất bại. Ambaṭṭha và thầy đều nhận mình còn rất xa. Cuối kinh, Thế Tôn hiện hai tướng còn nghi cho cả hai thầy trò; Pokkharasāti thỉnh Phật thọ trai, nghe thứ lớp thuyết pháp, khởi pháp nhãn và xin quy y ba ngôi báu trọn đời.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Tụng phẩm thứ nhất — Duyên khởi: Pokkharasāti sai Ambaṭṭha đi — Thế Tôn ở rừng Icchānaṅgala; Bà-la-môn Pokkharasāti nghe mười danh hiệu Như Lai, bảo đệ tử Ambaṭṭha (tinh thông ba tập Vệ-đà và Ðại nhân tướng) đi xem, dặn về truyền thống ba mươi hai tướng của vị đại nhân và hai con đường: Chuyển luân Thánh vương hoặc Chánh Ðẳng Giác.
  • Ambaṭṭha vô lễ và ba lần buộc tội dòng họ Thích-ca là đê tiện — Ambaṭṭha đi qua đi lại nói nhát gừng; bị Thế Tôn gọi là vô giáo dục, liền phẫn nộ và ba lần gọi dòng họ Thích-ca là 'đê tiện' — lần đầu vì họ không kính lễ Bà-la-môn, lần hai vì chuyện ở công hội trường Kapilavatthu, lần ba dựa trên lý thuyết bốn giai cấp.
  • Thế Tôn truy nguyên dòng họ Kaṇhāyana của Ambaṭṭha — Ví dụ con chim cáy hát trong tổ của nó; Thế Tôn hỏi dòng họ Ambaṭṭha, kể chuyện vua Okkāka tẩn xuất các hoàng tử — nguồn gốc tên Sakya — và nữ tỳ Disā sinh Kaṇha, tổ phụ dòng Kaṇhāyana. Bị hỏi ba lần, có thần Dạ-xoa Vajirapāṇī hiện ra, Ambaṭṭha phải thừa nhận.
  • Thế Tôn bênh vực Ambaṭṭha — chuyện ẩn sĩ Kaṇha — Khi các thanh niên khác chê Ambaṭṭha là 'con một nữ tỳ', Thế Tôn ngăn lại và kể Kaṇha đã trở thành một tu sĩ vĩ đại, học chú thuật Phạm thiên, buộc vua Okkāka phải gả công chúa Khuddarūpī.
  • Vấn đáp về giai cấp: Sát-đế-lỵ ưu, Bà-la-môn liệt — Loạt câu hỏi về con của hôn phối chéo giữa Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn (chỗ ngồi, nước, chú thuật, lễ quán đảnh), và về người bị cạo đầu tẩn xuất khỏi mỗi giai cấp — kết luận trong khuôn khổ thế gian, Sát-đế-lỵ giữ phần ưu thắng.
  • Bài kệ của Phạm thiên Sanaṅkumāra — Kết thúc tụng phẩm thứ nhất bằng bài kệ: Sát-đế-lỵ tối thắng đối với ai còn tin ở giai cấp; nhưng người đầy đủ giới hạnh và trí tuệ mới tối thắng giữa Người và chư Thiên. Thế Tôn xác nhận bài kệ ấy khéo nói và được Ngài chấp thuận.
  • Tụng phẩm thứ hai — Giới hạnh và Trí tuệ (vijjā-caraṇa) — Ambaṭṭha hỏi nghĩa 'giới hạnh' và 'trí tuệ' trong bài kệ. Thế Tôn dạy: vô thượng trí đức không luận nghị đến thọ sanh, giai cấp hay ngã mạn; rồi trình bày lộ trình giới-định-tuệ (dẫn lại Kinh Sa-môn quả, đoạn 40–98).
  • Bốn nguyên nhân đưa đến thất bại và sự khiếm khuyết của Ambaṭṭha cùng thầy — Bốn hạnh khổ hạnh của người chưa thấu đạt trí đức (ăn trái cây rụng; ăn củ rễ; thờ lửa; dựng nhà bốn cửa cúng dường) — người ấy chỉ xứng làm thị giả. Ambaṭṭha thừa nhận mình và thầy còn rất xa; Thế Tôn nhắc lời khinh miệt của Pokkharasāti và so sánh với đời sống các ẩn sĩ xưa (Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva…).
  • Ambaṭṭha thấy ba mươi hai tướng, trở về bị thầy quở trách — Ambaṭṭha nghi hai tướng (mã âm tàng và lưỡi rộng dài); Thế Tôn dùng thần thông cho thấy. Về đến hoa viên, thuật lại, bị Pokkharasāti tức giận quở mắng và đá ngã.
  • Pokkharasāti đến gặp Phật, khởi pháp nhãn và quy y — Pokkharasāti đến, xin Phật tha thứ cho Ambaṭṭha, được thấy hai tướng, thỉnh Phật và chúng Tỷ-kheo thọ trai. Nghe thứ lớp pháp (bố thí, trì giới, các cõi trời, nguy hiểm của dục, lợi ích xuất ly) rồi khổ-tập-diệt-đạo; pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên, ông xin quy y Phật-Pháp-Tăng trọn đời.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 3.1.12 (SC 18) — Ambaṭṭha buộc tội lần thứ nhất
“Caṇḍā, bho gotama, sakyajāti; pharusā, bho gotama, sakyajāti; lahusā, bho gotama, sakyajāti; bhassā, bho gotama, sakyajāti; ibbhā santā ibbhā samānā na brāhmaṇe sakkaronti, na brāhmaṇe garuṁ karonti, na brāhmaṇe mānenti, na brāhmaṇe pūjenti, na brāhmaṇe apacāyanti.
Này Gotama, thô bạo là dòng họ Thích ca; này Gotama, ác độc là dòng họ Thích ca; này Gotama, khinh suất là dòng họ Thích ca; này Gotama hung dữ là dòng họ Thích ca. Là đê tiện, thuộc thành phần đê tiện, dòng họ Thích ca không kính nhường Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn.
"Worthy Gotama, the Sakyans are rude, harsh, touchy, and argumentative. Primitive they are, and primitive they remain! They don't honor, respect, revere, worship, or venerate brahmins."
DN 3.1.14 (SC 23) — Ví dụ con chim cáy
“Laṭukikāpi kho, ambaṭṭha, sakuṇikā sake kulāvake kāmalāpinī hoti. Sakaṁ kho panetaṁ, ambaṭṭha, sakyānaṁ yadidaṁ kapilavatthuṁ, nārahatāyasmā ambaṭṭho imāya appamattāya abhisajjitun”ti.
Này Ambaṭṭha, cũng như con chim cáy, con chim cáy con có thể tự hát thỏa thích trong tổ của nó. Này Ambaṭṭha, Kapilavatthu thuộc dòng họ Thích ca. Thật không xứng để cho Ambaṭṭha phải phật lòng vì một vấn đề nhỏ mọn này.
"Even a little quail, Ambaṭṭha, speaks as she likes in her own nest. Kapilavatthu is the Sakyans' own place, Ambaṭṭha. It's not worthy of the Venerable Ambaṭṭha to lose his temper over such a small thing."
DN 3.1.14 (SC 24) — Lý thuyết bốn giai cấp của Ambaṭṭha
“Cattārome, bho gotama, vaṇṇā—khattiyā brāhmaṇā vessā suddā. Imesañhi, bho gotama, catunnaṁ vaṇṇānaṁ tayo vaṇṇā—khattiyā ca vessā ca suddā ca—aññadatthu brāhmaṇasseva paricārakā sampajjanti.
Này Gotama, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà-la. Này Gotama, trong bốn giai cấp này, ba giai cấp Sát-đế-lỵ, Phệ-xá và Thủ-đà-la là để hầu hạ hạng Bà-la-môn.
"Worthy Gotama, there are these four classes: aristocrats, brahmins, peasants, and menials. Three of these classes—aristocrats, peasants, and menials—in fact succeed only when serving the brahmins."
DN 3.1.15 (SC 28) — Thế Tôn truy nguyên dòng họ
“Porāṇaṁ kho pana te, ambaṭṭha, mātāpettikaṁ nāmagottaṁ anussarato ayyaputtā sakyā bhavanti; dāsiputto tvamasi sakyānaṁ. Sakyā kho pana, ambaṭṭha, rājānaṁ okkākaṁ pitāmahaṁ dahanti.
Này Ambaṭṭha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời dòng họ Thích ca là thầy của ngươi. Và ngươi là con của một nữ tỳ của dòng họ Thích ca. Này thanh niên Ambaṭṭha, tổ tiên của Thích ca là vua Okkāka.
"But, recollecting the ancient name and clan of your mother and father, the Sakyans were the children of the masters, while you're descended from the son of a slavegirl of the Sakyans. But the Sakyans regard King Okkāka as their grandfather."
DN 3.1.26 (SC 90) — Kết luận về Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn
“Iti kho, ambaṭṭha, itthiyā vā itthiṁ karitvā purisena vā purisaṁ karitvā khattiyāva seṭṭhā, hīnā brāhmaṇā.
Này Ambaṭṭha, đến như vậy là sự đọa lạc tột cùng của người Sát-đế-lỵ, đã bị những người Sát-đế-lỵ cạo đầu, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước hay thành phố, như vậy, này Ambaṭṭha, khi người Sát-đế-lỵ bị đọa lạc tột cùng, các Sát đế lỵ vẫn giữ phần ưu thắng và các Bà-la-môn vẫn ở địa vị hạ liệt.
"And so, Ambaṭṭha, the aristocrats are superior and the brahmins inferior, whether comparing women with women or men with men."
DN 3.1.28 (SC 91–92) — Bài kệ của Phạm thiên Sanaṅkumāra
Brahmunā pesā, ambaṭṭha, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā: ‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ, ye gottapaṭisārino; Vijjācaraṇasampanno, so seṭṭho devamānuse’ti.
Này Ambaṭṭha, bài kệ này do Phạm thiên Sanam Kumāra thuyết: “Ðối với chúng sanh tin tưởng ở giai cấp, Sát-đế-lỵ chiếm địa vị tối thắng ở nhân gian. Những vị nào giới hạnh và trí tuệ đầy đủ, vị này chiếm địa vị tối thắng giữa Người và chư Thiên”.
The divinity Sanaṅkumāra also spoke this verse: 'The aristocrat is best among people who take clan as the standard. But one accomplished in knowledge and conduct is first among gods and humans.'
DN 3.2.1 (SC 94–95) — Vô thượng trí đức vượt trên giai cấp
“Na kho, ambaṭṭha, anuttarāya vijjācaraṇasampadāya jātivādo vā vuccati, gottavādo vā vuccati, mānavādo vā vuccati … Pahāya kho, ambaṭṭha, jātivādavinibaddhañca gottavādavinibaddhañca mānavādavinibaddhañca āvāhavivāhavinibaddhañca anuttarāya vijjācaraṇasampadāya sacchikiriyā hotī”ti.
Này Ambaṭṭha, một vị đã thành tựu vô thượng trí đức không có luận nghị đến sự thọ sanh, không có luận nghị đến giai cấp hay không có luận nghị đến ngã mạn với lời nói: “Ngươi bằng ta hay ngươi không bằng ta”. … Này Ambaṭṭha, không chấp trước lý thuyết thọ sanh, không chấp trước lý thuyết giai cấp, không chấp trước lý thuyết kiêu mạn, không chấp trước cưới hỏi, đưa dâu, người ấy tức chứng ngộ vô thượng trí đức.
"Ambaṭṭha, in the supreme knowledge and conduct there is no discussion of genealogy or clan or pride—'You deserve me' or 'You don't deserve me.' … The realization of supreme knowledge and conduct occurs when you've given up such things."
DN 3.2.21–2.22 (SC 163–165) — Pháp nhãn khởi lên và lời quy y của Pokkharasāti
Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva brāhmaṇassa pokkharasātissa tasmiññeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti. … Esāhaṁ, bho gotama, saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Pokkharasāti: “Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt”. … Tôn giả Gotama, con, con của con, vợ của con, tùy tùng của con, bạn hữu của con, xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ kheo.
Just as a clean cloth rid of stains would properly absorb dye, in that very seat the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in the brahmin Pokkharasāti: "Everything that is liable to arise is liable to cease." … "Together with my children, wives, retinue, and ministers, I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha."
Chữ PāliNghĩaGhi chú
vaṇṇagiai cấp, màu sắc (bốn giai cấp: khattiya, brāhmaṇa, vessa, sudda)
khattiyaSát-đế-lỵ — giai cấp vua chúa, chiến sĩ
brāhmaṇaBà-la-môn — giai cấp tế tự, học chú thuật Vệ-đà
vessaPhệ-xá — giai cấp thương gia, nông gia
suddaThủ-đà-la — giai cấp lao dịch
ibbhađê tiện, hạ tiện — chữ Ambaṭṭha dùng để mạ lỵ dòng họ Thích-caHT. Thích Minh Châu dịch là "đê tiện"; Sujato dịch "primitive".
jātivādalý thuyết (chấp trước) về sự thọ sanh, về dòng dõi khi sinh ra
gottavādalý thuyết (chấp trước) về giai cấp, về dòng họ
mānavādalý thuyết (chấp trước) về ngã mạn, kiêu mạn
vijjācaraṇasampannaMinh Hạnh Túc — bậc đầy đủ trí tuệ (minh) và giới hạnh (hạnh)
caraṇagiới hạnh, hạnh — nếp sống đạo đức
vijjāminh, trí tuệ
dvattiṁsa mahāpurisalakkhaṇaba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân
dhammacakkhupháp nhãn — con mắt thấy pháp, ở đây là quả Dự lưu
anupubbī kathāthứ lớp thuyết pháp: bố thí, trì giới, các cõi trời, nguy hiểm của dục, lợi ích của xuất ly
saraṇaṁ gacchāmicon xin quy y
māṇavathanh niên (Bà-la-môn trẻ tuổi)
dāsiputtacon của nữ tỳ
Sakyadòng họ Thích-ca; trong kinh giải thích từ lời tán thán của vua OkkākaBản Việt ghi chú "Sakya (cứng như lõi cây sồi)".
Kaṇhāyanadòng họ của Ambaṭṭha, từ tổ phụ Kaṇha, con của nữ tỳ Disā

Cách Ambaṭṭha vào cuộc đã nói lên nhiều điều. Chàng đi qua đi lại trong khi Thế Tôn đang ngồi, nói năng nhát gừng. Bị nhắc là vô giáo dục, chàng nổi giận — và cơn giận ấy dẫn tới ba lần buộc tội.

Lời buộc tội dựa trên ba lý do khác nhau. Lần đầu: họ Thích-ca không kính lễ Bà-la-môn. Lần hai: chuyện riêng ở công hội trường Kapilavatthu — chàng không được mời ngồi. Lần ba: lý thuyết bốn giai cấp. Một chuyện cá nhân được nâng lên thành lý luận.

Đức Phật đáp bằng một hình ảnh nhẹ nhàng đến bất ngờ. "Con chim cáy con có thể tự hát thỏa thích trong tổ của nó." — nghĩa là ở nhà mình thì ai cũng có quyền lớn tiếng. Không mắng, chỉ đặt lại chỗ đứng của lời nói ấy.

Rồi Ngài hỏi về dòng dõi Ambaṭṭha. Chàng nhận mình thuộc dòng Kaṇhāyana. Ngài kể: tổ phụ dòng ấy là Kaṇha, con của nữ tỳ Disā của vua Okkāka — mà vua Okkāka lại là tổ của dòng Thích-ca. Bị hỏi ba lần, chàng phải thừa nhận.

Và đây mới là chỗ hay nhất của bài kinh. Khi các thanh niên khác quay ra chê Ambaṭṭha là "con nữ tỳ", chính Đức Phật ngăn lại và kể rằng ẩn sĩ Kaṇha là một tu sĩ vĩ đại. Ngài dùng dòng dõi để hạ ngã mạn, rồi lập tức không cho ai dùng nó để hạ người.

Phần vấn đáp về giai cấp rất chặt. Ngài hỏi về con của hôn phối chéo, và về người bị tẩn xuất khỏi mỗi giai cấp. Kết luận: trong khuôn khổ thế gian thì Sát-đế-lỵ giữ phần ưu. Ngài chứng minh ngay trong hệ quy chiếu của người kia.

Rồi Ngài bước ra khỏi hệ quy chiếu ấy. Bằng bài kệ của Phạm thiên Sanaṅkumāra: Sát-đế-lỵ tối thắng đối với ai còn tin ở giai cấpnhưngngười đầy đủ giới hạnh và trí tuệ mới tối thắng giữa Người và chư Thiên.

Chỗ này đáng nói cho kỹ. Ngài không bảo giai cấp là vô nghĩa. Ngài nói: nó có nghĩa trong phạm vi của nó — và có một thước đo khác đứng trên nó. Hai câu ấy khác nhau, và cách thứ hai thuyết phục hơn.

Đoạn cuối cho thấy Ngài không thắng để mà thắng. Ambaṭṭha về nhà bị thầy quở mắng và đá ngã. Rồi Pokkharasāti đến xin Phật tha thứ cho học trò — và chính ông khởi pháp nhãn, xin quy y. Người bị bẻ không phải người quy y; người quy y là ông thầy.

  • “Đức Phật bác bỏ giai cấp.” Ngài nói giai cấp có nghĩa trong phạm vi của nó, và có thước đo khác đứng trên.
  • “Ngài hạ nhục Ambaṭṭha.” Khi người khác chê chàng, chính Ngài ngăn lại.
  • “Dòng dõi thấp là điều đáng xấu hổ.” Ngài kể Kaṇha trở thành một tu sĩ vĩ đại.
  • Ngành Oanh. Ví dụ chim cáy hát trong tổ mình — dễ nhớ, không nặng.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao Đức Phật ngăn không cho người ta chê Ambaṭṭha, sau khi chính Ngài vừa bẻ chàng?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Cách lập luận trong hệ quy chiếu của người kia rồi mới bước ra. Đọc kèm DN 27.
  • Ba lần buộc tội dựa trên ba lý do gì?
  • Ví dụ chim cáy nói gì?
  • Bài kệ Sanaṅkumāra đặt thước đo nào lên trên?
  • Ai là người quy y ở cuối bài?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.