G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng · SN 35.28
Tương Ưng Bộ · Bài Thuyết Pháp Thứ Ba

Kinh Lửa Cháy

Ādittapariyāya Sutta — SN 35.28 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Lửa Cháy

Đức Phật mở đầu bằng một câu ngắn mà chấn động: “Tất cả, này các Tỷ-kheo, đều bị bốc cháy.” Rồi Ngài tự hỏi tất cả cái gì — và đi qua sáu căn, mỗi căn năm thứ. Không sót một chỗ nào trong đời sống kinh nghiệm của ta.

  • Bộ — Tương Ưng, SN 35.28, Tương Ưng Sáu Xứ, phẩm Tất Cả
  • Nơi nóiGayāsīsa, xứ Gayā, cùng một ngàn Tỳ-kheo
  • Vị trí trong đời Phật — truyền thống xem đây là bài thuyết pháp thứ ba, sau Chuyển Pháp LuânVô Ngã Tướng
  • Kết quảtâm của một ngàn vị được giải thoát ngay trong khi bài kinh đang được nói

Kinh Lửa Cháy được Đức Phật giảng tại Gàyasìsa (núi Đầu Voi, xứ Gayā) cho một ngàn vị Tỷ-kheo. Mở đầu, Ngài tuyên bố một câu ngắn mà chấn động: "Tất cả, này các Tỷ-kheo, đều bị bốc cháy." Rồi Ngài tự hỏi "tất cả cái gì đều bị bốc cháy?" và lần lượt đi qua sáu căn. Với mỗi căn, Đức Phật kể ra năm thứ đang cháy: căn (mắt), cảnh (các sắc), thức (nhãn thức), xúc (nhãn xúc), và cảm thọ sinh khởi do duyên xúc ấy — dù lạc, khổ hay bất khổ bất lạc. Cả sáu căn — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý — đều theo đúng khuôn mẫu đó. Nghĩa là toàn bộ đời sống kinh nghiệm của ta, mọi thứ ta thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm và suy nghĩ, không sót một chỗ nào, đều đang cháy. Cháy bằng lửa gì? Đức Phật trả lời: "Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não." Ba ngọn lửa tham–sân–si (tam độc) là nhiên liệu; hậu quả là vòng sanh già chết và mọi khổ đau. Phần sau là con đường ra. "Thấy vậy" — nghĩa là thấy đúng sự thật đang cháy này — vị Đa văn Thánh đệ tử sanh tâm nhàm chán (nibbidā) đối với căn, cảnh, thức, xúc và thọ nơi cả sáu căn. Do nhàm chán nên ly tham (virāga); do ly tham nên được giải thoát (vimutti); trong giải thoát khởi lên trí biết rằng "Ta đã giải thoát", và vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa." Kinh kết thúc: các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ, và ngay trong khi lời giải đáp đang được nói lên, tâm của một ngàn Tỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Với Huynh Trưởng, bài kinh dạy rất gọn: gốc khổ không nằm ngoài đời, mà nằm ở tham–sân–si đang đốt ngay nơi sáu căn của chính mình; dập ba ngọn lửa đó thì mát.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1) Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Gàya, tại Gàyasìsa, cùng một ngàn Tỷ-kheo; Ngài gọi các Tỷ-kheo.
  • 2) Lời tuyên bố tổng quát: Tất cả đều bị bốc cháy — "Tất cả, này các Tỷ-kheo, đều bị bốc cháy", kèm câu hỏi "tất cả cái gì đều bị bốc cháy?"
  • 3)–8) Khai triển qua sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) — Mỗi căn: căn – cảnh – thức – xúc – cảm thọ do duyên xúc (lạc, khổ, bất khổ bất lạc) đều bị bốc cháy. Kèm câu hỏi–đáp "Bị bốc cháy bởi cái gì?" — bởi lửa tham, lửa sân, lửa si; bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
  • 9) Nhàm chán – ly tham – giải thoát — Vị Đa văn Thánh đệ tử thấy vậy nên nhàm chán khắp sáu căn; do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát; khởi trí "Ta đã giải thoát" và biết rõ "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành..."
  • 10)–11) Kết kinh và kết quả — Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ; trong khi lời giải đáp được nói lên, tâm của một ngàn Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 35.28, đoạn 1
Ekaṁ samayaṁ bhagavā gayāyaṁ viharati gayāsīse saddhiṁ bhikkhusahassena.
Một thời Thế Tôn trú ở Gàya, tại Gàyasìsa cùng với một ngàn Tỷ-kheo.
At one time the Buddha was staying near Gayā on Gayā Head together with a thousand mendicants.
SN 35.28, đoạn 2
Sabbaṁ, bhikkhave, ādittaṁ. Kiñca, bhikkhave, sabbaṁ ādittaṁ?
Tất cả, này các Tỷ-kheo, đều bị bốc cháy. Và này các Tỷ-kheo, tất cả cái gì đều bị bốc cháy?
Mendicants, all is burning. And what is the all that is burning?
SN 35.28, đoạn 3 (mắt)
Cakkhu, bhikkhave, ādittaṁ, rūpā ādittā, cakkhuviññāṇaṁ ādittaṁ, cakkhusamphasso āditto. Yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ādittaṁ.
Mắt, này các Tỷ-kheo, bị bốc cháy. Các sắc bị bốc cháy. Nhãn thức bị bốc cháy. Nhãn xúc bị bốc cháy. Do duyên nhãn xúc nên khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy.
The eye is burning. Sights are burning. Eye consciousness is burning. Eye contact is burning. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on eye contact is also burning.
SN 35.28, đoạn 3 (câu được trích tụng nhiều nhất)
Kena ādittaṁ? ‘Rāgagginā, dosagginā, mohagginā ādittaṁ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittan’ti vadāmi.
Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Burning with what? Burning with the fires of greed, hate, and delusion. Burning with rebirth, old age, and death, with sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, I say.
SN 35.28, đoạn 8 (ý căn)
Mano āditto, dhammā ādittā, manoviññāṇaṁ ādittaṁ, manosamphasso āditto. Yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ādittaṁ.
Ý bị bốc cháy. Các pháp bị bốc cháy. Ý thức bị bốc cháy. Ý xúc bị bốc cháy. Do duyên thân xúc nên khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy.
The mind is burning. Ideas are burning. Mind consciousness is burning. Mind contact is burning. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on mind contact is also burning.
SN 35.28, đoạn 9
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, rūpesupi nibbindati, cakkhuviññāṇepi nibbindati, cakkhusamphassepi nibbindati, yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi nibbindati.
Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on eye contact.
SN 35.28, đoạn 9 (kết)
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí hiểu biết rằng: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa".
Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they're freed. When they're freed, they know they're freed. They understand: 'Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.'
SN 35.28, đoạn 10–11
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinanduṁ. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne tassa bhikkhusahassassa anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti.
Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời giải đáp này được nói lên, tâm của một ngàn Tỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the minds of the thousand mendicants were freed from defilements by not grasping.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ādittabị bốc cháy, đang cháy rựcTên kinh Ādittasutta = kinh "Bị Bốc Cháy"; tên dài quen dùng: Ādittapariyāya Sutta.
sabbatất cảTrong Tương Ưng Sáu Xứ, "tất cả" được định nghĩa là sáu căn và sáu cảnh (phẩm Sabbavagga).
rāgaggi / dosaggi / mohaggilửa tham / lửa sân / lửa siaggi = lửa. Ba ngọn lửa này chính là tam độc tham–sân–si.
cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya, manomắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý — sáu cănBản Minh Châu dùng: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý.
rūpa, sadda, gandha, rasa, phoṭṭhabba, dhammasắc, thinh (thanh), hương, vị, xúc, pháp — sáu cảnh
viññāṇathức (nhãn thức, nhĩ thức...)
samphassa (phassa)xúc — sự tiếp chạm giữa căn, cảnh và thức
vedanā / vedayitacảm thọBa loại: sukha (lạc), dukkha (khổ), adukkhamasukha (bất khổ bất lạc).
nibbidā (nibbindati)nhàm chán, chán lìaKhông phải chán nản buồn bực, mà là hết say mê vì thấy rõ sự thật.
virāgaly tham
vimutti (vimuccati)giải thoát
āsavalậu hoặc — các dòng ô nhiễm ngấm ngầm"Giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ" = chứng quả A-la-hán.
anupādāyakhông chấp thủ, không còn bám giữ
sutavā ariyasāvakavị Đa văn Thánh đệ tử
brahmacariyaPhạm hạnh — đời sống thanh tịnh
Gayāsīsađỉnh núi ở xứ Gayā (sīsa = đầu, đỉnh)Bản Việt quen gọi là “Đầu Voi” — đó là cách giải thích theo truyền thống vì tảng đá có hình đầu voi, không phải nghĩa đen của chữ.

Khuôn năm thứ, lặp sáu lần. Với mỗi căn: căn cháy, cảnh cháy, thức cháy, xúc cháy, và cảm thọ do xúc ấy cháy. Chú ý vế cuối: kể cả cảm thọ lạc cũng đang cháy. Kinh không chỉ nói cái khổ đang cháy — cái vui cũng vậy.

Cháy bằng lửa gì. “Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si.” Ba ngọn ấy là nhiên liệu. Rồi Ngài kể tiếp: bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não — đó là hậu quả. Đọc kỹ thì thấy hai vế khác nhau: một bên là cái đốt, một bên là cái cháy ra.

Gốc khổ không nằm ngoài đời. Kinh không nói thế gian là xấu. Nó chỉ vào sáu căn của chính mình — chỗ tiếp xúc giữa ta và đời. Lửa cháy ngay tại chỗ tiếp xúc ấy, không cháy ở ngoài kia.

Chữ nibbidā — đừng dịch thành chán đời. Bản Việt dịch nhàm chán. Nhưng nghĩa là hết bị cuốn, như người đã biết trò ảo thuật làm thế nào. Rồi ly tham, rồi giải thoát. Ba bước, theo thứ tự, không nhảy được bước nào.

Vì sao một ngàn vị chứng ngay. Kinh ghi: trong khi lời giải đáp đang được nói lên, tâm của một ngàn vị được giải thoát. Đây là một trong những chỗ hiếm hoi ghi lại kết quả tức thì cho cả một hội chúng. Chi tiết ấy nói lên: các vị đã sẵn sàng từ trước; bài kinh chỉ là giọt cuối.

  • “Cháy nghĩa là đời khổ.” Kinh nói cả cảm thọ lạc cũng đang cháy. Không phải chỉ cái khổ.
  • “Nhàm chán là chán đời.” Nibbidāhết bị cuốn, không phải buồn bã hay bỏ cuộc.
  • “Phải xa lánh thế gian.” Kinh chỉ vào sáu căn của mình, không bảo bỏ đi đâu cả.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy hình ảnh lửa: khi giận thì trong người nóng như thế nào? Các em tả được ngay.
  • Ngành Thiếu. Sáu căn. Cho các em kể một lần mắt thấy rồi sinh chuyện, một lần tai nghe rồi sinh chuyện.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chỗ cảm thọ lạc cũng cháy. Bàn: vì sao cái vui cũng là chỗ cháy?
  • Vì sao cảm thọ lạc cũng bị nói là đang cháy?
  • Lửa cháy ở đâu — ngoài đời hay nơi sáu căn?
  • Nhàm chán khác chán nản ở chỗ nào?
  • Một ngàn vị chứng ngay. Điều đó nói gì về sự chuẩn bị?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.