G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 148
Sáu Nhóm Sáu · Sáu Mươi Vị Chứng Ngay Cuối Bài

Kinh Sáu Sáu

Chachakka Sutta — MN 148 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Sáu Sáu

Sáu nhóm, mỗi nhóm sáu pháp: sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái. Đó chính là toàn bộ đời sống của chúng ta, lặp đi lặp lại suốt ngày. Cuối bài, tâm của sáu mươi Tỷ-kheo được giải thoát.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 148
  • Nơi chốn — Sāvatthī, Jetavana
  • Lời tuyên bố mở đầu — pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn
  • Kết quảsáu mươi Tỷ-kheo giải thoát khỏi các lậu hoặc ngay cuối bài

Kinh Sáu Sáu là một bài kinh rất gọn nhưng đầy đủ, Đức Phật dạy cách nhìn thẳng vào chính kinh nghiệm đang xảy ra nơi thân tâm mình. "Sáu sáu" nghĩa là sáu nhóm, mỗi nhóm có sáu pháp: sáu nội xứ (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), sáu ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), sáu thức thân, sáu xúc thân, sáu thọ thân và sáu ái thân. Sáu nhóm này nối nhau theo một chuỗi nhân duyên: do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức; sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc; do duyên xúc là thọ; do duyên thọ là ái. Đó chính là toàn bộ đời sống của chúng ta, lặp đi lặp lại suốt ngày. Kế đó, Đức Phật chứng minh từng pháp một đều là vô ngã, bằng một lý do rất giản dị: sự sanh và sự diệt của chúng đã được thấy; nếu nói cái sanh diệt ấy là "tự ngã" thì thành ra "tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi", điều đó không hợp lý. Vì vậy mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức, nhãn xúc, thọ, ái đều là vô ngã; cho đến ý, các pháp, ý thức, ý xúc, thọ, ái cũng vậy. Từ đó, kinh chỉ ra hai con đường. Con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến là quán các pháp ấy: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến là quán ngược lại: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Phần then chốt cho người tu tập hằng ngày là đoạn nói về ba tùy miên. Khi cảm thọ lạc mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước, thì tham tùy miên tùy tăng; khi cảm thọ khổ mà sầu muộn, than khóc, đập ngực, thì sân tùy miên tùy tăng; khi cảm thọ bất khổ bất lạc mà không như thật biết, thì vô minh tùy miên tùy tăng. Người như vậy không thể chấm dứt đau khổ ngay trong hiện tại. Ngược lại, ai không chạy theo lạc thọ, không sầu não trước khổ thọ, và như thật biết rõ thọ trung tính, thì ba tùy miên không tùy tăng, và việc chấm dứt khổ ngay đời này là điều có thể xảy ra. Cuối cùng, vị Thánh đệ tử do thấy vậy mà yếm ly, ly tham, giải thoát, và tuệ tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành...".

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi và lời tuyên bố (SC 1-6) — Thế Tôn ở Jetavana, gọi các Tỷ-kheo, hứa giảng pháp sơ thiện trung thiện hậu thiện, Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, tức là "sáu sáu".
  • (Tóm lược) Nêu sáu đề mục cần phải được biết (SC 7) — Sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu thức thân, sáu xúc thân, sáu thọ thân, sáu ái thân — tất cả cần phải được biết.
  • (Liệt kê) Sáu sáu thứ nhất đến thứ sáu (SC 8-13) — Giải thích từng nhóm sáu, dựng thành chuỗi: căn + trần → thức; ba pháp gặp gỡ → xúc; xúc → thọ; thọ → ái.
  • (Giảng về vô ngã) (SC 14-24) — Lần lượt bác bỏ "mắt/sắc/nhãn thức/nhãn xúc/thọ/ái là tự ngã", cho đến ý, các pháp, ý thức, ý xúc, thọ, ái, vì sự sanh diệt của chúng đã được thấy.
  • (Nguồn gốc và đoạn diệt thân kiến) (SC 25-26) — Con đường đưa đến tập khởi thân kiến là quán "Cái này là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi"; con đường đoạn diệt là quán ngược lại.
  • (Ba độc tùy miên) (SC 27-28) — Do lạc thọ mà tham tùy miên tùy tăng, do khổ thọ mà sân tùy miên tùy tăng, do bất khổ bất lạc thọ mà vô minh tùy miên tùy tăng; như vậy không thể chấm dứt đau khổ ngay hiện tại.
  • (Ðoạn tận ba độc) (SC 29-30) — Không hoan hỷ trước lạc thọ, không sầu muộn trước khổ thọ, như thật biết bất khổ bất lạc thọ; ba tùy miên không tùy tăng, việc chấm dứt đau khổ ngay hiện tại là có thể xảy ra.
  • (Giải thoát) (SC 31-32) — Ða văn Thánh đệ tử yếm ly toàn bộ sáu sáu, do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên giải thoát, và tuệ tri "Sanh đã tận...".
  • Kết kinh (SC 33) — Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ; trong khi kinh được nói lên, tâm sáu mươi Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: phần này có 1 đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Phần Pāli và tiếng Anh thì đối chiếu được.
MN 148, SC 7 (Pāli mn148:3.1)
Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbāni
Sáu nội xứ cần phải được biết. Sáu ngoại xứ cần phải được biết. Sáu thức thân cần phải được biết. Sáu xúc thân cần phải được biết. Sáu thọ thân cần phải được biết. Sáu ái thân cần phải được biết.
The six interior sense fields should be understood. The six exterior sense fields should be understood. The six classes of consciousness should be understood. The six classes of contact should be understood. The six classes of feeling should be understood. The six classes of craving should be understood.
MN 148, SC 13 (Pāli mn148:9.3)
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ
Do duyên mắt và duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái.
Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving.
MN 148, SC 14 (Pāli mn148:10.1-10.6)
‘Cakkhu attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Cakkhussa uppādopi vayopi paññāyati. … Iti cakkhu anattā.
Nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt củ mắt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã.
If anyone says, 'The eye is self,' that is not tenable. The arising and vanishing of the eye is evident, so it would follow that one's self arises and vanishes. That's why it's not tenable to claim that the eye is self. So the eye is not self.
MN 148, SC 25 (Pāli mn148:16.1-16.2)
Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadā—cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
Này các Tỷ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến. Ai quán mắt là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
Now, mendicants, this is the practice that leads to the origin of substantial reality. You regard the eye like this: 'This is mine, I am this, this is my self.'
MN 148, SC 26 (Pāli mn148:22.1-22.2)
Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyanirodhagāminī paṭipadā—cakkhuṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Nhưng này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Ai quán mắt: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
But this is the practice that leads to the cessation of substantial reality. You regard the eye like this: 'This is not mine, I am not this, this is not my self.'
MN 148, SC 27 (Pāli mn148:28.2-28.7)
So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo anuseti. … Tassa paṭighānusayo anuseti. … Tassa avijjānusayo anuseti.
Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng.
When you experience a pleasant feeling, if you approve, welcome, and keep clinging to it, the underlying tendency to greed underlies that. When you experience a painful feeling, if you sorrow and wail and lament, beating your breast and falling into confusion, the underlying tendency to aversion underlies that. When you experience a neutral feeling, if you don't truly understand that feeling's origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, the underlying tendency to ignorance underlies that.
MN 148, SC 29 (đối chiếu Pāli mn148:39.8)
So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ pahāya … diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
Mendicants, having given up the underlying tendency to greed for pleasant feeling, having dispelled the underlying tendency to aversion toward painful feeling, having eradicated ignorance in the case of neutral feeling, having given up ignorance and given rise to knowledge, it is quite possible to make an end of suffering in this very life.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
MN 148, SC 32 (Pāli mn148:41.6-41.7)
Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: “Ta đã được giải thoát”. Và vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they're freed. When it is freed, they know it is freed. They understand: 'Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.'
Chữ PāliNghĩaGhi chú
chachakkasáu sáu — sáu nhóm, mỗi nhóm sáu phápTên bài kinh: Chachakkasutta
ajjhattikāni āyatanāninội xứ — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý
bāhirāni āyatanāningoại xứ — sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp
viññāṇathức (nhãn thức, nhĩ thức...)
phassaxúc — sự gặp gỡ của căn, trần và thức
vedanāthọ — cảm thọ lạc, khổ, bất khổ bất lạc
taṇhāái — khát ái, tham muốn
anattāvô ngã — không phải tự ngã
sakkāyatự thân, hữu thân — cái thân năm uẩn bị chấp là có thật (bản Anh của Sujato: substantial reality)Nghĩa đen của chữ sakkāya là “tự thân / hữu thân”; “thân kiến” là nghĩa của sakkāya-diṭṭhi. Bản Việt của Hoà thượng Minh Châu dịch là “thân kiến”, nên trích dẫn giữ nguyên chữ ấy; ở đây chúng tôi tách rõ nghĩa đen chữ Pāli với cách dịch quen dùng. Cụm trong kinh: sakkāyasamudayagāminī paṭipadā / sakkāyanirodhagāminī paṭipadā.
anusayatùy miên — khuynh hướng ngủ ngầm
rāgānusayatham tùy miên
paṭighānusayasân tùy miên
avijjānusayavô minh tùy miên
nibbidāyếm ly — nhàm chán, quay lưng
virāgaly tham
vimuttigiải thoát
āsavalậu hoặc

Tên kinh nghe khô, nhưng nội dung là chính đời sống mình. Mắt gặp sắc → nhãn thức → xúc → thọ → ái. Chuỗi ấy chạy suốt ngày, sáu cửa cùng lúc.

Đức Phật chứng minh vô ngã bằng một lý do rất giản dị. Sự sanh và sự diệt của chúng đã được thấy. Nếu bảo cái sanh diệt ấy là tự ngã, thì thành ra "tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi"điều đó không hợp lý.

Lập luận ấy áp cho từng pháp một, không bỏ sót. Mắt vô ngã, sắc vô ngã, nhãn thức vô ngã, nhãn xúc vô ngã, thọ vô ngã, ái vô ngãrồi lặp lại đủ sáu cửa. Kinh không cho ai lách.

Rồi kinh chỉ ra hai con đường, khác nhau đúng ba chữ. Đường tập khởi thân kiến: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi." Đường đoạn diệt thân kiến: "Cái này không phải của tôi…"

Phần dùng được mỗi ngày là ba tùy miên. Lạc thọhoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước thì tham tùy miên tùy tăng. Khổ thọsầu muộn, than khóc, đập ngực thì sân tùy miên tùy tăng. Bất khổ bất lạc thọkhông như thật rõ biết thì vô minh tùy miên tùy tăng.

Cái thọ thứ ba mới là chỗ nguy hiểm nhất. Lạc và khổ thì ai cũng thấy. Còn bất khổ bất lạc thì trôi qua không ai để ý — và vô minh nằm đúng ở đó. Phần lớn thời gian trong ngày là cái thọ thứ ba này.

Xin thưa một chỗ trong trang này chưa trọn. Ở ô trích SC 29, câu tiếng Anhbản chúng tôi tự dựng theo cấu trúc song song, không phải nguyên văn của Tỳ-kheo Sujato — đã đánh dấu rõ. Ghi chú cũ của chúng tôi nói "nguồn chỉ có dạng phủ định"sai; lượt soi lại cho biết bản Sujato có sẵn câu khẳng định. Nguyên văn tiếng Việt thì chép đúng.

Và một chữ nên phân biệt. sakkāya nghĩa đen là tự thân, hữu thân; "thân kiến" mới là nghĩa của sakkāya-diṭṭhi. Bản Việt của Hoà thượng Minh Châu dịch là "thân kiến" nên chúng tôi giữ nguyên chữ ấy trong trích dẫn và chỉ tách nghĩa ở bảng thuật ngữ.

Vì sao sáu mươi vị chứng ngay cuối bài? Vì bài kinh không nói chuyện xa. Nó chỉ thẳng vào cái đang xảy ra ngay lúc nghemắt đang thấy, tai đang nghe, thọ đang khởi.

  • "Bài này chỉ là bảng liệt kê." Nó là bản đồ của chính kinh nghiệm đang xảy ra.
  • "Vô ngã nghĩa là không có gì cả." Kinh nói các pháp có sanh có diệt — nên không phải tự ngã.
  • "Thọ trung tính thì vô hại." Vô minh nằm đúng ở đó.
  • Ngành Oanh. Đếm sáu cửa: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: hôm nay em đã có bao nhiêu lần "thọ rồi ái"?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm SN 35 — Kinh Lửa Cháy.
  • “Sáu sáu” là sáu nhóm nào?
  • Lý do nào chứng minh các pháp ấy là vô ngã?
  • Ba tùy miên ứng với ba thọ nào?
  • Vì sao thọ bất khổ bất lạc là chỗ nguy hiểm?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.